Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở việt nam trong thời kỳ đổi mới - Pdf 45

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HÀ NỘI

LƢƠNG THỊ HUYỀN TRANG

MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ
VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HÀ NỘI

LƢƠNG THỊ HUYỀN TRANG

MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ
VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 62 22 03 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Hữu Toàn

Hà Nội – 2017

2.2. Mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ
nghĩa ......................................................................................................................... 47
2.2.1. Bối cảnh thời kỳ đổi mới và tính tất yếu phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát
triển văn hóa ở Việt Nam .......................................................................................... 47
2.2.2. Nội dung mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt
Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...... 51
Tiểu kết chƣơng 2 .................................................................................................... 64
Chƣơng 3. MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT
TRIỂN VĂNHÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI - THỰC
TRẠNGVÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA .............................................................. 66
3.1. Thành tựu trong thực hiện mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát
triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới .................................................. 66


3.1.1. Tăng trưởng kinh tế tạo nền tảng vật chất, trở thành động lực cho sự phát
triển văn hóa trong công cuộc đổi mới ..................................................................... 66
3.1.2. Phát triển văn hóa giữ vai trò nền tảng tinh thần, mục tiêu, động lực, nhân tố
điều tiết cho tăng trưởng kinh tế ............................................................................... 79
3.2. Hạn chế trong thực hiện mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát
triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới ....................................................................... 86
3.2.1. Mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam chủ yếu theo chiều rộng, chưa bền vững,
chưa tương xứng với vai trò là cơ sở vật chất, động lực cho phát triển văn hóa .............. 86
3.2.2. Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, xuống cấp về đạo đức và bất cập
trong giáo dục trên lĩnh vực văn hóa kìm hãm tăng trưởng kinh tế ........................ 90
3.3. Nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế và một số vấn đề đặt ra trong
việc thực hiện mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa ở
Việt Nam trong thời kỳ đổi mới ........................................................................... 100
3.3.1. Nguyên nhân của những thành tựu ............................................................... 100
3.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế .................................................................. 102

Tiểu kết chƣơng 4 .................................................................................................. 147
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN ............................................................................................................... 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 152
PHỤ LỤC ............................................................................................................... 164


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đời sống con người bao gồm hai phương diện vật chất và tinh thần. Đời sống
vất chất và đời sống tinh thần có thể được hiểu là kinh tế và văn hóa, là những hoạt
động thực tiễn cơ bản của con người. Phát triển xã hội được đánh giá trên nhiều tiêu
chí, trong đó có hai tiêu chí cơ bản là tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa.
Chúng cùng tồn tại trong một thể thống nhất, tác động qua lại, cùng quy định lẫn
nhau và hướng đến mục đích chung là vì sự phát triển của con người. Sự hài hòa
giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa cũng là một trong những tiêu chí để
đánh giá sự phát triển toàn diện, bền vững của một quốc gia.
Về mặt lý luận, đề tài này đã và đang được quan tâm trong thời gian gần đây.
Vấn đề tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa là mối quan hệ tương đối phức tạp,
có nhiều ý kiến xoay quanh, nhiều vấn đề mới nảy sinh trong điều kiện và tình hình
hiện nay. Để thực hiện thành công mục tiêu phát triển bền vững đất nước, việc gắn
tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa cần phải được nghiên cứu sâu và luận giải
dựa trên những cơ sở khoa học, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và việc thực hiện quan triệt Nghị quyết
của Đảng vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo.
Về mặt thực tiễn, ở Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới đã nhiều lần khẳng định
tư tưởng về sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa. Thực chất của
mối quan hệ này là đảm bảo mục tiêu gắn kết một cách hài hòa, cân đối giữa tăng
trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện xã hội.

nghĩa thực dụng ngày càng lớn. Đó là nghịch lý diễn ra trong quá trình phát triển đất
nước, cùng với tăng trưởng kinh tế ngày càng cao là sự xuất hiện những hiện tượng đi
xuống của văn hóa, đặc biệt trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống và giáo dục.
Như vậy, có thể thấy sự thiếu đồng bộ, chưa tương xứng giữa tăng trưởng kinh
tế và phát triển văn hóa vẫn còn là vấn đề bức xúc, cấp thiết đòi hỏi cần có sự
nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn nữa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Để phục vụ
cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kiên định mục tiêu định hướng chủ
nghĩa xã hội trong công cuộc đổi mới của nước ta, cần có sự nhận thức khách quan,
đầy đủ và toàn diện về mặt lý luận, thực trạng và giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn
mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa tại Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới. Do đó, chúng tôi chọn “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát
triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” là đề tài luận án nghiên cứu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu

Từ những luận giải lý luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát
triển văn hóa, luận án làm rõ thực trạng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
phát triển văn hóa ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp
2


nhằm thực hiện có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn
hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, luận giải một số vấn đề lý luận chung về mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và phát triển văn hóa.
Thứ hai, phân tích, làm rõ thực trạng (thành tựu và hạn chế), nguyên nhân của
thực trạng đó và một số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong những năm đổi mới.
Thứ ba, đề xuất phương hướng, giải pháp mang tính định hướng nhằm thực

Thứ nhất, luận án góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận xoay quanh mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam: khái niệm mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, chủ thể và các nhân tố ảnh hưởng
tới việc thực hiện mối quan hệ này ở Việt Nam.
Thứ hai, luận án phân tích, làm rõ thực trạng (thành tựu và hạn chế), đồng thời
chỉ rõ các nguyên nhân của thực trạng thực hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Thứ ba, luận án đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm thực hiện có
hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam
trong những năm đổi mới tiếp theo.
6. Ý nghĩa của luận án
6.1. Về lý luận:
Luận án góp phần hoàn thiện hơn cách hiểu về mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam hiện nay.
6.2. Về thực tiễn:
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc tư vấn hoạch định các
chính sách về kinh tế và văn hóa của Đảng và Nhà nước, phục vụ nghiên cứu và
giảng dạy triết học về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và văn hóa.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bài viết của tác giả và tài liệu
tham khảo, luận án được trình bày trong 4 chương 11 tiết.

4


Chƣơng 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Các công trình nghiên cứu vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa tăng
trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa

thức có vai trò quyết định. Bằng những luận chứng sâu sắc, A. Toffler đã làm rõ về
tri thức, quyền lực, chủ thể quyền lực, phẩm chất các loại quyền lực trong truyền
thống, từ quyền lực bạo lực đến quyền lực của cải, cho đến quyền lực của tương lai
– quyền lực tri thức. Từ đó, tác giả chỉ ra sự trỗi dậy của một quyền lực trên quy mô
toàn cầu – quyền lực tri thức - nguồn gốc của mọi phương thức sáng tạo của cải mới
làm thay đổi lịch sử nền văn minh vật chất, văn minh tinh thần của nhân loại trong
thời đại ngày nay và trong tương lai. Tư tưởng của ông đã tuyệt đối hóa vai trò của
tri thức trong sự phát triển xã hội.
Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, đã diễn ra nhiều biến cố trong
đời sống chính trị quốc tế. Nhà chính trị học người Mỹ Samuel P.Huntington đã viết
cuốn sách “Sự va chạm của các nền văn minh” (Nxb Lao động, Hà Nội, 2003), đề
cập tới sự đụng độ của các nền văn minh sẽ là diễn biến cuối cùng của xung đột
toàn cầu trong thế giới hiện đại. Sau Chiến tranh lạnh, thế giới không phân chia
thành Bắc – Nam, Đông – Tây theo hệ tư tưởng mà gắn với các nền văn minh. Sự
thống trị của các nước phương Tây trên nhiều lĩnh vực bắt đầu suy giảm, nhường
chỗ cho sự phát triển của nhiều nước, đặc biệt là châu Á, trong đó có Việt Nam.
Mối liên hệ giữa các quốc gia được hình thành trên một nền tảng mới. Những tranh
chấp về sắc tộc, tôn giáo, phong trào tôn giáo cực đoan, chủ nghĩa khủng bố quốc
tế, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, phân hóa giàu nghèo… Như vậy, nguồn gốc của các
xung đột không còn là kinh tế nữa mà chuyển sang là văn hóa với bản sắc riêng biệt
của các quốc gia dân tộc. Theo đó, các quốc gia cần có những chính sách văn hóa
phù hợp.
Thomas L. Friedman trong tác phẩm “Chiếc Lexus và cây Ôliu” đã đưa ra cái
nhìn xuyên suốt về hệ thống quốc tế mới đang làm biến đổi tình hình thế giới hiện
nay. Toàn cầu hóa đã thay thế Chiến tranh lạnh, mang lại sự hội nhập về tư bản,
công nghệ, thông tin xuyên qua biên giới quốc gia. Qua những câu chuyện và những
chuyến đi khắp nơi, ông đã mô tả cặn kẽ sự xung đột giữa chiếc Lexus và cây Ôliu
– tượng trưng cho quan hệ căng thẳng giữa hệ thống toàn cầu hóa hiện đại với
những sức mạnh văn hóa, địa lý, truyền thống và cộng đồng từ ngàn xưa. Tác giả
mô tả cặn kẽ sự chống đối mãnh liệt do toàn cầu hóa gây ra cho những con người bị

Công trình KX.05-01 “Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu và phát triển văn
hóa con người và nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế” (2006), Hồ Sỹ Quý làm chủ nhiệm đã chỉ rõ chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam trong nghiên
cứu về phát triển văn hóa, con người trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập
quốc tế. Công trình phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người; mối quan

7


hệ giữa văn hóa với con người của một số nhà tư tưởng như Nguyễn Trãi, Nguyễn
Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trường Tộ; một số đức tính quý báu của người Việt Nam: cần
cù, hiếu học, thông minh, đoàn kết, nghĩa tình…; đồng thời khái quát bộ công cụ đo
lường chỉ số phát triển con người của UNDP, chỉ số phát triển của con người Việt
Nam; phân tích sự tác động của khoa học và công nghệ tới sự phát triển của văn hóa.
Công trình “Các mô hình tăng trưởng kinh tế” (2008) của Trần Thọ Đạt (chủ
biên), Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân đã nghiên cứu và khái quát về mặt lý luận các
mô hình tăng trưởng kinh tế vĩ mô nổi tiếng nhất trên thế giới, từ truyền thống tới
hiện đại. Tác giả nghiên cứu thực nghiệm tăng trưởng kinh tế chủ yếu ở các nước
công nghiệp phát triển, nguồn lực tăng trưởng kinh tế của thời kỳ đầu công nghiệp hóa.
Đồng thời công trình giải thích một số “thần kỳ” trong tăng trưởng ở Đông Á và đi vào
phân tích các nguồn tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 1986 – 2002.
Công trình “Tác động của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh,
thành phố Việt Nam” (2008) của Trần Thọ Đạt, Đỗ Tuyết Nhung, Nxb Đại học
Kinh tế quốc dân nghiên cứu về vai trò và tác động của vốn con người đối với tăng
trưởng kinh tế. Nghiên cứu chủ yếu được thể hiện trong cuốn sách đã khẳng định
vốn con người là một trong những yếu tố quan trọng nhất của nhân tố đầu vào trong
tăng trưởng; định nghĩa về tăng trưởng kinh tế và các nhân tố quyết định tăng
trưởng kinh tế, áp dụng hàm sản xuất mở rộng để kiểm chứng vai trò của con người
đến tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2000 – 2004 ở Việt Nam.
Công trình “Một số vấn đề cần quan tâm trong việc giải quyết mối quan hệ

tế” (2010), Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị Quốc gia, đã phân tích một cách sâu sắc
khái niệm văn hóa, các bộ phận hợp thành văn hóa, bản chất và chức năng của văn
hóa, các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình hình thành văn hóa dân tộc, sự phát triển
của văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay ở nước ta nói riêng và văn
hóa với phát triển và tiến bộ xã hội nhìn từ cục diện văn hóa châu Á – Thái Bình
Dương nói chung trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, qua thực tiễn Đông Á.
Nghiên cứu về phát triển văn hóa, tác giả khẳng định sự thống nhất giữa mục tiêu và
động lực của văn hóa trong phát triển và tiến bộ xã hội. Từ việc làm rõ những vấn
đề lý luận trên, tác giả nghiên cứu văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế,
nghiên cứu sâu về sự biến đổi cục diện văn hóa khu vực châu Á – Thái Bình Dương
qua thực tiễn Á Đông.
Công trình “Kinh tế phát triển” (2011), Phạm Ngọc Linh, Nguyễn Thị Kim
Dung, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân đã khái quát những vấn đề lý luận về tăng
trưởng và phát triển kinh tế, tập trung nghiên cứu bản chất, nội dung của tăng
trưởng kinh tế và phát triển kinh tế. Phân tích các nguồn lực của tăng trưởng kinh

9


tế, chủ yếu tập trung phân tích sự tác động của các yếu tố đầu vào đến tăng trưởng
kinh tế như lao động, tài nguyên thiên nhiên và môi trường, vốn và khoa học công
nghệ. Các mô hình tăng trưởng kinh tế, mô hình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế,
phân tích lý thuyết về tăng trưởng kinh tế hiện đại và vai trò của ngoại thương trong
phát triển kinh tế.
Công trình “Vai trò động lực tinh thần cho phát triển bền vững của các giá trị
văn hoá truyền thống” của Đặng Hữu Toàn đăng tại Tạp chí Triết học số 7
(242)/2011, tr. 3 – 11, khẳng định trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng Cộng
sản Việt Nam đã khẳng định, văn hóa nói chung các giá trị văn hóa truyền thống nói
riêng là nền tảng tinh thần của xã hội, là cái làm nên cốt cách, bản lĩnh Việt Nam.
Với tư cách đó, văn hóa Việt Nam nói chung, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa

phải gắn kết hài hòa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển, thường xuyên chăm lo, bảo
vệ tài nguyên môi trường; (2) Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với
phát triển tri thức, sự kết hợp chặt chẽ kinh tế với văn hóa, văn hóa với kinh tế theo
phương châm: kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế trở thành nhu cầu, đòi
hỏi khách quan; (3) Phát triển kinh tế là cơ sở, là tiền đề vật chất để thực hiện chính
sách xã hội; mục đích phát triển kinh tế thống nhất với mục tiêu phát triển xã hội,
đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người, vì con người.
Công trình “Quan điểm nhất quán của Đảng ta về mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật” trên Tạp chí Tuyên giáo
số 2 năm 2012, của tác giả Hà Đăng, đã khái quát nhận thức chung của Đảng về
mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và văn học, nghệ thuật
là mối quan hệ mang tính bản chất của một chế độ xã hội nhất định. Mối quan hệ
này cũng là một trong những nội dung cơ bản của đường lối đổi mới của những chủ
trương, chính sách mà Đảng ta đã thực hiện nhằm thúc đẩy sự phát triển đất nước.
Từ cơ sở lý luận đó, tác giả đề cập tới vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và văn học, nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới
của Đảng qua các văn kiện, nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng từ năm 1986 đến
nay, việc đưa các quan điểm của Đảng về mối quan này vào cuộc sống qua các lĩnh
vực cụ thể.
Công trình “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, văn
học, nghệ thuật trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2012), Hội đồng lý
luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương, Nxb Chính trị Quốc gia, gồm tập
hợp những bài tham luận của các tác giả nghiên cứu quan điểm của Đảng về mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật, thực

11


trạng của mối quan hệ này và cụ thể ở một số tỉnh thành phố trong cả nước. Từ thực


12


Công trình “Một cách nhìn toàn cầu hóa cho sự phát triển văn hóa” trên Tạp
chí Triết học số 3 năm 2013, của Nguyễn Tài Đông, cho rằng việc phát triển văn
hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng cần có cách nhìn dân tộc và toàn cầu. Với
cách tiếp cận toàn cầu hóa, văn hóa dân tộc có khả năng bộc lộ rõ hơn đặc trưng văn
hóa của mình thông qua quá trình mở rộng, hội nhập. Đặc trưng của văn hóa được
thể hiện qua nhiều hình thức, trong đó có tính sáng tạo và tính nhân văn. Bước vào
hội nhập quốc tế, văn hóa Việt Nam khi đối thoại với các nền văn hóa khác cần phải
giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc bên cạnh việc giao lưu và học hỏi nền văn hóa
các nước trên thế giới.
Công trình “30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam” (2016) của Đinh Thế
Huynh, Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông (đồng
chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia đã khái quái quát bối cảnh quốc tế, trong nước và
đường lối đổi mới của Đảng trong 30 năm (1986- 2016). Các tác giả phân tích và
đánh giá công cuộc đổi mới trên một số lĩnh vực chủ yếu trong đó có phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hóa và xây dựng con
người Việt Nam. Các vấn đề trên được các tác giả nghiên cứu riêng biệt kháo sát từ
lý luận đến thực tiễn và đưa ra thành tựu, hạn chế, nguyên nhân chủ quan và khách
quan của kết quả đạt được. Từ đó, công trình đưa ra phương hướng và giải pháp
thực hiện công cuộc đổi mới, trong đó đặc biệt nhấn mạnh giải pháp về hoàn thiện
xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam.
Qua khảo sát tình hình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy các công trình trên
nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa và mối quan hệ giữa chúng từ
nhiều phương diện khác nhau. Có những công trình nghiên cứu dưới góc độ kinh tế
hay văn hóa, hoặc triết học… Điều đó có thể khẳng định có nhiều cách tiếp cận
khác nhau trong việc nghiên cứu lý luận về vấn đề này. Có những tư tưởng chỉ đề
cao phương diện tăng trưởng kinh tế mà không coi trọng chỉ tiêu phát triển văn hóa;

hưởng tới tăng trưởng kinh tế. Các công trình đều cho thấy đây là mối quan hệ biện
chứng, có sự tác động qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa. Đã có
những cách nhìn mới khi đánh giá văn hóa trở thành nguồn lực trực tiếp của tăng
trưởng kinh tế thể hiện ở nguồn vốn con người, ở khoa học kỹ thuật… Tuy nhiên,
khi nghiên cứu vấn đề này tại Việt Nam, chưa có tác giả nào chỉ ra các nhân tố ảnh
hưởng tới việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn
hóa; cũng như chưa đề cập tới chủ thể của việc giải quyết mối quan hệ này.
Từ những nhận định trên đây, có thể thấy mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế và phát triển văn hóa là một vấn đề phức tạp và có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Những công trình khoa học về vấn đề này là những cơ sở lý luận để NCS có thể kế
thừa và phát triển trong luận án ở những chương tiếp theo.
14


1.2. Các công trình nghiên cứu về thực trạng thực hiện mối quan hệ giữa
tăng trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam
Công trình “Gắn phát triển con người Việt Nam hiện đại với giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc” trên Tạp chí Triết học, số 4 năm 2000, Đặng Hữu
Toàn; công trình “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với quá
trình thực hiện chiến lược phát triển con người, xây dựng và phát triển nguồn lực
con người cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, trên Tạp chí Triết học, số 1 năm
2001, Đặng Hữu Toàn đều khẳng định xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc cần phải gắn với việc phát triển con người Việt Nam; các tiêu chí về
phát triển con người Việt Nam hiện đại, định hướng xây dựng và phát triển nguồn
nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ mới.
Công trình “Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” (2006),
Nguyễn Văn Nam (chủ biên), Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, đã hệ thống hóa
những vấn đề liên quan đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, đánh
giá thực trạng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1991 – 2005. Những thành
tựu nổi bật về tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam được phân tích từ tốc độ tăng

Công trình “Thành tựu trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam 25 năm
đổi mới” (1986 - 2010)” (2010), Phạm Duy Đức (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc
gia, được biên soạn từ kết quả nghiên cứu của đề tài “Phát triển văn hóa Việt Nam
giai đoạn 2011 - 2020” thuộc chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp Nhà
nước, mã số KX04.13/06-10. Trong đó, các tác giả tập trung làm rõ: (1) bối cảnh
kinh tế - xã hội tác động đến quá trình xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam giai
đoạn 1986 – 2010; (2) thực trạng và bài học kinh nghiệm trong các lĩnh vực xây
dựng con người, phát triển văn hóa, xây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống, phát triển
giáo dục – đào tạo, khoa học và công nghệ, đời sống văn học, nghệ thuật,…; (3) bài
học và kinh nghiệm trong quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa thời kỳ đổi mới, việc
thực hiện các chính sách văn hóa trong kinh tế và chính sách kinh tế trong văn hóa.
Công trình “Nhận thức về vấn đề phát triển văn hóa Việt Nam toàn diện, thống
nhất trong đa dạng trong thể chế cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
trên Tạp chí Triết học, số 10 năm 2011 của Đỗ Huy, đã khái quát thực tiễn phát
triển văn hóa Việt Nam 25 năm đổi mới: nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng. Đó là nền văn hóa của cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa tạo thành một chỉnh thể hữu cơ. Tác giả đưa ra một số thực trạng như:
(1) văn hóa Việt Nam chưa phát triển toàn diện, chưa gắn bó chặt chẽ với thể chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa; (2) Các quá trình phát triển nền kinh tế thị
trường trong bối cảnh hội nhập với thị trường tự do trên thế giới đang diễn ra tấp
nập, song cơ chế định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng ta hiện nay lại không đủ

16


mạnh để khắc phục những tiêu cực, những rủi ro, những khủng hoảng do cơ chế thị
trường đem lại.
Công trình “Truyền thống và hiện đại trong phát triển văn hóa và con người ở
nước ta hiện nay” trên Tạp chí Tuyên giáo số 6 năm 2011, của Trần Văn Bính, đã


nhận định, sau 25 năm đổi mới, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng
trên tất cả các lĩnh vực. Bên cạnh sự tăng trưởng liên tục về kinh tế còn tồn tại một
sự yếu kém đáng lo ngại: năng suất lao động, chất lượng hiệu quả kinh tế, nguy cơ
tụt hậu so với khu vực và thế giới, văn hóa xã hội có nhiều mặt xuống cấp trong tư
tưởng, đạo đức, lối sống, tình trạng tiêu cực, tội phạm xã hội gia tăng. Để đảm bảo
sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, Đảng ta đã đưa ra Nghị quyết Trung
ương 5 (khóa VIII) chiến lược phát triển văn hóa song song với chiến lược phát
triển kinh tế.
Công trình “Tính dân tộc, hiện đại và nhân văn của quá trình xây dựng nền
văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay” trên Tạp chí Triết học, số
4 năm 2013, của Cao Thu Hằng, khẳng định trong thế giới hiện đại ngày nay, toàn
cầu hóa là một xu thế khách quan, làmnảy sinh nhiều vấn đề của tất cả các quốc gia,
dân tộc. Trong đó, về lĩnh vực xây dựng và phát triển văn hóa phụ thuộc vào đặc
thù, định hướng phát triển của mỗi quốc gia. Quá trình xây dựng và phát triển văn
hóa Việt Nam mang tính dân tộc, hiện đại, nhân văn, giúp Việt Nam giữ gìn bản sắc
dân tộc, tạo động lực cho quá trình hiện đại hóa, phát triển con người Việt Nam toàn
diện, góp phần tạo ra sự đa dạng văn hóa, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con
người với con người, con người với tự nhiên, đảm bảo sự phát triển bền vững của
đất nước.
Công trình “Những vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn
2011- 2020” (2013), Lê Quốc Lý (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, tập
trung nghiên cứu những vấn đề mô hình tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam dựa trên
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khảo sát và đánh giá kinh tế Việt Nam
sau hơn 26 năm đổi mới – hiện trạng và những vấn đề đặt ra dựa trên việc đánh giá
mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời kỳ 1991 – 2010, hiện thực các mô
hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong quá trình đổi mới, các nghịch lý trong mô
hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và một số kỳ vọng tăng trưởng kinh tế trong
giai đoạn 2011 – 2015. Đặc biệt công trình đề cập tới vấn đề nhận diện lạm phát
ở Việt Nam hiện nay, giải quyết an sinh xã hội trong bối cảnh lạm phát cao,

triển toàn diện con người Việt Nam là nhiệm vụ vô cùng quan trọng quyết định sự
phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu về thực trạng việc giải quyết mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới, có thể nhận thấy đây là một vấn đề khá rộng và có nhiều quan điểm khác nhau.
Có các công trình nghiên cứu về thực trạng tăng trưởng kinh tế, có công trình
nghiên cứu về thực trạng phát triển văn hóa. Đề cập trực tiếp tới thực trạng mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam chưa có nhiều
công trình. Có những công trình nghiên cứu thực trạng mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế với một lĩnh vực thuộc văn hóa như: đạo đức, lối sống, giáo dục, văn
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status