Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở việt nam trong thời kỳ đổi mới - Pdf 45

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
QUAN ĐẾNĐỀ TÀI LUẬN ÁN ............................................................................... 5
1.1. Các công trình nghiên cứu vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa tăng trƣởng
kinh tế và phát triển văn hóa ................................................................................... 5
1.2. Các công trình nghiên cứu về thực trạng thực hiện mối quan hệ giữa tăng
trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam ................................................ 15
1.3. Các công trình nghiên cứu về phƣơng hƣớng và giải pháp thực hiện mối
quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa..................................... 20
1.4. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án ....................... 24
Chƣơng 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VÀPHÁT
TRIỂN VĂN HÓA - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ............................................ 26
2.1. Khái niệm tăng trƣởng kinh tế, phát triển văn hóa, mối quan hệ giữa tăng
trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa .................................................................... 26
2.1.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế ........................................................................ 26
2.1.2. Khái niệm phát triển văn hóa .......................................................................... 34
2.1.3. Khái niệm mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ........ 42
2.2. Mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ
nghĩa ......................................................................................................................... 47
2.2.1. Bối cảnh thời kỳ đổi mới và tính tất yếu phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát
triển văn hóa ở Việt Nam .......................................................................................... 47
2.2.2. Nội dung mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt
Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...... 51
Tiểu kết chƣơng 2 .................................................................................................... 64
Chƣơng 3. MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT
TRIỂN VĂNHÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI - THỰC
TRẠNGVÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA .............................................................. 66
3.1. Thành tựu trong thực hiện mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát
triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới .................................................. 66

chủ nghĩa xã hội ...................................................................................................... 119
4.2. Một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng
trƣởng kinh tế với phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới ....... 121


4.2.1. Nâng cao nhận thức, hoàn thiện cách thức tổ chức thực hiện Đảng lãnh đạo,
Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ trongthực hiện mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế với phát triển văn hóa ..................................................................... 121
4.2.2. Tạo nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ..................... 126
4.2.3. Thực hiện đổi mới đồng bộ trên lĩnh vực tăng trưởng kinh tế và phát triển văn
hóa, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa với xây dựng nền văn hóa thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ
và khoa học.............................................................................................................. 134
4.2.4. Phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của kinh tế
thị trường tới phát triển văn hóa và xã hội ............................................................. 139
4.2.5. Tăng cường hội nhập quốc tế về kinh tế gắn với phát triển văn hóa và hội
nhập văn hóa ........................................................................................................... 143
Tiểu kết chƣơng 4 .................................................................................................. 147
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN ............................................................................................................... 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 152
PHỤ LỤC ............................................................................................................... 164


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đời sống con người bao gồm hai phương diện vật chất và tinh thần. Đời sống
vất chất và đời sống tinh thần có thể được hiểu là kinh tế và văn hóa, là những hoạt
động thực tiễn cơ bản của con người. Phát triển xã hội được đánh giá trên nhiều tiêu


bảo an sinh xã hội, tăng cường phúc lợi xã hội và cải thiện đời sống nhân dân…”
[37, tr.271]. Như vậy, có thể nhận thấy, Đảng ta đã chủ trương kết hợp mục tiêu
tăng trưởng kinh tế với mục tiêu phát triển văn hóa, vì sự phát triển bền vững của
đất nước, hướng tới mục tiêu của phát triển toàn diện, hướng tới con người và vì
con người - một mục đích nhân văn cao đẹp.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau 30 năm tiến hành đổi mới toàn diện đất nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã giành được những thành tựu rất
quan trọng: nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, đạt mức tăng trưởng khá cao, đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, dân chủ trong xã hội
tiếp tục được mở rộng, chính trị xã hội ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững.
Nhìn chung, diện mạo đất nước có nhiều thay đổi tạo điều kiện, tiền đề nâng cao thế
và lực để nước ta phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ đổi mới. Song, trên thực tế,
chúng ta mới chỉ tập trung nhiều cho đổi mới và tăng trưởng kinh tế, chưa quan tâm
thực sự và tương xứng việc phát triển văn hóa, xây dựng con người. Đó chính là
nguyên nhân sâu xa của tình trạng nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc trong xã hội về sự
suy thoái tư tưởng, xuống cấp về đạo đức, lối sống, nguy cơ về sự phát triển của chủ
nghĩa thực dụng ngày càng lớn. Đó là nghịch lý diễn ra trong quá trình phát triển đất
nước, cùng với tăng trưởng kinh tế ngày càng cao là sự xuất hiện những hiện tượng đi
xuống của văn hóa, đặc biệt trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống và giáo dục.
Như vậy, có thể thấy sự thiếu đồng bộ, chưa tương xứng giữa tăng trưởng kinh
tế và phát triển văn hóa vẫn còn là vấn đề bức xúc, cấp thiết đòi hỏi cần có sự
nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn nữa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Để phục vụ
cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kiên định mục tiêu định hướng chủ
nghĩa xã hội trong công cuộc đổi mới của nước ta, cần có sự nhận thức khách quan,
đầy đủ và toàn diện về mặt lý luận, thực trạng và giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn
mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa tại Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới. Do đó, chúng tôi chọn “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát
triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” là đề tài luận án nghiên cứu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận:
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của lý thuyết cổ điển về tăng
trưởng kinh tế, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam, các công trình khoa học nghiên cứu về mối quan hệ giữa giữa
tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận án, tác giả sử dụng phương pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và các phương pháp: lịch sử - logic, phân
tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp khái quát hóa, tiếp cận hệ thống,

3


phương pháp tiếp cận tổng hợp và liên ngành để phân tích việc giải quyết mối quan
hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa…
5. Đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, luận án góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận xoay quanh mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam: khái niệm mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, chủ thể và các nhân tố ảnh hưởng
tới việc thực hiện mối quan hệ này ở Việt Nam.
Thứ hai, luận án phân tích, làm rõ thực trạng (thành tựu và hạn chế), đồng thời
chỉ rõ các nguyên nhân của thực trạng thực hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Thứ ba, luận án đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm thực hiện có
hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam
trong những năm đổi mới tiếp theo.
6. Ý nghĩa của luận án
6.1. Về lý luận:
Luận án góp phần hoàn thiện hơn cách hiểu về mối quan hệ giữa tăng trưởng

Năm 2003, Hội nghị bàn tròn các Bộ trưởng giáo dục họp ngày 09-10/10/2003 tại
trụ sở UNESCO ở Paris đã đưa ra thông cáo “Hướng tới các cộng đồng tri thức”.
Thông cáo nhấn mạnh, xã hội tri thức là con đường nhân văn hóa quá trình toàn cầu
hóa, bảo đảm quyền con người, nhân phẩm và đoàn kết với nguyên tắc: tự do ngôn
luận, mọi người được tiếp cận với thông tin và tri thức, tôn trọng nhân phẩm, đa
dạng văn hóa, đa dạng ngôn ngữ, giáo dục có chất lượng cho mọi người, đầu tư vào
khoa học và công nghệ, chấp nhận thông hiểu các hệ thống tri thức khác nhau.
Nhà tương lai học Alvin Toffler cho rằng lịch sử phát triển của xã hội loài
người là sự thay thế các nền văn minh với bộ ba tác phẩm “Thăng trầm quyền lực”,
“Cú sốc tương lai” “Làn sóng thứ ba” (Nxb Thanh niên, 2002). Sau khi phân chia
tiến trình lịch sử của nhân loại thành các giai đoạn mang những đặc trưng khác nhau
dựa vào yếu tố công cụ kỹ thuật trong nền sản xuất với ba làn sóng văn minh: văn
minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh tin học mà sự phát triển của tri

5


thức có vai trò quyết định. Bằng những luận chứng sâu sắc, A. Toffler đã làm rõ về
tri thức, quyền lực, chủ thể quyền lực, phẩm chất các loại quyền lực trong truyền
thống, từ quyền lực bạo lực đến quyền lực của cải, cho đến quyền lực của tương lai
– quyền lực tri thức. Từ đó, tác giả chỉ ra sự trỗi dậy của một quyền lực trên quy mô
toàn cầu – quyền lực tri thức - nguồn gốc của mọi phương thức sáng tạo của cải mới
làm thay đổi lịch sử nền văn minh vật chất, văn minh tinh thần của nhân loại trong
thời đại ngày nay và trong tương lai. Tư tưởng của ông đã tuyệt đối hóa vai trò của
tri thức trong sự phát triển xã hội.
Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, đã diễn ra nhiều biến cố trong
đời sống chính trị quốc tế. Nhà chính trị học người Mỹ Samuel P.Huntington đã viết
cuốn sách “Sự va chạm của các nền văn minh” (Nxb Lao động, Hà Nội, 2003), đề
cập tới sự đụng độ của các nền văn minh sẽ là diễn biến cuối cùng của xung đột
toàn cầu trong thế giới hiện đại. Sau Chiến tranh lạnh, thế giới không phân chia

vốn văn hóa và tính bền vững, thảo luận về sự sáng tạo trong việc sản xuất các sản
phẩm văn hóa và dịch vụ, văn hóa trong phát triển kinh tế, các ngành công nghiệp
văn hóa và chính sách văn hoá. Từ đó, ông khẳng định văn hóa là nguồn lực trực
tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội.
Cuốn sách “The Economics of Cultural Policy” (Kinh tế học về chính sách
văn hóa, Cambridge, Cambridge University Press, 2010) David Throsby cho rằng
sự hiểu biết về bản chất của cả kinh tế và giá trị văn hóa được tạo ra bởi khu vực
văn hóa là điều cần thiết để làm chính sách hiệu quả. Ông phê phán các chính sách
văn hóa truyền thống, nặng về hỗ trợ tài chính cho nghệ thuật, cho di sản văn hóa,
thể chế kinh viện như bảo tàng, triển lãm. Chính sách văn hóa đang thay đổi, chú
trọng vào những ngành công nghiệp sáng tạo. Muốn xây dựng chính sách tốt cần
dựa vào quan điểm giá trị kinh tế và giá trị văn hóa đều được tạo bởi lĩnh vực văn
hóa. Cuốn sách là tài liệu tổng quát đầu tiên về ứng dụng của lý thuyết kinh tế và
phân tích cho các lĩnh vực rộng lớn của chính sách văn hoá.
Ở Việt Nam vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa và mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa cũng được quan tâm nghiên
cứu, đặc biệt trong những thập kỷ gần đây:
Công trình KX.05-01 “Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu và phát triển văn
hóa con người và nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế” (2006), Hồ Sỹ Quý làm chủ nhiệm đã chỉ rõ chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam trong nghiên
cứu về phát triển văn hóa, con người trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập
quốc tế. Công trình phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người; mối quan

7


hệ giữa văn hóa với con người của một số nhà tư tưởng như Nguyễn Trãi, Nguyễn
Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trường Tộ; một số đức tính quý báu của người Việt Nam: cần
cù, hiếu học, thông minh, đoàn kết, nghĩa tình…; đồng thời khái quát bộ công cụ đo
lường chỉ số phát triển con người của UNDP, chỉ số phát triển của con người Việt


Công trình “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, văn nghệ
trong thời kỳ đổi mới” (2010), Đinh Xuân Dũng (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia,
là một phần kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học “Văn học, nghệ thuật Việt Nam
trong quá trình thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội” bao gồm tập hợp các bài viết của các nhà khoa học tham gia đề
tài, chú trọng tìm hiểu một số mốc quan trọng trong quá trình lãnh đạo của Đảng
trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ từ đổi mới đến nay qua các văn kiện, cương lĩnh
của Đảng. Các tác giả đã trình bày quan điểm của Đảng về văn hóa, văn nghệ, từ
đó, đưa ra quan điểm lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với phát triển văn
hóa trong thời kỳ đổi mới. Trong đó, chú trọng tập trung mọi nguồn lực xây dựng
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phát triển toàn diện, đa
dạng; Đảng chủ trương xử lý đúng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát
triển văn hóa và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội trong từng bước và trong từng
chính sách phát triển; Văn hóa Việt Nam góp phần trực tiếp nuôi dưỡng, xây dựng
và phát triển nhân cách con người Việt Nam.
Công trình “Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc
tế” (2010), Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị Quốc gia, đã phân tích một cách sâu sắc
khái niệm văn hóa, các bộ phận hợp thành văn hóa, bản chất và chức năng của văn
hóa, các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình hình thành văn hóa dân tộc, sự phát triển
của văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay ở nước ta nói riêng và văn
hóa với phát triển và tiến bộ xã hội nhìn từ cục diện văn hóa châu Á – Thái Bình
Dương nói chung trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, qua thực tiễn Đông Á.
Nghiên cứu về phát triển văn hóa, tác giả khẳng định sự thống nhất giữa mục tiêu và
động lực của văn hóa trong phát triển và tiến bộ xã hội. Từ việc làm rõ những vấn
đề lý luận trên, tác giả nghiên cứu văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế,
nghiên cứu sâu về sự biến đổi cục diện văn hóa khu vực châu Á – Thái Bình Dương
qua thực tiễn Á Đông.
Công trình “Kinh tế phát triển” (2011), Phạm Ngọc Linh, Nguyễn Thị Kim
Dung, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân đã khái quát những vấn đề lý luận về tăng

Công trình “Xây dựng và phát triển văn hóa trong cơ chế kinh tế thị trường”
của Trần Văn Bính trên Tạp chí Tuyên giáo số 3 năm 2011, đã khẳng định Việt
Nam từ bỏ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường là một hiện tượng hợp quy
luật. Nhờ đó, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, chính trị đạt được một
số thành tựu, đặc biệt là trong lĩnh vực tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, cùng với sự
tăng trưởng kinh tế là sự suy thoái về đời sống tinh thần, đặc biệt trên lĩnh vực tư
tưởng, đạo đức, lối sống. Do đó, cần phải có nhận thức đúng về bản chất của kinh tế

10


thị trường và bản chất của văn hóa. Thực tế đặt ra yêu cầu phát triển kinh tế phải đi
đôi với phát triển văn hóa, nhằm thực hiện các mục tiêu văn hóa là con đường tất
yếu để đạt tới sự phát triển toàn diện về kinh tế xã hội của đất nước.
Công trình “Phát triển kinh tế gắn với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ tài
nguyên môi trường” đăng trên Tạp chí Tôn giáo, số 7 năm 2012 của tác giả Phùng
Hữu Phú đã khẳng định: (1) mối quan hệ cơ bản của phát triển bền vững đất nước là
phải gắn kết hài hòa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển, thường xuyên chăm lo, bảo
vệ tài nguyên môi trường; (2) Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với
phát triển tri thức, sự kết hợp chặt chẽ kinh tế với văn hóa, văn hóa với kinh tế theo
phương châm: kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế trở thành nhu cầu, đòi
hỏi khách quan; (3) Phát triển kinh tế là cơ sở, là tiền đề vật chất để thực hiện chính
sách xã hội; mục đích phát triển kinh tế thống nhất với mục tiêu phát triển xã hội,
đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người, vì con người.
Công trình “Quan điểm nhất quán của Đảng ta về mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật” trên Tạp chí Tuyên giáo
số 2 năm 2012, của tác giả Hà Đăng, đã khái quát nhận thức chung của Đảng về
mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và văn học, nghệ thuật
là mối quan hệ mang tính bản chất của một chế độ xã hội nhất định. Mối quan hệ

Đảng” (2013), Đỗ Ngọc Anh, Đỗ Thị Minh Thúy đã làm rõ Nghị quyết Đại hội XI
của Đảng, trên lĩnh vực nhận thức mới về văn hóa, định hướng phát triển các lĩnh
vực văn hóa. Công trình đề cập tới một số vấn đề lý luận về phát triển văn hóa như:
vấn đề xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh hiện nay;
vấn đề phát triển văn hóa trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh của phát
triển đất nước; vấn đề phát triển văn hóa toàn diện thống nhất trong đa dạng, quan
điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa.
Công trình “Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và chuyển đổi
phương thức phát triển kinh tế ở Trung Quốc” (2013), Hội đồng lý luận Trung
ương, Nxb Chính trị Quốc gia là công trình tổng hợp những bài tham luận của các
nhà nghiên cứu lý luận, các chuyên gia về kinh tế của hai nước Việt Nam và Trung
Quốc tại Hội thảo lần thứ tám giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản
Trung Quốc. Nội dung của cuốn sách đề cập tới một số vấn đề lý luận về tăng
trưởng kinh tế, mô hình tăng trưởng kinh tế, cơ sở lý luận của yêu cầu cơ cấu lại
nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và chuyển đổi phương thức phát triển kinh
tế ở hai nước, những đặc điểm cơ bản của quá trình này, cũng như trao đổi kinh
nghiệm của mỗi nước trong quá trình phát triển.

12


Công trình “Một cách nhìn toàn cầu hóa cho sự phát triển văn hóa” trên Tạp
chí Triết học số 3 năm 2013, của Nguyễn Tài Đông, cho rằng việc phát triển văn
hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng cần có cách nhìn dân tộc và toàn cầu. Với
cách tiếp cận toàn cầu hóa, văn hóa dân tộc có khả năng bộc lộ rõ hơn đặc trưng văn
hóa của mình thông qua quá trình mở rộng, hội nhập. Đặc trưng của văn hóa được
thể hiện qua nhiều hình thức, trong đó có tính sáng tạo và tính nhân văn. Bước vào
hội nhập quốc tế, văn hóa Việt Nam khi đối thoại với các nền văn hóa khác cần phải
giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc bên cạnh việc giao lưu và học hỏi nền văn hóa
các nước trên thế giới.

Còn ở Việt Nam, mối quan hệ này đặc biệt được chú trọng trong những thập niên
gần đây. Điều này ảnh hưởng từ quan niệm chung của cộng đồng thế giới, đặc biệt
là của tổ chức Ủy ban quốc gia về thế giới phát triển văn hóa về vị trí, vai trò của
văn hóa trong phát triển bền vững các quốc gia.
Về mặt lý luận, có thể khái quát lại, các công trình trên đã đưa ra cách hiểu về
tăng trưởng kinh tế, các yếu tố ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế; phát triển văn hóa
và nội dung của phát triển văn hóa. Đặc biệt trong khái niệm văn hóa và phát triển
văn hóa có nhiều cách tiếp cận khác nhau: có tác giả tiếp cận văn hóa truyền thống
(tức là văn hóa theo nghĩa gắn với xã hội tiền công nghiệp), cũng có cách hiểu văn
hóa hiện đại (văn hóa thời đại công nghiệp hóa có cả yếu tố văn hóa truyền thống và
văn minh). Do đó, phát triển văn hóa cũng được hiểu theo các cách khác nhau.
Trong luận án này, NCS lựa chọn khái niệm văn hóa theo cách hiểu truyền thống,
nghĩa là các giá trị tạo nên đời sống tinh thần của con người, bao gồm tư tưởng, đạo
đức, lối sống và giáo dục.
Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa chưa thấy có công
trình nào đề cập tới khái niệm mà chỉ khẳng định vai trò của tăng trưởng kinh tế tới
phát triển văn hóa, đồng thời chiều tác động ngược lại của phát triển văn hóa ảnh
hưởng tới tăng trưởng kinh tế. Các công trình đều cho thấy đây là mối quan hệ biện
chứng, có sự tác động qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa. Đã có
những cách nhìn mới khi đánh giá văn hóa trở thành nguồn lực trực tiếp của tăng
trưởng kinh tế thể hiện ở nguồn vốn con người, ở khoa học kỹ thuật… Tuy nhiên,
khi nghiên cứu vấn đề này tại Việt Nam, chưa có tác giả nào chỉ ra các nhân tố ảnh
hưởng tới việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn
hóa; cũng như chưa đề cập tới chủ thể của việc giải quyết mối quan hệ này.
Từ những nhận định trên đây, có thể thấy mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế và phát triển văn hóa là một vấn đề phức tạp và có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Những công trình khoa học về vấn đề này là những cơ sở lý luận để NCS có thể kế
thừa và phát triển trong luận án ở những chương tiếp theo.
14


đoàn kết toàn dân, xây dựng hệ thống chính trị, đổi mới, chỉnh đốn Đảng. Từ đó, tác
giả làm sáng tỏ thêm những nhận thức về bản chất, đặc trưng của chủ nghĩa xã hội
và những phương hướng cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta qua việc
tổng kết lý luận và thực tiễn 20 năm đổi mới.
15


Công trình “Một số thách thức đặt ra trong quá trình tăng trưởng kinh tế vì
mục tiêu phát triển con người ở Việt Nam hiện nay” trên tạp chí Nghiên cứu Châu
Phi và Trung Đông số 12 tháng 12 năm 2008, của tác giả Trần Đức Hiệp đã khái
quát quá trình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong thời gian từ năm 1998 đến năm
2007, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai
đoạn này, đánh giá thực trạng của tăng trưởng kinh tế, đưa ra nguyên nhân của
những thành tựu và hạn chế trên. Đồng thời, công trình đề cập tới thành tựu phát
triển con người dưới tác động của quá trình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, nêu lên
một số thách thức trong quá trình tăng trưởng kinh tế vì mục tiêu phát triển con
người ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Công trình “Thành tựu trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam 25 năm
đổi mới” (1986 - 2010)” (2010), Phạm Duy Đức (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc
gia, được biên soạn từ kết quả nghiên cứu của đề tài “Phát triển văn hóa Việt Nam
giai đoạn 2011 - 2020” thuộc chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp Nhà
nước, mã số KX04.13/06-10. Trong đó, các tác giả tập trung làm rõ: (1) bối cảnh
kinh tế - xã hội tác động đến quá trình xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam giai
đoạn 1986 – 2010; (2) thực trạng và bài học kinh nghiệm trong các lĩnh vực xây
dựng con người, phát triển văn hóa, xây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống, phát triển
giáo dục – đào tạo, khoa học và công nghệ, đời sống văn học, nghệ thuật,…; (3) bài
học và kinh nghiệm trong quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa thời kỳ đổi mới, việc
thực hiện các chính sách văn hóa trong kinh tế và chính sách kinh tế trong văn hóa.
Công trình “Nhận thức về vấn đề phát triển văn hóa Việt Nam toàn diện, thống
nhất trong đa dạng trong thể chế cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”

thuẫn giữa yêu cầu đầu tư tương xứng cho phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần
của xã hội - với hạn chế về điều kiện vật chất, kỹ thuật cho sự phát triển này; (3)
Mâu thuẫn giữa yêu cầu quản lý có hiệu quả, có văn hóa trong phát triển văn hóa
với hạn chế trong quản lý nhà nước về văn hóa; (4) Mâu thuẫn giữa yêu cầu phát
triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần thống nhất của xã hội với sự đa dạng,
khác biệt về trình độ dân trí cũng như quan niệm về văn hóa trong nhân dân.
Công trình “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa: một
số vấn đề lý luận và thực tiễn”, trên tạp chí Tuyên giáo số 1 năm 2012, của Trần
Văn Bính, đã khái quát về mặt lý luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
phát triển văn hóa. Thực trạng của mối quan hệ này được tác giả khảo sát trên
những thành tựu và hạn chế còn tồn tại của tăng trưởng kinh tế, của phát triển văn
hóa, so sánh, đối chiếu với một số chỉ tiêu phát triển của các nước trong khu vực và
trên thế giới để thấy được vị trí của Việt Nam trong quá trình phát triển.
Công trình “Xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và phát
triển văn hóa” trên Tạp chí Tuyên giáo số 2 năm 2012, của Đào Duy Quát, đưa ra
17


nhận định, sau 25 năm đổi mới, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng
trên tất cả các lĩnh vực. Bên cạnh sự tăng trưởng liên tục về kinh tế còn tồn tại một
sự yếu kém đáng lo ngại: năng suất lao động, chất lượng hiệu quả kinh tế, nguy cơ
tụt hậu so với khu vực và thế giới, văn hóa xã hội có nhiều mặt xuống cấp trong tư
tưởng, đạo đức, lối sống, tình trạng tiêu cực, tội phạm xã hội gia tăng. Để đảm bảo
sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, Đảng ta đã đưa ra Nghị quyết Trung
ương 5 (khóa VIII) chiến lược phát triển văn hóa song song với chiến lược phát
triển kinh tế.
Công trình “Tính dân tộc, hiện đại và nhân văn của quá trình xây dựng nền
văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay” trên Tạp chí Triết học, số
4 năm 2013, của Cao Thu Hằng, khẳng định trong thế giới hiện đại ngày nay, toàn
cầu hóa là một xu thế khách quan, làmnảy sinh nhiều vấn đề của tất cả các quốc gia,

và an sinh xã hội, hướng tới xây dựng mô hình tăng trưởng phát triển bền vững với
các mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Tăng
trưởng kinh tế cả về quy mô và chất lượng, đảm bảo cho sự phát triển một nền văn
hóa mới mang tính chất nhân văn, làm cho con người lao động trở thành con người
văn hóa.
Công trình “Tổng kết lý luận và thực tiễn về Phát triển văn hóa, xây dựng con
người Việt Nam qua 30 năm đổi mới” (2014), Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt
Nam (Báo cáo tổng kết 30 năm đổi mới) đã trình bày những vấn đề tiến bộ trong
nhận thức về phát triển văn hóa, xây dựng con người; đánh giá về thực tiễn triển
khai đường lối, chủ trương và chính sách về phát triển văn hóa, xây dựng con người
trong 30 năm đổi mới, đặc biệt là trong 10 năm gần đây, đánh giá những thành tựu,
hạn chế và nguyên nhân của thực trạng trên. Trên cơ sở đó, báo cáo đề cập chín vấn
đề đặt ra đối với việc phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam. Trong đó,
nhấn mạnh hiện tượng lệch lạc về giá trị; hiện tượng xuống cấp về đạo đức, tha hóa
con người; giáo dục và đào tạo xuống cấp và chưa có dấu hiệu thoát ra khỏi khủng
hoảng; thiếu quan hệ gắn kết giữa phát triển văn hóa với tăng trưởng kinh tế, thực
hiện tiến bộ, công bằng xã hội; … Báo cáo khẳng định xây dựng văn hóa và phát
triển toàn diện con người Việt Nam là nhiệm vụ vô cùng quan trọng quyết định sự
phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu về thực trạng việc giải quyết mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới, có thể nhận thấy đây là một vấn đề khá rộng và có nhiều quan điểm khác nhau.
Có các công trình nghiên cứu về thực trạng tăng trưởng kinh tế, có công trình
nghiên cứu về thực trạng phát triển văn hóa. Đề cập trực tiếp tới thực trạng mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam chưa có nhiều
công trình. Có những công trình nghiên cứu thực trạng mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế với một lĩnh vực thuộc văn hóa như: đạo đức, lối sống, giáo dục, văn
19



đảm bảo sự phát triển bền vững. Từ mục tiêu được xác định, tác giả đưa ra ba nhóm
giải pháp: (1) giải pháp về lao động; (2) giải pháp về vốn; (3) Giải pháp về công
20


nghệ. Trong đó, tác giả khẳng định, giải pháp về lao động là quan trọng và quyết
định nhất. Giải pháp này liên quan tới các chính sách và thực hiện hệ thống giáo dục
quốc gia, các vấn đề giải quyết thất nghiệp, thiếu việc làm, về chính sách đối với
người lao động…
Công trình “Xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong hai
mươi năm đổi mới và hội nhập quốc tế - Quan điểm và giải pháp đến 2020” (2010)
(Đề tài KX 03.08/06-10 do Phan Trọng Thưởng làm chủ nhiệm) đã làm rõ các yếu
tố ảnh hưởng tới việc xây dựng và phát triển con người, văn hóa Việt Nam trong
hơn 20 năm thực hiện đổi mới. Công trình đưa ra quan điểm chỉ đạo và hệ thống
giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy xây dựng con người và phát triển văn hóa ở Việt
Nam: Quan điểm chỉ đạo là lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động, xác định kiên trì các mục tiêu xây dựng
phát triển kinh tế xã hội vì con người, chú trọng công tác giáo dục, đào tạo đảm bảo
mục tiêu phát triển bền vững. Các giải pháp: (1) Hoàn thiện hệ thống tri thức về văn
hóa và con người. (2) Cần dựa vào kết quả nghiên cứu của khoa học liên ngành để
nhận thức đảm bảo tính khách quan, đúng đắn, (3) Gắn phát triển kinh tế với phát
triển văn hóa vì mục tiêu chung là phát triển con người, con người được xem là
trung tâm của sự phát triển. (4) Tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp phát triển văn hóa,
phát triển con người.
Công trình “Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011- 2020. Xu hướng và
giải pháp” (Phạm Duy Đức chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010) đã
khái quát quá trình xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam sau 25 năm đổi mới
thể hiện ở các lĩnh vực cơ bản. Từ đó, tác giả nêu lên phương hướng phát triển văn
hóa Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 là phát huy chủ nghĩa yêu nước, truyền thống
đại đoàn kết dân tộc, tinh thần độc lập tự chủ, tự cường trong xây dựng nền văn hóa

mại Việt Nam; (5) Cơ cấu lại nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển theo chiều
sâu; (6) Tái cơ cấu kinh tế cần tập trung cho một số ngành có thế mạnh; (7) Tiếp tục
hoàn thiện thể chế kinh tế để đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam hiện nay; (8)
Chính sách tài khóa và quá trình tái cơ cấu kinh tế ở Việt Nam. Những giải pháp
này chủ yếu nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng của Việt Nam chuyển từ mô hình
tăng trưởng theo chiều rộng sang mô hình tăng trưởng kết hợp hợp lý giữa chiều
rộng và chiều sâu, tận dụng mọi nguồn lực hiện có của đất nước.
Công trình “Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển
văn hóa và văn học nghệ thuật trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước” trên Tạp chí Cộng sản tháng số 1 năm 2012 của tác giả Nguyễn Hồng Vinh
đã phân tích và làm rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa
được thể hiện ở các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Tác giả xác định bảy
giải pháp để giải quyết tốt hơn mối quan hệ này: (1) Tiếp tục giáo dục, nâng cao
nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa; (2) Rà soát chặt chẽ quy hoạch, kế hoạch
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status