BẮC GIANG
I/VỊ TRÍ ĐỊA LÍ:
Bắc Giang là tỉnh miền núi trung du, thuộc vùng Đông Bắc Việt
Nam.Diện tích 3822 km vuông, đứng thứ 34 về diện tích của các tỉnh và
thành phố trong cả nước.
-Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn.
-Phía Tây , Tây Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên
-Phía Nam, Đông nam giáp các tỉnh Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải
Dương.
+Giao thông:
Bắc Giang có một số trục giao thông (đường bộ, đường sắt, đường
thủy) quan trọng của quốc gia chạy qua
-Đường quốc lộ 1A, quốc lộ31, quốc lộ 37 nối Bắc Giang với Lạng
Sơn, Móng Cái, Hải Dương, Hải Phòng
-Đường sắt Hà Nội-Lạng Sơn ra cửa khẩu quốc tế Đồng Đăng, Kép-
Quảng Ninh.
-Đường thủy theo sông Thương, sông Cầu, sông Lục Nam
+Địa hình:
Bắc Giang là tỉnh ở miền trung du giáp với châu thổ đồng bằng Bắc
Bộ. Địa hình đa dạng có thể chia làm 4 khu vực chính:
-Khu vực núi xâm thực nâng lên mạnh thuộc lưu vực sông Lục Nam.
Khu vực này có đỉnh núi cao và hiểm trở của Bắc Giang.
-Khu vực miền đồi trung du được nâng lên yếu, thấp dần từ Bắc –
Nam và từ Đông Tây. Các ngọn đồi ở đây thường có độ cao từ 30-50m.
-Khu vực thềm phù sa cổ bị chia cắt yếu. Địa hình chủ yếu là cá c đồi
thoải lượn sóng, , độ cao dưới 30m.
-Khu vực thềm mài mòn cũ bị chia cắt yếu có những núi sót.
II/ HÀNH CHÍNH:
Tỉnh lị là thị xã Bắc Giang.
Các huyện :Yên thế, Lục Ngạn, Sơn Động, Lục Nam, Tân Yên, Hiệp
Hoà, Lạng Giang, Việt Yên, Yên Dũng.
sản chính làthan, quặng sắt, đồng, sét làm gạch chịu lửa.
+Đất đai: đất sử dụng vào nông nghiệp của Bắc Giang là 101,7 nghìn
ha (26% diện tích), đất lâm nghiệpp có 124,7 nghìn ha (32,6%), đất thành thị
nông thông 11.3 nghìn ha (3,0%), đất chưa sử dụng còn 92,9 nghìn ha.
IV/ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU THUỶ VĂN:
+Khí hậu:
Khí hậu Bắc Giang có tỉnh đa dạng của chế độ hoàn lưu gío mùa nhiệt
đới . Mùa hạ nóng ẩm , mưa nhiều. Nhiệt độ thấp dần từ trung du lên miền
núi. Khí hậu chia làm 2 mùa , mùa nóng từ tháng 5 – tháng 9; mùa lạnh từ
tháng 12- tháng 2 . Lượng mưa trung bình 1300mm – 1800 mm. Nhiệt độ
trung bình năm 24 độ C.
+Thủy văn:
Bắc Giang có 3 con sông lớn là sông Cầu, sông Thương và sông Lục
Nam chảy qua với chiều dài qua tỉnh là 347 km. Chế độ thủy văn gồm 2 mùa
– mùa lũ và mùa cạn. Hệ thống ao hồ đầm có đến 16,3 nghìn ha .Sông ngòi
ao hồ có giá trị về cung cấp nước mà còn về phát triển thủy sản nước ngọt,
dulịch. Trên các sông lớn còn có cát , sỏi làm vật liệu xây dựng
V DÂN CƯ:
Dân số 1.497.000 người (1999), mật độ 391 ngươdi / km vuông. Có 8
dân tộc anh em cùng sinh sống, đông nhất là người Kinh (86%) rồi đến
người Tày, Hoa, Nùng, Sán Chay, Sán Dìu, Dao, Mường …
VI SƠ LƯỢC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN:
Đất Bắc Giang xưa thuộc bộ Vũ Ninh, một trong 15 bộ của nước Văn
Lang.
Năm 1895 tỉnh Bắc Giang được thành lập với 2 phủ là Lạng Giang và
Đa Phúc cùng 6 huyện .
Năm 1962, Bắc Giang cùng Bắc Ninh sát nhập thành tỉnh Hà Bắc.
Năm 1996, tỉnh Hà Bắc tách thành tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh.
VIII VĂN HOÁ DU LỊCH:
Bắc Giang là tỉnh vừa có truyền thống lễ hội văn hoá của đất Kinh
những mạn chạm khắc tinh vi, mang đậm màu sắc dân tộc. Hiện nay đình
còn lưu giữ được một số tài liệu và hiện vật có giá trị nghiên cứu khoa học
và giáo dục truyền thống đó là các bức đại tự, hương án, đồ thờ cúng, một
bài vị bằng đá, một bài vị bằng gỗ son thếp vàng, một ngựa gỗ hai câu đối...
Chùa Đức La (chùa Vĩnh Nghiêm ) thuộc huyện Yên Dũng, được
xây dựng từ đời TrầnChùa được xây dựng vào đầu đời Trần. Chùa nằm trên
một khu đồi thấp, sau lưng là dãy núi Cô Tiên, bên trái sát bờ sông Lục.
Trước mặt chùa là những cách đồng rộng, xen kẽ xóm làng, mờ xa dãy núi
Nham Biền nên thơ
Chùa Phổ Đà: Chùa thuộc xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên là trung tâm
Phật giáo thời nhà Lê, vốn có nguồn gốc từ thời Lý thế kỷ thứ 11. Chùa nằm
trong một khuôn viên rộng có cảnh núi non đẹp, hấp dẫn du khách.
Đình Lỗ Hạnh: Đình ở xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hòa là công trình
kiến trúc độc đáo được xây dựng thời nhà Mạc, thế kỷ thứ 16 (1576.Đình
gồm 5 gian, 2 chái, 48 cột. Chu vi cột cái là 1,42 m cao 4,61 m.Đình Lỗ
Hạnh hiện nay còn giữ được nhiều di vật: bộ tranh gỗ phủ sơn thế kỷ18 - 19
vẽ cảnh Bát Tiên dài 2,23 m (6.7 ft), cao1 m (3 ft); đôi nghè gỗ thế kỷ 17
sơn son thếp vàng, tượng bà chúa Tiên Dung cùng bài vị Cao Sơn Đại
Vương, thần Thành Hoàng làng. Đình Lỗ Hạnh đã được khắc ghi " Đệ Nhất
Kinh Bắc".