Nam Đàn
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nam Đàn hiện nay là một trong 17 huyện của tỉnh Nghệ An, Việt Nam.
Mục lục
• 1 Địa lý
• 2 Hành chính
• 3 Khí hậu
• 4 Thắng cảnh
• 5 Danh nhân và Khoa bảng
• 6 Làng nghề
• 7 Văn hóa truyền thống
• 8 Liên kết ngoài
Địa lý
Nam Đàn
[[Image:[|không|250px]]
Nam Đàn
Địa lý
Huyện lỵ
Thị trấn Nam
Đàn
Vị trí:
Phía Tây Bắc
của thành phố
Vinh
Diện tích: 293,90 km²
Số xã, thị trấn:
23 xã, 01 Thị
trấn
Dân số
Số dân: 159.433
Mật độ:
• Xã Xuân Hòa
• Xã Vân Diên
• Xã Nam Kim
• Xã Khánh Sơn
• Xã Nam Thái
• Xã Nam Anh
• Xã Nam Thanh
• Xã Nam Lộc
• Xã Nam Thượng
• Xã Nam Hưng
• Xã Nam Trung
• Xã Nam Phúc
• Xã Nam Nghĩa
• Xã Nam Xuân
• Xã Nam Cường
• Xã Nam Tân
• Xã Hùng Tiến
Khí hậu
Thời tiết và khí hậu của huyện Nam Đàn tương đối khắc nghiệt. Hằng năm mùa hanh khô kéo dài từ
tháng 1 đến tháng 3 dương lịch, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12. Lượng
mưa hàng năm cao nhất là 2,228 mm, thấp nhất là 1,402 mm, trung bình là 1,428 mm. Bão lụt thường xảy
ra vào tháng 9 và tháng 10 dương lịch, gây úng lụt trên diện tích rộng, có lúc kéo dài trong một thời gian
dài.
Thời tiết và khí hậu của huyện Nam Đàn đã được miêu tả tóm tắt và khá đúng trong 4 câu thơ chữ Hán
sau đây của Hoàng giáp Bùi Huy Bích (1744 – 1818) ghi trong Nghệ An thi tập của ông khi ông làm Đốc
đồng trấn Nghệ An (1777 – 1781) dưới thời vua Lê Hiển Tông:
Hạ lai phong tự hỏa
Thu khứ vũ như ma
Thập nguyệt giang hoàn lạo
Trùng cửu cúc vị hoa
trị kiến trúc và nghệ thuật. Đình Nam Hoa là 4 ngôi đình nổi tiếng của 4 làng phía hữu ngạn sông Lam gồm:
đình Dương Liễu, đình Đông Sơn, đình Hoành Sơn, đình Trung Cần; trong đó đình Hoành Sơn (thuộc xã
Khánh Sơn) và đình Trung Cần (thuộc xã Nam Trung) đã được Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam cấp bằng
Di tích Lịch sử Văn hoá Quốc gia Việt Nam. Hai đình này đều bằng gỗ, được giới chuyên môn liệt vào bậc
nhất trong hệ thống chùa chiền còn ở miền Trung. Tại xã Hồng Long còn lưu giữ phế tích Tháp Nhãn có từ
thế kỷ thứ VII, xây toàn bằng đất nung với kỹ thuật lắp ghép độc đáo.
Danh nhân và Khoa bảng
Đại Nam nhất thống chí ghi: Nam Đàn có núi cao sông sâu nên xuất hiện nhiều người văn võ kiêm toàn.
Bùi Dương Lịch, nhà "Nghệ học" thế kỷ 18, viết: Huyện Đông Thành và huyện Nam Đường vĩ nhân đã
nhiều, mà khí tiết cũng thiên về mặt Cương Cường Quả Cảm. Hippolyte Le Breton, nguyên Hiệu trưởng
Quốc học Vinh đầu thế kỷ 20 viết về Nghệ Tĩnh nói chung: Nghệ Tĩnh trong tất cả mọi thời đại, từ cổ đại
cho đến ngày nay là một cái lò phản kháng và là một cái lò trí thức về truyền thống văn hoá (Le Nghe Tinh
fut de tous temps – de l’antiquité à nos jours – un foyer de rebellion et un foyer intellectuel en ce qui
concerne la tradition culturelle).
Huyện Nam Đàn là quê hương của các danh nhân Việt Nam như Mai Thúc Loan, Phan Bội Châu, Hồ Chí
Minh. Nam Đàn cũng là quê hương của 38 vị đại khoa Việt Nam như: Đình nguyên, Thám hoa Nguyễn
Đức Đạt; Thám hoa Nguyễn Văn Giao đời Nguyễn; Đình nguyên Tiến sĩ Vương Hữu Phu (khoa Canh
Tuất- 1910)..
Những người nổi tiếng ngày nay có: Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm, Nhà khoa học Tạ Quang Bửu, Bộ
trưởng Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Tạ Quang Ngọc, phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng,Thứ Trưởng Bành
Tiến Long, giáo sư hóa học Nguyễn Thạc Cát, Giáo sư Nguyễn Văn Trương (Anh hùng Lao động), Giáo sư
Phạm Như Cương, Giáo sư Nguyễn Thúc Hào, Giáo sư Nguyễn Văn Hường, Giáo sư Nguyễn Thúc Hải,
Trưởng đoàn đàm phát Thương Mại Việt Mỹ Nguyễn Đình Lương, Phó Viện Trưởng VKSND tối cao
Dương Thanh Biểu;Giáo sư Nguyễn Xuân Quỳnh...
Làng nghề
Nam Đàn có các làng nghề như Làng mộc nề Nam Hoa, làng rèn Quy Chính, làng tương Tự Trì, làng
nón Đông Liệt, các làng dệt Xuân Hồ, Xuân Liễu, Tầm Tang, làng nồi đồng Bố Ân, Bố Đức, làng gạch ngói
Hữu Biệt, làng dầu bông, dầu lạc Đan Nhiệm.
Vùng Đại Huệ có sản phẩm chè xanh thơm ngon.