skkn phát huy tính tích cực của học sinh trong kĩ năng đọc – hiểu một số văn bản môn ngữ văn 12 (tập 2) - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị Trường THPT Chu Văn An
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH
TRONG KĨ NĂNG ĐỌC – HIỂU MỘT SỐ VĂN BẢN
MÔN NGỮ VĂN 12 (TẬP 2)

Người thực hiện: LÊ THỊ CẨM
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục:



- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ Văn



- Lĩnh vực khác: ....................................................... 

Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình
 Đĩa CD (DVD)
 Phim ảnh  Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)

Năm học: 2016 - 2017


2


MỤC LỤC
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.........................................................................................4
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN...................................................................4
1. Cơ sở lý luận.................................................................................................4
2. Cơ sở thực tiễn..............................................................................................5
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP.......................................................5
1. Ôn tập kiến thức cũ........................................................................................5
2. Thực hành dạng bài tập đọc – hiểu với ngữ liệu sách giáo khoa...................6
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI................................................................................14
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG....................................15
VI. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................16

3


PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG KĨ NĂNG ĐỌC –
HIỂU MỘT SỐ VĂN BẢN MÔN NGỮ VĂN 12 (TẬP 2)
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Một vài năm trở lại đây, môn Ngữ Văn có những thay đổi mạnh mẽ. Trong
đó, chúng ta phải kể đến sự thay đổi ở khâu ra đề với những định hướng mới mẻ,
mang tính chất phát huy năng lực cảm, hiểu, trình bày suy nghĩ của học sinh nhiều
hơn là ghi nhớ các nội dung học tập như trước kia. Đây là sự thay đổi cần thiết,
phù hợp và có khả năng khơi gợi được tinh thần tự học, tích cực của học sinh. Như
vậy, rõ ràng cả người dạy và người học cũng cần có những động thái tự điều chỉnh
trong quá trình dạy và học để bắt kịp xu thế chung cũng như đảm bảo chất lượng,
hiệu quả học tập đạt ở mức tốt nhất. Và một trong những điểm mấu chốt ở sự thay
đổi ấy chính là cấu trúc của đề thi. Ngoài phần nghị luận xã hội và nghị luận văn

các tác phẩm trong chương trình sách giáo khoa thì cũng cần có sự hướng dẫn cho
học sinh tự tiếp cận và đào sâu kiến thức sau những tiết học được quy định trên lớp
qua việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.
4


Học sinh Trung học phổ thông, đặc biệt là học sinh lớp 12 là lứa tuổi đã có
độ trưởng thành nhất định, đã có những trải nghiệm trong cuộc sống, đã được đào
tạo bài bản trên nhiều phương diện và có mong muốn được chủ động nhiều hơn,
được phát huy nhiều hơn trong quá trình học tập. Vì thế, việc giao nhiệm vụ để
tăng tính tích cực là phù hợp với nguyện vọng của học sinh, tạo điều kiện để giáo
viên có thể khai thác hết những tiềm năng của các em.
Muốn giải quyết được các bài tập Đọc – hiểu với ngữ liệu mới theo dạng đề
thi hiện nay thì học sinh cần trải qua cả một quá trình, trong đó nhất thiết phải có
thời gian ôn luyện và thực hành trên những ngữ liệu mình đã được học. Công việc
này sẽ là bước đệm để các em đủ tự tin, đủ kiến thức, đủ kĩ năng khi làm quen, tiếp
cận và giải quyết các bài tập Đọc – hiểu với ngữ liệu mới hoàn toàn. Hay nói cách
khác, đó chính là bước chuẩn bị tâm thế thuận lợi cho học sinh, giúp các em yên
tâm rằng bài tập với ngữ liệu mới cũng sẽ được giải quyết trên cơ sở dạng bài tập
với ngữ liệu sách giáo khoa mà các em đã được ôn tập kĩ càng.
2. Cơ sở thực tiễn
Đề tài này được áp dụng với học sinh lớp 12A2, đã có sự cân nhắc về đặc
điểm và năng lực học sinh trong lớp. Học sinh của lớp ngoài những ưu điểm như
ham học hỏi, siêng năng, luôn nỗ lực hoàn thành những yêu cầu học tập mà giáo
viên phân công thì còn một số mặt hạn chế nhất định: tính tích cực trong học tập
chưa phát huy hết, nhiều kiến thức cũ học sinh đã quên, học sinh còn ngại ngần, e
dè với các ngữ liệu mới…Do đó, giáo viên nhận thấy cần tổ chức và hướng dẫn
học sinh trên chính những ngữ liệu quen thuộc mà các em được học trước khi cho
học sinh vận dụng những kiến thức đó vào việc giải quyết các bài tập Đọc – hiểu
với ngữ liệu mới.

nhau, học sinh cần tùy cơ ứng biến, nghĩa là phải linh hoạt khi giải quyết chứ
không thể có sự rập khuôn, phải biết vận dụng cái chung được học để giải quyết
cái riêng được hỏi. Đối với thơ, cần chú ý các hình ảnh thơ, ngôn từ của thơ hay
nhịp điệu thơ. Đối với các tác phẩm truyện, giáo viên nên lưu ý học sinh: bất cứ
một chi tiết nhỏ nào (lời nói, cử chỉ, hành động, diễn biến,…) trong tác phẩm cũng
có khả năng hàm chứa một ý nghĩa đặc biệt nên khi thực hành các dạng bài tập liên
quan tới truyện, học sinh nhớ xoáy vào các chi tiết đó để hiểu tác phẩm sâu sắc
hơn. Đây cũng là dạng bài tập được thực hiện theo định hướng của đề tài này, nên
giáo viên cần nhấn mạnh với học sinh.
2. Thực hành dạng bài tập Đọc – hiểu với ngữ liệu sách giáo khoa
b. Công tác chuẩn bị
Đây không phải là một dạng bài tập thông thường theo kiểu “Giáo viên giao
việc, học sinh hoàn thành” mà là dạng bài tập cần có sự sát cánh của giáo viên.
Giáo viên nên theo sát học sinh trong suốt quá trình thực hiện thì mới có thể mang
lại hiệu quả như mục đích đề ra ban đầu dù hiệu quả đó cũng còn chịu sự chi phối
từ nhiều yếu tố như năng lực của học sinh, khả năng truyền cảm hứng của giáo
viên, quỹ thời gian học tập,…Do đó, giáo viên nhất thiết phải vạch sẵn tiến trình
thực hiện với thời gian biểu chi tiết như sau (không tính thời gian ôn tập lại kiến
thức cũ như đã trình bày ở phần trước):
- Một tuần cho việc hướng dẫn chung: Trong một tuần này, giáo viên triển khai
nhiệm vụ cho học sinh, phân nhóm, giao việc, hướng dẫn học sinh những dạng câu
hỏi cụ thể bằng một số đề đã được giáo viên chuẩn bị sẵn để học sinh hình dung
được nhiệm vụ của mình.
+ Phân nhóm, giao việc:
Đối với chương trình Ngữ văn 12, các văn bản văn học trong phạm vi sách
giáo khoa cũng khá đa dạng, phong phú, thường là những văn bản có dung lượng
lớn nên việc rèn luyện và phát triển kĩ năng Đọc – hiểu cho học sinh có thể bắt đầu
từ chính những văn bản đó. Như vậy, giáo viên sẽ định hướng cho học sinh thực
hiện nhiệm vụ học tập một cách cụ thể với các văn bản sách giáo khoa.
Ở dạng bài tập này, giáo viên yêu cầu học sinh chọn một đoạn trích bất kì

Để hỗ trợ cho học sinh trong dạng bài tập này, giáo viên cũng nên có định
hướng cụ thể rõ ràng và triển khai một số dạng câu hỏi trong bài tập mẫu để các
em học sinh nắm “tinh thần”, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình học sinh tự
soạn một bài tập cho mình.
Một số bài tập mẫu được giáo viên triển khai như sau:
Bài mẫu 1. Đọc đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
“Thị lẳng lặng theo hắn vào trong nhà, cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên
mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại. Thị đảo mắt nhìn xung quanh, cái
ngực gầy lép nhô lên, nén một tiếng thở dài. Tràng xăm xăm bước vào trong nhà,
nhấc tấm phên rách sang một bên…Cả hai bỗng cùng ngượng nghịu. Tràng đứng
tây ngây ra giữa nhà một lúc, chợt hắn thấy sờ sợ. Chính hắn cũng không hiểu sao
hắn sợ…” (Trích Vợ nhặt – Kim Lân)
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên là gì?
Câu 2. Nêu nội dung của đoạn văn?
Câu 3. Chỉ ra những từ láy được tác giả sử dụng và cho biết chúng góp phần như
thế nào trong việc diễn đạt nội dung?

7


Câu 4. Hãy lí giải vì sao thị “nén một tiếng thở dài”, cả Tràng và thị “bỗng cùng
ngượng nghịu” và Tràng “thấy sờ sợ”. Từ đó, anh/chị có nhận xét như thế nào về
nghệ thuật miêu tả tâm lí của nhà văn Kim Lân?
Bài mẫu 2. Đọc đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
“Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi
rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những
đám chơi…Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được. Mị không nghe
tiếng sáo nữa. Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên,
gãi chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa…Cả đêm ấy Mị
phải trói đứng như thế. Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức. Lúc lại

8


phần, hai tuần rõ ràng như trên. Giáo viên chia như trên là để giảm bớt áp lực cho
học sinh, tránh làm ảnh hưởng đến các môn học khác.
+ Dạng bài tập này được triển khai sau khi học sinh đã học xong tất cả các
tác phẩm trong phạm vi mà giáo viên dự định cho học sinh thực hành.
+ Trong quá trình thực hành, giáo viên và học sinh linh hoạt xử lí các tình
huống xảy ra sao cho phù hợp nhất với điều kiện thực tế.
c. Sản phẩm của học sinh
Học sinh sau khi được hướng dẫn một số điều cần thiết như đã trình bày ở
trên sẽ tiến hành làm việc nhóm với quỹ thời gian quy định. Sau đó, giáo viên sẽ
trực tiếp gợi mở, trao đổi và góp ý đối với từng nhóm để các em có được những
câu hỏi tốt nhất. Giáo viên tập trung điều chỉnh để học sinh hướng những câu hỏi
vào những vấn đề trọng tâm của tác phẩm, còn phần đáp án không nhất thiết các
em phải đưa ra thật chính xác và đầy đủ vì những bài tập này sẽ được sử dụng để
ôn tập và thực hành cho học sinh cả lớp, nên sau những buổi thảo luận, tranh luận
trên lớp, học sinh và giáo viên mới chốt lại đáp án.
Cụ thể, sản phẩm làm việc của học sinh như sau:
 Nhóm 1: Vợ nhặt – Kim Lân
Đề 1: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc
liền chẳng chuyện trò gì. Ăn xong thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng, thở:
- Hà, ngon! Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố.
Hắn cười:
- Làm đếch gì có vợ. Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe
rồi cùng về.
Nói thế Tràng cũng tưởng là nói đùa, ai ngờ thị về thật. Mới đầu anh chàng
cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi
không, lại còn đèo bòng. Sau không biết nghĩ thế nào hắn tặc lưỡi một cái:

Đề 1: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“Tnú không cứu sống được vợ con. Tối đó, Mai chết. Còn đứa con thì đã
chết rồi. Thằng lính to béo đánh một cây sắt vào ngang bụng nó, lúc mẹ nó ngã
xuống, không kịp che cho nó. Nhớ không, Tnú, mày cũng không cứu sống được vợ
mày. Còn mày thì chúng nó bắt mày, trong tay mày chỉ có hai bàn tay trắng, chúng
nó trói mày lại. Còn tau thì lúc đó tau đứng sau gốc cây vả. Tau thấy chúng nó trói
mày bằng dây rừng. Tau không nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay
không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên. Bọn thanh
niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con, rõ
chưa? Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con
cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!…”.
(Trích “Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính và phong cách ngôn ngữ của đoạn
văn?
Câu 2. Tại sao cụ Mết lại nhắc đi nhắc lại việc Tnú không cứu được vợ con của
mình?
Câu 3. Câu nói của cụ Mết “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!” có ý
nghĩa như thế nào?
Câu 4. Câu “Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy” của cụ Mết nhằm
nhắn nhủ điều gì tới dân làng Xô man?
Đề 2: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà
nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi
10


tên lao thẳng lên bầu trời. Cũng ít có loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế.
Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên
cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay
ra. Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm

nuôi. Còn cái nhà này ba má làm ra đó thì cho các anh ở xã mượn mở trường
học. Chú Năm nói có con nít học ê a có gì nó quét dọn cho. Thằng Út cũng
học ở đây. Mầy chịu không?
11


Việt chụp một con đom đóm, úp trong lòng tay:
- Sao không chịu?
- Giường ván cũng cho xã mượn làm ghế học, nghen?
- Hồi đó má dặn chị làm sao, giờ chị cứ làm y vậy, tôi chịu hết.”
(Trích Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi)
Câu 1. Tính cách của Việt được thể hiện như thế nào qua lời nói, cử chỉ, hành động
trong đoạn đối thoại trên?
Câu 2. Tính cách của chị Chiến được bộc lộ như thế nào qua đoạn đối thoại với
Việt?
Câu 3. Từ câu 1 và câu 2, hãy so sánh nét giống và khác nhau trong tính cách của
Việt và Chiến?
Câu 4. Chỉ ra những từ ngữ mang sắc thái Nam Bộ trong đoạn trích trên? Những
từ ngữ ấy góp phần thể hiện tính cách chung của con người Nam Bộ ra sao?
Câu 5. Phân tích cấu trúc ngữ pháp của câu “Cũng ngay đêm ấy, về tới nhà, trước
khi ngủ, chị Chiến từ trong buồng nói với ra với Việt”.
Đề 2: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“Một loạt đạn súng lớn văng vẳng dội đến ầm ĩ trên ngọn cây. Rồi loạt thứ
hai…Việt ngóc dậy. Rõ ràng không phải tiếng pháo lễnh lãng của giặc. Đó là
những tiếng nổ quen thuộc, gom vào một chỗ, lớn nhỏ không đều, chen vào đó là
những dây súng nổ vô hồi vô tận. Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng
mõ và tiếng trống đình đánh dậy trời dậy đất hồi Đồng khởi. Đúng súng của ta rồi!
Việt muốn reo lên. Anh Tánh chắc ở đó, đơn vị mình ở đó. Chà, nổ dữ, phải chuẩn
bị lựu đạn xung phong thôi! Đó, lại tiếng hụp hùm…chắc là một xe bọc thép vừa bị
ta bắn cháy. Tiếng súng nghe thân thiết và vui lạ…Việt vẫn còn đây, nguyên tại vị

của tôi vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ
thuật. Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện
lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe
tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang
bước ra khỏi tấm ảnh…Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân giậm trên mặt
đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông…”
Câu 1. Tấm ảnh của Phùng chụp được treo trong các gia đình sành nghệ thuật
thể hiện điều gì?
Câu 2. Nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kỹ và nhìn lâu hơn tấm ảnh do
mình chụp thường thấy hiện lên những hình ảnh nào?
Câu 3. Hình ảnh người đàn bà “hòa lẫn trong đám đông” mang ý nghĩa gì?
Đề 3: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở
thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để
cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông
trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho
nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ
không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái
sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó! – Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí
của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười – vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có
lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ.
- Cả đời chị có một lúc nào thật vui không? – Đột nhiên tôi hỏi.
- Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn
no…
Viên chánh án huyện rời chiếc bàn xếp đến phát ngốt lên những chồng hồ
sơ, giấy má. Đẩu đi đi lại lại trong phòng, hai tay thọc sâu vào hai bên túi chiếc
13


quần quân phục đã cũ. Một cái gì vừa mới vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái

Mỗi một hình thức học tập đều có những ưu điểm riêng và mang lại hiệu quả
nhất định. Riêng với hình thức học tập này, người viết nhận thấy một số hiệu quả
nhất định tại lớp 12a2 như sau:
- Về phía học sinh:
Thứ nhất, học sinh có cơ hội để rèn luyện và nâng cao khả năng hợp tác
trong quá trình làm việc nhóm cũng như tinh thần trách nhiệm trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ học tập.
Thứ hai, học sinh có cơ hội được tự mình trải nghiệm công việc ra đề cũng
như giải đề, từ đó hiểu hơn, chia sẻ hơn với những vất vả của giáo viên.
Thứ ba, kĩ năng giải quyết các bài tập Đọc – hiểu (trong chương trình) của
học sinh được cải thiện và nâng cao.
14


Thứ tư, học sinh có thêm cơ hội tiếp cận với nhiều dạng bài tập Đọc – hiểu
do các nhóm khác soạn thảo. Đây cũng là nền tảng vững chắc hỗ trợ cho các em
khi phải đối mặt và giải quyết với các bài tập Đọc – hiểu có ngữ liệu hoàn toàn
mới.
Và cuối cùng, sau những bài tập đó, học sinh sẽ hiểu tác phẩm sâu sắc hơn,
kiến thức được củng cố trên nhiều mặt.
- Về phía giáo viên:
Giáo viên sẽ hiểu rõ hơn về năng lực, trình độ của học sinh qua quá trình các
em thực hiện nhiệm vụ được giao, từ đó có phương hướng, biện pháp phù hợp
trong quá trình giảng dạy để phát huy mặt mạnh và hạn chế những điểm yếu của
học sinh.
Công việc ra đề được san sẻ, giáo viên có thêm tư liệu về các dạng bài tập
Đọc – hiểu để bổ sung vào ngân hàng đề của cá nhân.
Trong quá trình học sinh soạn đề, giáo viên chính là người điều chỉnh những
sai sót, từ đó giáo viên có điều kiện rèn giũa thêm óc phản biện, cùng hợp tác trao
đổi với học sinh để có được những bài tập Đọc – hiểu hoàn thiện, đa dạng hơn về


Lê Thị Cẩm

16


SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Đơn vị .....................................
–––––––––––

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
––––––––––––––––––––––––
................................, ngày
tháng
năm
PHIẾU ĐÁNH GIÁ, CHẤM ĐIỂM, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: .....................................
Phiếu đánh giá của giám khảo thứ nhất
–––––––––––––––––

Tên sáng kiến kinh nghiệm: ..............................................................................................................
...........................................................................................................................................................
Họ và tên tác giả: ................................................................ Chức vụ: .............................................
Đơn vị: ..............................................................................................................................................
Họ và tên giám khảo 1: ............................................................ Chức vụ: ........................................
Đơn vị: ..............................................................................................................................................
Số điện thoại của giám khảo: ............................................................................................................
* Nhận xét, đánh giá, cho điểm và xếp loại sáng kiến kinh nghiệm:
1. Tính mới

–––––––––––

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
––––––––––––––––––––––––
................................, ngày
tháng
năm
PHIẾU ĐÁNH GIÁ, CHẤM ĐIỂM, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: .....................................
Phiếu đánh giá của giám khảo thứ hai
–––––––––––––––––

Tên sáng kiến kinh nghiệm: ..............................................................................................................
...........................................................................................................................................................
Họ và tên tác giả: ................................................................ Chức vụ: .............................................
Đơn vị: ..............................................................................................................................................
Họ và tên giám khảo 2: ............................................................ Chức vụ: ........................................
Đơn vị: ..............................................................................................................................................
Số điện thoại của giám khảo: ............................................................................................................
* Nhận xét, đánh giá, cho điểm và xếp loại sáng kiến kinh nghiệm:
1. Tính mới
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
Điểm: …………./6,0.
2. Hiệu quả
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................


PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: .....................................
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm: ..............................................................................................................
...........................................................................................................................................................
Họ và tên tác giả: ................................................................ Chức vụ: .............................................
Đơn vị: ..............................................................................................................................................
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lý giáo dục

- Phương pháp dạy học bộ môn: ............................... 
- Phương pháp giáo dục

- Lĩnh vực khác: ........................................................ 
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị 
Trong Ngành 
1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô dưới đây)
- Đề ra giải pháp thay thế hoàn toàn mới, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn

- Đề ra giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn 
- Giải pháp mới gần đây đã áp dụng ở đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn vị mình,
nay tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị

2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 5 ô dưới đây)
- Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện trong toàn ngành có hiệu
quả cao 
- Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện tại đơn vị có hiệu quả cao 
- Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện tại đơn vị có hiệu quả 

XÁC NHẬN CỦA TỔ

THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

19


(Ký tên và ghi rõ họ tên)

CHUYÊN MÔN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)

(Ký tên, ghi rõ
họ tên và đóng dấu của đơn vị)

Lê Thị Cẩm

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status