PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN KHẮC HIẾU

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ LẠM PHÁT
TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 62310105

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP.HCM, Năm 2017


Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học kinh tế TP. HCM
Người hướng dẫn khoa học : TS. Nguyễn Hoàng Bảo; TS. Phạm Thị Thu Trà
Phản biện 1 : .....................................................................................................
Phản biện 2 : .....................................................................................................
Phản biện 3 : .....................................................................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại:
..........................................................................................................................
Vào hồi

giờ

ngày

tháng

1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
1.1 Bối cảnh nghiên cứu
1.1.1 Bối cảnh thực tiễn
Thiên tai là hiện tượng phổ biến trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Theo thống kê
của CRED (2017) trong giai đoạn 2000-2016, trung bình một năm trên toàn thế giới
có 75.770 người chết vì thiên tai và thiệt hại về tài sản tương ứng là 113 tỷ USD.
Việt Nam đứng thứ tư về số người bị ảnh hưởng bởi lũ, đứng thứ mười về số người
bị ảnh hưởng bởi gió mạnh và lốc xoáy và đứng thứ mười sáu về số người bị ảnh
hưởng bởi hạn hán so với các nước khác trên thế giới (số liệu từ Văn phòng giảm
nhẹ thiệt hại thiên tai của Liên Hiệp Quốc UNISDR, 2009). Những thiệt hại về
người và tài sản do thiên tai sẽ làm nền kinh tế giảm nguồn cung (Cavallo và cộng
sự, 2014) từ đó có thể dẫn đến mất cân bằng cung cầu đối với một số thị trường
hàng hóa hoặc mất cân bằng tổng cung, tổng cầu đối với toàn bộ nền kinh tế. Mất
cân bằng cung cầu sẽ ảnh hưởng đến sản lượng và giá cả của nền kinh tế. Ngoài ra,
giá cả hàng hóa và sản lượng là hai biến số quan trọng mà nhà nước cần kiểm soát
nhằm vận hành nền kinh tế ổn định và phát triển. Vì vậy, việc nghiên cứu ảnh
hưởng của thiên tai đến giá cả hàng hóa và sản lượng của các quốc gia trên thế giới
nói chung và tại Việt Nam nói riêng là một nhu cầu cần thiết nhằm giúp các nhà
hoạch định có được những chính sách tốt để đối phó với những biến động kinh tế do
thiên tai gây ra.
Tại Việt Nam, những đề tài nghiên cứu về tác động của thiên tai đến các hoạt động
kinh tế chủ yếu tập trung trả lời câu hỏi nhân quả1. Các đề tài không tập trung nhiều
đến khía cạnh dự báo. Từ đó dẫn đến việc thiếu những căn cứ khoa học trong việc
dự báo những tác động trong tương lai của thiên tai và thiếu các căn cứ khoa học
trong việc ra các quyết định chính sách. Từ bối cảnh thực tiễn trên, đề tài này nhằm
lượng hóa tác động của thiên tai đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam,

1

tại Việt Nam, (3) đánh giá tác động của thiên tai đối với thu nhập bình quân đầu
người tại Việt Nam.
2

Lý do có thể là do trong dài hạn có những hạn chế về mặt dữ liệu và những hạn chế về mặt phương pháp.
Ngoài ra, trong dài hạn ta khó có thể tách được các tác động nhiễu dẫn đến kết quả nghiên cứu sẽ ít có ý
nghĩa thống kê


3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, đối tượng nghiên cứu được giới hạn là thiên tai và những tác động
của thiên tai đối với một số biến số kinh tế tại Việt Nam. Thuật ngữ thiên tai sẽ
được định nghĩa chi tiết trong mục 2.1 của đề tài. Đối với phạm vi nghiên cứu, tác
giả giới hạn việc nghiên cứu thiên tai chỉ tại Việt Nam mà không nghiên cứu thiên
tai các các quốc gia khác trên thế giới với mục đích là các hàm ý chính sách đi kèm
với kết quả nghiên cứu sẽ sát với thực tiễn của Việt Nam hơn.
1.4 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
Đề tài sử dụng hai phương pháp định lượng là kiểm soát tích hợp (Synthetic
Control) và phương pháp tự hồi quy vectơ có cấu trúc (SVAR). Dữ liệu cho nghiên
cứu gồm hai phần chính đó là dữ liệu về thiên tai và dữ liệu về các biến số kinh tế.
Dữ liệu về các biến số kinh tế trong nghiên cứu được thu thập chủ yếu từ ba nguồn
đó là Tổng cục Thống kê, Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB).
Dữ liệu về thiên tai được thu thập từ Tổng cục Thống kê, CRED và
DESINVENTAR.
1.5 Ý nghĩa đề tài
Về mặt lý thuyết, đề tài đã kiểm chứng lại sự phù hợp của mô hình tổng cung-tổng
cầu (Keynes, 1936), mô hình IB-EB (Salter, 1959) và mô hình tăng trưởng kinh tế
Solow (1956) trong việc lý giải tác động của thiên tai đối với tăng trưởng kinh tế và

tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ dân cư cho số nhân
khẩu của hộ và chia cho 12 tháng.
2.2 Các mô hình lý thuyết liên quan
Mô hình Solow và tác động của thiên tai trong dài hạn
Trong mô hình Solow (1956), có ba thông số chính ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh
tế trong dài hạn đó là: gA đại diện cho tiến bộ cộng nghệ, gK đại diện cho tăng
trưởng nguồn vốn và gL đại diện cho tăng trưởng lao động. Mankiw và cộng sự
(1992) đã bổ sung thêm yếu tố vốn nhân lực (H) vào mô hình Solow (1956) để phát
triển thành mô hình tăng trưởng nội sinh. Tăng trưởng vốn nhân lực được ký hiệu là


5

gH. Khi thiên tai xảy ra, nó sẽ ảnh hưởng đến gA, gK, gH và gL từ đó dẫn đến ảnh
hưởng đối với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn của một quốc gia.
Mô hình tổng cung-tổng cầu
Khi thiên tai xảy ra tổng cung của nền kinh tế sẽ giảm do những tác động của thiên
tai đến công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Tổng cầu thì ít bị ảnh hưởng sau thiên
tai. Theo mô hình tổng cung-tổng cầu (Keynes, 1936), nền kinh tế sẽ bị giảm sản
lượng và giá cả hàng hóa gia tăng khi thiên tai xảy ra. Với việc sử dụng mô hình
tổng cung-tổng cầu ta đã giải thích được tác động ngắn hạn của thiên tai đối với
tăng trưởng kinh tế và giá cả hàng hóa tại Việt Nam.
Mô hình IB-EB
Theo Salter (1959), một nền kinh tế mở và nhỏ có hai loại hàng hóa chính đó là
hàng hóa ngoại thương (Tradable goods) và hàng hóa phi ngoại thương (Non
tradable goods). Cân bằng bên ngoài (EB) là cân bằng cung cầu đạt được đối với
hàng hóa ngoại thương. Cân bằng bên trong (IB) là trạng thái cân bằng đối với hàng
hóa phi ngoại thương. Kết hợp cân bằng bên ngoài và cân bằng bên trong ta có được
điểm hạnh phúc (bliss point) tại đó nền kinh tế không có lạm phát, thất nghiệp bằng
với thất nghiệp tự nhiên và cán cân ngoại thương cân bằng (không thặng dư, không

trước và sau thiên
tai.

Thiên tai có tác động
làm tăng 0,4% GDP.

Decon
(2004)

Dữ liệu của 350 hộ gia
đình ở vùng nông thôn
Ethiopia từ 1989-1997.

Fixed
effects,
(Hausman
&
Taylor, 1981) và
GMM

Nếu lượng mưa giảm
10% thì tăng trưởng
kinh tế sẽ giảm 1%.

Raddatz
(2007)

Dữ liệu bảng của 39 quốc
gia từ năm 1965-1997



Phương
pháp
generalized method
of moments (GMM)

Thiên tai thiệt hại nhiều
về tài sản thì sẽ làm
tăng sản lượng đầu ra.

Fomby và
cộng sự
(2011)

Dữ liệu bảng của 84 quốc
gia trong giai đoạn 19602007

Phương pháp tự hồi
quy vector có biến
ngoại sinh (VARX)

Hạn hán có ảnh hưởng
tiêu cực trong khi lũ lụt
có ảnh hưởng tích cực
đến tăng trưởng.

Strobl
(2012)

Dữ liệu của 409 hạt nằm

(2014)

Dữ liệu của hơn 11 ngàn
thiên tai xảy ra trên thế
giới từ 1970-2011.

Hồi quy dữ liệu lớn
(meta-regression
analysis)

Thiên tai có ảnh hưởng
tiêu cực đến tăng
trưởng trong ngắn hạn.

Doyle và
Noy (2015)

Dữ liệu chuỗi thời gian
theo quý của New
Zealand từ Q4-1992 đến
Q1-2013

Phương pháp tự hồi
quy vector có biến
ngoại sinh (VARX)

Động đất làm giảm sản
lượng đầu ra và chỉ số
giá tiêu dùng tại New
Zealand.

0,42% GDP.

Noy và
Nualsri
(2007)

Dữ liệu bảng 98 quốc gia
từ 1975-1999

Phương pháp fixedeffects và GMM

Thiên tai gây ra thiệt
hại lớn về người làm
giảm tăng trưởng kinh
tế trong dài hạn

Cavallo và
cộng sự
(2013)

Dữ liệu bảng 196 quốc
gia từ 1970-2008

Phương pháp
Synthetic Control

Thiên tai không ảnh
hưởng đến sản lượng
đầu ra cả trong ngắn
hạn và dài hạn.


Là hiện tượng nước biển ở phía đông Thái Bình Dương có nhiệt độ cao hơn bất thường so với nhiệt độ
trung bình. Điều này làm cho một lượng lớn hơi nước bốc hơi và dẫn đến mưa lớn và lũ lụt ở một số quốc
gia. Ngược lại, một số quốc gia khác lại rơi vào cảnh hạn hán như: Úc, Philippines, Indonesia, Thái Lan và
Việt Nam.


8

Masozera và cộng sự (2007) cho rằng bão Katrina ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu
nhập người dân New Orleans bất kể họ có thu nhập cao hay thấp. Tương tự,
Coffman và Noy (2011) khẳng định bão Iniki có ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập
cá nhân, làm giảm 12% dân số và giảm 15% việc làm của đảo. Ngoài ảnh hưởng
đến thu nhập, thiên tai còn có tác động đến tốc độ tăng thu nhập (Fuente, 2010) và
bất bình đẳng trong phân bố thu nhập (Yamamura, 2015).
Tại Việt Nam, Vũ Băng Tâm và Eric Iksoon Im (2014) khẳng định, thiên tai không
có tác động đến thu nhập bình quân đầu người, nhưng có tác động đồng biến lên
đầu tư nhà ở và hoạt động nội thương tại Việt Nam. Ngược lại, Arouri và cộng sự
(2015) khẳng định thiên tai có tác động tiêu cực đến thu nhập và chi tiêu hộ gia đình
tại Việt Nam. Ngoài thu nhập một số tác giả còn nghiên cứu ảnh hưởng của thiên tai
đến tiền lương của người dân, điển hình là nghiên cứu của Benerjee (2007); Mueller
và Osgood (2009); Shah và Steinberg (2012). Cuối cùng, Shah và Steinberg (2012)
khẳng định trong năm xảy ra hạn hán công việc và tiền lương của người dân nhận
được sẽ ít hơn.
Khi thu nhập bị giảm do tác động của thiên tai người dân có xu hướng điều chỉnh
chi tiêu của mình. Người dân có xu hướng cắt giảm chi tiêu (Arouri và cộng sự,
2015; Khandker, 2007) hoặc chuyển sang tiêu dùng những thực phẩm rẻ tiền hơn và
nhiều calo hơn (Hou, 2010). Người dân cũng có xu hướng chuyển qua tiêu dùng
những sản phẩm do mình từ làm ra (Lê Đăng Trung, 2013).
2.3.4 Tác động thiên tai đến một số biến số kinh tế, xã hội khác

Evans và cộng sự
(2010)
Jensen (2000)
Boustan và cộng sự
(2012)

nhập từ nông nghiệp thì không bị ảnh hưởng từ bão
Damrey
Thiên tai làm tăng tỷ lệ nghèo và làm giảm chỉ số phát
triển con người (HDI) tại Mexico
Thiên tai làm tăng tỷ lệ nghèo tại Peru
Thiên tai liên quan đến địa chất như động đất và lở tuyết
làm giảm vốn con người ở các quốc gia.
Tại các quốc gia phát triển chính phủ chi tiêu nhiều hơn
sau thiên tai, trong khi tại các quốc gia đang phát triển
chính phủ lại chi tiêu ít hơn sau thiên tai
Những hộ gia định có thu nhập thấp ít có khả năng phục
hồi các tài sản bị thiệt hại sau thiên tai và thời gian phục
hồi lâu hơn những hộ gia đình có thu nhập cao hơn
Bão Mitch không có ảnh hưởng đến các tài sản sản xuất
(Productive assets) nhưng có ảnh hưởng làm giảm các
tài sản phi sản xuất (Non-productive assets)
Thiên tai làm giảm tuổi thọ của người dân và phụ nữ bị
giảm tuổi thọ nhiều hơn nam giới
Bão nhỏ (low-severity storm) có ảnh hưởng tích cực đến
tỷ lệ sinh trong khi bão lớn (high-severity storm) có ảnh
hưởng tiêu cực đến tỷ lệ sinh
Những thay đổi đột ngột về lượng mưa làm giảm tỷ lệ đi
học từ 33% đến 50%
Dân số có xu hướng di cư khỏi vùng có nhiều lốc xoáy



11

Gardeazabal (2003) trong một nghiên cứu tác động của những mâu thuẫn chính trị4
lên tăng trưởng kinh tế tại xứ Basque5. Synthetic Control thường được sử dụng để
đánh giá tác động của một sự kiện nào đó lên một biến số nhất định bằng cách đo
lường sự khác biệt đầu ra của hai nhóm: nhóm kiểm soát (control group) và nhóm
xử lý (treatment group). Trong nghiên cứu này, tình huống được chọn là bão Durian
xảy ra vào năm 2006 ảnh hưởng đến các tỉnh phía Nam của Việt Nam. Nhóm xử lý
được chọn là tỉnh Bến Tre, nhóm kiểm soát là các tỉnh khác không bị ảnh hưởng bởi
bão Durian và không bị ảnh hưởng bởi thiên tai lớn nào khác sau bão Durian.

4

Tổ chức ETA được thành lập năm 1959 đòi quyền tự trị cho xứ Basque bằng cách tổ chức khủng bố và bắt
giữ con tin. Đỉnh điểm từ năm 1978-1980, mâu thuẫn đã làm 235 người chết.
5
Thuộc nước Tây Ban Nha


12

CHƯƠNG 4: TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
4.1 Mô hình nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu
4.1.1 Mô hình nghiên cứu
Từ những lược khảo mô hình lý thuyết và từ những nghiên cứu thực nghiệm liên
quan, tác giả đề xuất bảy biến sau đưa vào mô hình nghiên cứu gồm: G, FDI, R,
MX, INF, DAMAGE và DEAD. Trong đó G là tăng trưởng kinh tế làm biến phụ

Để có được một mô hình tốt, không vi phạm các giả định khi hồi quy, tác giả đã đi
kiểm định một số giả định của mô hình như kiểm định phần dư có phân phối chuẩn,
hiện tượng tự tương quan, hiện tượng phương sai sai số thay đổi. Kết quả cho thấy
mô hình không vi phạm các giả định khi thực hiện hồi quy. Do đó, ta có thể sử dụng
mô hình trên để phân tích tác động của thiên tai đối với tăng trưởng kinh tế cũng
như tác động của thiên tai đối với các biến số kinh tế khác.
4.2.2 Kiểm định nhân quả Granger
Từ mô hình SVAR được ước lượng trong phần trên, tác giả đi kiểm định nhân quả
Granger (1969) để đánh giá tác động của thiên tai đến các biến số kinh tế. Kết quả
kiểm định cho thấy những thiệt hại do thiên tai có tác động (nhân quả) đến tăng
tưởng kinh tế với mức ý nghĩa 5%.
4.2.3 Phân tích hàm phản ứng xung
Với độ trễ tối ưu các biến được chọn là hai, tác giả đã phân tích hàm phản ứng xung
(Impulse Response Function) để thấy được tác động theo thời gian của thiên tai lên
tăng trưởng kinh tế và những biến số kinh tế khác với thứ tự các biến được chọn
như sau DAMAGE, DEAD, D(R), INF, D(MX), FDI và G. Phương pháp xác định
(identification) để chuyển từ phương trình rút gọn sang phương trình tổng quát được


14

sử dụng là Cholesky Ordering6. Từ việc phân tích hàm phản ứng xung ta thấy khi
thiệt hại do thiên tai (DAMAGE) tăng lên một độ lệch chuẩn (tương đương 5.474 tỷ
đồng/quý, bằng 0,25%7 GDP năm 2010), tăng trưởng kinh tế (G) sẽ giảm tương ứng
0,6%. Kết quả trên kéo dài bốn quý sau thiên tai.
4.2.4 Kiểm tra tính vững (Robustness) của mô hình
Kết quả cơ bản của chương này là thiên tai có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng
kinh tế tại Việt Nam. Tuy nhiên, kết quả trên có ổn định không khi ta thay đổi một
số thông số của mô hình? Trong phần phân tích tính ổn định cho thấy, kết quả cơ
bản của mô hình tương đối ổn định khi ta thay đổi thứ tự một số biến trong mô hình

5.2 Kết quả nghiên cứu
5.2.1 Tác động của thiên tai đến giá cả hàng hóa nói chung
Kết quả kiểm định tính dừng cho thấy tất cả các biến đều dừng trừ biến biến tỷ giá
EX_RATE. Sau khi lấy sai phân bậc một, biến EX_RATE dừng với mức ý nghĩa là
1%. Tiếp theo, trễ tối ưu của mô hình được lựa chọn là hai (p=2) tương ứng với ba
tiêu chí AIC, LR và FPE. Sau khi ước lượng mô hình, tác giả đã đi kiểm định các
giả định của mô hình hồi quy về phần dư tuân theo phân phối chuẩn, hiện tượng
tương quan chuỗi, hiện tượng phương sai sai số thay đổi. Mô hình không vi phạm
nghiêm trọng các kiểm định trên nên tác giả sử dụng mô hình cho các phân tích tiếp


16

theo. Từ mô hình SVAR được ước lượng trong phần trên, kiểm định nhân quả
Granger được thực hiện để đánh giá tác động của thiên tai đến giả cả hàng hóa. Kết
quả cho thấy, thiệt hại thiên tai có tác động nhân quả đến giá cả hàng hóa với mức ý
nghĩa 1%.
Để thấy được tác động của thiên tai lên giá cả hàng hóa theo thời gian, tác giả đã
phân tích hàm phản ứng xung với cấu trúc mô hình SVAR được xác định thông qua
hai ma trận A và B. Từ hàm phản ứng xung ta thấy, nếu thiệt hại thiên tai tăng một
độ lệch chuẩn (tương đương 27 triệu USD)8 thì giá cả hàng hóa sẽ tăng 0,2% trong
vòng từ 3 đến 5 tháng tiếp theo.
5.2.2 Tác động của thiên tai đến giá cả các loại hàng hóa khác nhau
Để thấy được tác động của thiên tai lên giá cả các loại hàng hóa khác nhau, tác giả
đã sử dụng mô hình SVAR tương tự như phân tích ảnh hưởng của thiên tai lên giá
cả hàng hóa nói chung (CPI của toàn bộ rổ hàng hóa). Kết quả phân tích ta thấy, có
ba nhóm hàng hóa mà giá cả bị ảnh hưởng bởi thiên tai bao gồm: lương thực và
thực phẩm (FOOD), đồ uống và thuốc lá (DRINK), nhà ở và vật liệu xây dựng
(HOUSE). Có năm nhóm hàng hóa mà giá cả không bị ảnh hưởng bởi thiên tai bao
gồm: dược phẩm và y tế (MEDICAL), giáo dục (EDU), văn hóa - giải trí - du lịch

dịch vụ (NAFF_INCOME). Biến độc lập là thiên tai (DISASTER) được đo lường
bằng tài sản thiệt hại.
Kết hợp việc tham khảo các mô hình lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm, tác
giả đề xuất các biến sau đây làm biến giải thích cho thu nhập đầu người tại Việt
9

Bão Durian đổ bộ vào biến đông vào ngày 1 tháng 12 năm 2006, sức gió mạnh nhất lên đến 150 km/giớ.
Theo CRED, bão Durian làm 95 người chết, thiệt hại tài sản là 456 triệu USD. Chi tiết về đường đi của bão
xem phụ lục 6.1.


18

Nam. Doanh số bán lẻ trên đầu người (SALES) làm biến đại diện về phía tổng cầu,
khối lượng hàng hóa được vận chuyển (INFR), diện tích đất trên đầu người
(LAND), nguồn vốn cho các tỉnh (CAP) đại diện cho phía tổng cung, cũng như đại
diện cho đầu vào các yếu tố sản xuất. Số bác sĩ trên đầu người (DOCTOR) và số
học sinh phổ thông trên đầu người (STUDENT) đại diện cho việc đầu tư vào vốn
con người. Hay mô hình nghiên cứu có thể viết lại bằng phương trình như sau:
INCOME = F(DISASTER, SALES, INFR, CAP, DOCTOR, STUDENT, LAND)

6.1.3 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu bao gồm dữ liệu về thiên tai và dữ liệu về các biến số kinh tế
được thu nhập trong giai đoạn 2002-2012. Dữ liệu về thiên tai phục vụ cho việc xây
dựng nhóm kiểm soát, trong khi dữ liệu về các biến số kinh tế sẽ được áp dụng để
đánh giá tác động của thiên tai đối với thu nhập bình quân đầu người. Dữ liệu về
thiên tai được tác giả sử dụng chính là bộ dữ liệu từ “Hệ quản lí thông tin thiên tai”
(Desinventar) do Văn phòng giảm thiểu rủi ro thiên tai thuộc Liên Hiệp Quốc cung
cấp. Đối với dữ liệu về kinh tế, thu nhập bình quân đầu người (INCOME), thu nhập
từ lương (S_INCOME), thu nhập từ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ

2002

2004

2006

2008

2010

2012

year
Năm

Bến
Treunit
treated

Nhóm
kiểm
soát unit
synthetic
control

Hình 6.1: Xu hướng thu nhập bình quân đầu người của Bến Tre so với nhóm kiểm
soát
Nguồn: Phân tích của tác giả
6.2.2 Tác động của bão Durian đến các thành phần của thu nhập đầu người
Kết quả phân tích chi tiết hơn cho thấy bão Durian làm giảm thu nhập đầu người từ

7.2 Những hàm ý chính sách
7.2.1 Những chính sách vĩ mô
Từ kết quả phân tích ta thấy thiên tai làm giảm sản lượng đầu ra và tăng giá cả của
nền kinh tế. Theo lý thuyết tổng cung-tổng cầu (Keynes, 1936) thì kết quả trên là do
sự dịch chuyển của đường tổng cung trong ngắn hạn. Để hạn chế bớt những tác
động trên, nhà nước có thể sử dụng chính sách tài khóa (mở rộng) và chính sách
tiền tệ (mở rộng) để tác động đến đường tổng cầu. Tuy nhiên, việc áp dụng hai
chính sách trên cần rất thận trọng vì chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ có thể
gây ra những hậu quả không mong muốn. Ngoài ra, phải mất một khoảng thời gian
các chính sách trên mới có tác dụng. Do đó, chính sách tài khóa và chính sách tiền


21

tệ chỉ nên áp dụng đối với những thiên tai rất lớn đồng thời đi kèm với những điều
kiện kinh tế nhất định.
7.2.2 Những chính sách cứu trợ sau thiên tai
Thứ nhất, nhà nước cần kêu gọi nhanh chóng cứu trợ từ bên ngoài đối với những
thiên tai lớn và rất lớn khi nguồn lực trong nước không đủ để khắc phục hậu quả
của thiên tai. Thứ hai, cần nhanh chóng khắc phục những thiệt hại về cơ sở hạ tầng
sau khi thiên tai xảy ra nhằm tránh tăng giá cả hàng hóa cục bộ. Đây là tiền đề để
những để những hoạt động cứu trợ sau thiên tai và hoạt động tái thiết phát huy được
tác dụng. Thứ ba, cần can thiệp vào thị trường sau những thiên tai lớn nhằm ổn định
giá cả hàng hóa, tránh việc tăng giá đột biến sau thiên tai. Ưu tiêu số một khi thực
hiện chính sách là can thiệp vào thị trường hàng lương thực, thực phẩm vì đây là
loại hàng hóa tăng giá mạnh nhất. Cuối cùng, các tổ chức cứu trợ nên ưu tiên cứu
trợ những người có thu nhập từ nông-lâm-ngư nghiệp đối với những thiên tai tương
tự bão Durian vì đây là những đối tượng chịu thiệt hại nhiều nhất sau thiên tai.
7.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Ngoài những mặt đã đạt được, nghiên cứu này cũng còn một số hạn chế. Trước tiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status