Tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế và hội tụ thu nhập tại Việt Nam - Pdf 40

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THẾ KHANG

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VÀ HỘI TỤ THU NHẬP TẠI VIỆT NAM
Chuyên Ngành: Tài Chính Ngân Hàng
Mã Số: 62.31.12.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016


Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng
Phản biện 1 :…………………………………………………………………………….
Phản biện 2 : ……………………………………………………………………………
Phản biện 3 : ……………………………………………………………………………
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại
…………………………………………………………………………………………..
Vào hồi……..giờ…….ngày …….tháng……..năm………
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Trường Đại Học Kinh tế TP.HCM


[1]


chính như: Đầu tư công, đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài tác


[2]

động đến tăng trưởng kinh tế và quá trình hội tụ thu nhập trên phạm vi tổng thể Việt
Nam gồm 63 tỉnh thành trong khoảng thời gian 2000 đến 2014. Ngoài ra, trong mô
hình sử dụng các biến kiểm soát có liên quan dựa vào các lý thuyết tăng trưởng kinh tế
và những nghiên cứu thực nghiệm trước đây.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trên cơ sở hàm sản xuất
Cobb-Douglas được mở rộng bao gồm các biến tác động đến tăng trưởng kinh tế theo
như nghiên cứu của Wei (2008), Nguyễn Minh Tiến (2014). Từ đó sẽ đánh giá mức độ
tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế và quá trình hội tụ thu nhập.
1.5. Ý nghĩa khoa học của luận án
1.5.1. Ý nghĩa khoa học
Thứ nhất, luận án sẽ bổ sung bằng chứng thực nghiệm về tác động của đầu tư
công, đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh
tế. Thứ hai, luận án đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm cho trường hợp ở Việt
Nam từ nhận định lý thuyết trong mô hình tăng trưởng tân cổ điển của Solow (1956);
Cass (1965) đó là các nước hoặc khu vực nghèo có xu hướng tăng trưởng kinh tế
nhanh hơn các nước hoặc khu vực giàu có hơn.
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Là bằng chứng thực tiễn có ý nghĩa mang tính cập nhật cho các nhà hoạch định
chính sách trong việc lựa chọn nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là việc phân
bổ nguồn đầu tư trong cơ cấu tổng đầu tư của nền kinh tế làm cơ sở cho việc cân đối
nguồn lực hướng đến việc đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững và giảm khoản cách
giàu nghèo trong xã hội. Nghiên cứu cũng đưa ra một số gợi ý chính sách cũng như đề
xuất một số kiến nghị cụ thể cho Nhà Nước trong việc thực thi chính sách thu hút và
sử dụng vốn đầu tư hiệu quả cho nền kinh tế.

trưởng với tốc độ nhanh hơn so với các nước phát triển vì đặc tính lợi tức biên giảm
dần của vốn trong các mô hình tăng trưởng tân cổ điển. Hơn nữa, các nước nghèo có
thể sao chép các phương pháp sản xuất, công nghệ, và các tổ chức hoạt động của các
nước đang phát triển để có cơ hội “đuổi kịp”.
Tuy nhiên, không phải nước nghèo nào cũng có thể đạt mức tăng trưởng cao,
nếu thu nhập quá thấp, người dân sẽ phải tiêu dùng hết những gì mình làm ra và do
vậy không có tiết kiệm để đầu tư nhằm duy trì mức tư bản trên mỗi lao động khi dân
số tăng và rơi vào một cái bẫy nghèo đói. Đồng thời, các nước hoặc khu vực giàu có
hơn, có điều kiện để phát triển khoa học công nghệ, từ đó lợi tức biên của vốn sẽ tăng
mạnh hơn và nhanh hơn các nước hoặc khu vực nghèo. Điều này dẫn đến hiện tượng
phân tán thu nhập giữa các nước hoặc khu vực.


[4]

2.2. Lý thuyết đầu tư và tăng trưởng kinh tế
2.2.1. Lý thuyết số nhân đầu tư
Lý thuyết mô hình số nhân đầu tư được Keynes nêu trong tác phẩm Lý thuyết
tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ năm 1936. Theo ông, muốn tăng thu nhập
quốc dân (sản lượng quốc gia) thì phải gia tăng đầu tư. Ở đây, ông đã nghiên cứu mối
quan hệ giữa gia tăng đầu tư và gia tăng sản lượng quốc gia và đưa ra khái niệm "số
nhân đầu tư." Số nhân đầu tư (k) thể hiện mối quan hệ giữa gia tăng đầu tư với gia
tăng thu nhập. Nó cho chúng ta biết rằng khi có một lượng thêm về đầu tư tổng hợp,
thì thu nhập sẽ tăng thêm một lượng bằng k lần mức gia tăng đầu tư. Mô hình số nhân
của ông là:
𝑘=

∆𝑌
∆𝐼


tương quan sau đây: 𝑌 = 𝐴. 𝑒 𝑟 𝐾 𝛼 𝐿(1−𝛼)
Trong đó: Y là Sản lượng, 𝐾 𝛼 là Vốn đầu tư, 𝐿(1−𝛼) là lao động và 𝐴. 𝑒 𝑟 là biểu
thị ảnh hưởng của yếu tố công nghệ.
2.3. Lý thuyết hội tụ thu nhập
2.3.1. Những giả thuyết
Hội tụ là một giả thuyết về tốc độ tăng trưởng kinh tế, giả thuyết rằng có một
trạng thái cân bằng duy nhất và cho dù nền kinh tế bắt đầu với mức tư bản trên đầu
người bao nhiêu thì cũng sẽ hội tụ về điểm cân bằng duy nhất đó. Các nước nghèo có
mức tư bản trên đầu người thấp sẽ tăng trưởng nhanh hơn cho đến khi đạt được tỷ lệ
tăng sản lượng và tư bản ở trạng thái cân bằng động. Các nước giàu được thừa hưởng
mức tư bản trên đầu người cao sẽ tăng trưởng thấp hơn cho tới khi mức tư bản trên đầu
người giảm đến trạng thái cân bằng.
Tuy nhiên (Romer, 1986) và (Lucas, 1988) cho rằng không phải nước nghèo
nào cũng có thể đạt mức tăng trưởng cao, nếu thu nhập quá thấp, người dân sẽ phải
tiêu dùng hết những gì mình làm ra và do vậy không có tiết kiệm để đầu tư nhằm duy
trì mức tư bản trên mỗi lao động khi dân số tăng và rơi vào một cái bẫy nghèo đói.
Những nền kinh tế có tỷ suất sinh lợi tăng dần theo qui mô có thể sẽ có thể không đạt
đến mức thu nhập ở trạng thái dừng mà có thể tăng hơn nữa khi mà các đầu tư mới tạo
ra giá trị gia tăng hơn nhiều lần. Do vậy, tăng trưởng kinh tế sẽ không bị giảm đi theo
như giả thuyết của Solow. Hơn nữa, chưa chắc chắn rằng các nước nghèo sẽ tăng
trưởng nhanh hơn các nước giàu, vì tăng trưởng trong thực tế chưa hẳn chậm đi khi thu
nhập tăng, cho nên không có kỳ vọng về sự hội tụ thu nhập.
2.3.2. Phương pháp đánh giá về hội tụ thu nhập
Hội tụ sigma (σ )
Theo Sala-i-Martin (1996a), khái niệm về hội tụ σ có thể được định nghĩa là
"một nhóm các nền kinh tế đang hội tụ nếu sự phân tán của GDP đầu người của các
nền kinh tế có xu hướng giảm dần qua thời gian". Giá trị σ được sử dụng để phản ánh
sự chênh lệch tĩnh trong thu nhập bình quân. Thông thường, nó được đo bằng hệ số
biến thiên (CV) là tỉ số của độ lệch chuẩn giá trị trung bình:
2

tế học tăng trưởng và nguồn số liệu phong phú về các đặc điểm kinh tế, chính trị và xã
hội của các quốc gia, nhiều nghiên cứu thực nghiệm về tác động của đầu tư đến tăng
trưởng kinh tế mới được thực hiện một cách có hệ thống. Tuy nhiên các nghiên cứu lại
có những kết quả trái chiều nhau về tác động các loại đầu tư đến tăng trưởng kinh tế và
hội tụ thu nhập. Một số nghiên cứu tiêu biểu như: Aschauer (1989a), Aschauer
(1989b), Barro (1991), Hadjimichael and Ghura (1995), Akinlo (2004), Jwan and
James (2014), Phạm Thế Anh (2008), Sử Đình Thành (2011a), Sử Đình Thành (2013),
Đặng Văn Cường và Bùi Thanh Hoài (2014),…
2.4.2. Các nghiên cứu về hội tụ thu nhập
Các nghiên cứu của Barro and Sala-i- Martin (1990), (1991), (1992) là những
đóng góp hết sức quan trọng cho lý luận hội tụ kinh tế. Ngoài ra còn có các nghiên cứu


[7]

như: Kim (2001), Wei (2008), Normaz (2008), Phạm Thế Anh (2009), Vojinović et al
(2009), Jianyang (2011),…
Từ những lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước, đồng thời luận án
mong muốn làm rõ vai trò của từng loại nguồn vốn để có cơ sở đánh giá, kiến nghị cho
các nhà hoạch định chính sách trong việc sử dụng hiệu quả nguồn lực cho tăng trưởng
kinh tế và hội tụ thu nhập ở Việt Nam, luận án có thể kết luận một số vấn đề như sau:
(i) Hiện có rất nhiều ý kiến trái chiều về tác động của đầu tư đến tăng trưởng
kinh tế, nghiên cứu thêm về vấn đề này ở gốc độ khác sẽ bổ sung thêm bằng chứng về
mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế;
(ii) Tuy hiện nay đã có một số nghiên cứu về tác động của đầu tư đến tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam, nhưng chỉ xoay quanh về tác động của FDI mà chưa xem
xét nhiều đến tác động của đầu tư công, đầu tư tư nhân đến tăng trưởng kinh tế bằng
dữ liệu bảng và xem xét đồng thời trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn;
(iii) Chưa có nghiên cứu mà trong mô hình phân tích tăng trưởng kinh tế bao
gồm đồng thời 03 loại đầu tư: Đầu tư công; đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư trực

tế thành 03 loại nguồn đầu tư cấu thành là đầu tư nhà nước (si); đầu tư tư nhân trong
nước (di); đầu tư trực tiếp nước ngoài (fdi). Luận án sử dụng hàm sản xuất CobbDouglas để tiến hành xây dựng khung phân tích nghiên cứu. Hàm sản xuất CobbDouglas có dạng:
𝑌 = 𝐹(𝑠𝑖𝑖𝑡 , 𝑑𝑖𝑖𝑡 , 𝑓𝑑𝑖𝑖𝑡 , 𝑙𝑖𝑡 , 𝑥𝑖𝑡 )
Trong đó: Y là thu nhâp của nền kinh tế, chỉ tiêu sử dụng là GDP (Gross
Domestic Product), tổng sản phẩm quốc nội. “l” là lao động, “x” là các yếu tố khác
như độ mở thương mại, chi tiêu thường xuyên của chính quyền địa phương.
3.2.1. Mô hình đánh giá tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế
Các tác giả trên thế giới và Việt Nam, cụ thể là Wei (2008) và Nguyễn Minh
Tiến (2014) khi xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm với những biện chứng của
mình đã đưa thêm các biến giải thích vào mô hình nhằm chứng minh sự tác động của
các nhân tố đến tăng trưởng kinh tế. Luận án tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu
thực nghiệm như sau:


[9]

Mô hình 1. Tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế
𝑔𝑑𝑝𝑖𝑡 =∝ +𝛽1 𝑠𝑖𝑖𝑡 + 𝛽2 𝑑𝑖𝑖𝑡 + 𝛽3 𝑓𝑑𝑖𝑖𝑡 + 𝛽4 𝑠𝑒𝑖𝑡 + 𝛽5 𝑜𝑝𝑒𝑛𝑖𝑡 + + 𝛽6 𝑙𝑏𝑖𝑡 + 𝑒𝑖𝑡
Trong đó: i: là đại diện cho tỉnh/thành gồm 63 tỉnh thành của Việt Nam và t là
năm nghiên cứu từ 2000 đến 2014. Số liệu các biến trong mô hình là số liệu của cấp
tỉnh. Trong đó gdp là biểu hiện cho tăng trưởng kinh tế, luận án sử dụng giá trị gdp
thực bình quân đầu người dùng để phản ánh tăng trưởng kinh tế. Hầu hết các nghiên
cứu thực nghiệm về tác động của đầu tư lên tăng trưởng kinh tế đều sử dụng chỉ tiêu
tăng trưởng gdp bình quân như là dẫn xuất cho tăng trưởng kinh tế (Wei, 2008;
Nguyễn Minh Tiến 2014). si là đầu tư công; di là đầu tư tư nhân; fdi là đầu tư trực tiếp
nước ngoài; se là chi thường xuyên; open là tổng giá trị nhập khẩu và xuất khẩu - biểu
hiện của độ mở thương mại; lb là lao động.
Bảng 3.1. Cách tính và dấu kỳ vọng của các biến trong mô hình
Ký hiệu


Đầu tư tư nhân

Đầu tư tư nhân/ GDP hiện hành

+

Fdi

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Ln FDI/ GDP hiện hành

+

Open

Độ mở thương mại

Ln Xuất khẩu và nhập khẩu/GDP

+

Lb

Lao động

Số lao động/Dân số

+


Trong đó 𝛽 = −(1 − 𝑒 −𝜆𝑡 ); 𝛽 = −1 + 𝑒 −𝜆𝑡 ; 𝛽 + 1 = 𝑒 −𝜆𝑡
Từ đó ta có Ln (𝛽 + 1) = −𝜆𝑡, như vậy: 𝜆 = −

Ln(𝛽+1)
𝑡

Trong đó 𝑔𝑑𝑝𝑖𝑡 , 𝑔𝑑𝑝𝑖0 biểu thị tương ứng cho tăng trưởng kinh tế của kỳ đầu
và cuối của tỉnh i, t là khoảng thời gian (2000 đến 2014). 𝑋𝑖 là các biến khác như độ
mở thương mại, chi tiêu thường xuyên và lao động. Khi β là âm và có ý nghĩa thống kê
thì cho thấy có sự hội tụ trong thu nhập. Có nghĩa là nền kinh tế Việt Nam có xu
hướng hội tụ thu nhập, nếu β>0 thì ngược lại. Giá trị của λ là tốc độ hội tụ thu nhập
(hoặc phân kỳ).
3.3. Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu sử dụng dựa trên khảo sát từ Tổng Cục Thống Kê của 63 tỉnh thành
trong khoản thời gian từ 2000 đến 2014. Số liệu GDP là GDP thực bình quân đầu
người của từng tỉnh thành (triệu/người), giá trị này được lấy trên cơ sở quy đổi giá
GDP hiện hành với chỉ số CPI để khử yếu tố lạm phát. Đồng thời để khử yếu tố lạm
phát của các biến trong mô hình nghiên cứu, đối với các giá trị về đầu tư công, đầu tư
tư nhân trong nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi thường xuyên, độ mở thương mại,
luận án sẽ tính toán bằng tỷ lệ (%) giá trị hiện hành của các biến này trên giá trị GDP


[11]

theo giá hiện hành. Biến lao động được tính trên cơ sở tỷ lệ lao động trên tổng dân số
của địa phương.
3.4. Phương pháp ước lượng
3.4.1. Kiểm định tính dừng dữ liệu bảng (Panel unit root test)
Sử dụng năm loại khác nhau của các bài kiểm tra nghiệm đơn vị dữ liệu bảng
được thực hiện. Đó là Levin, Lin và Chu (2002) còn loại tắt là LLC; Breitung (2000);

giai đoạn nghiên cứu. Việc ước lượng sẽ làm theo trình tự từng bước, tức đưa từng
biến một của từng loại đầu tư vào bên phải của mô hình để đánh giá xem loại nguồn
đầu tư nào có tác động mạnh đến quá trình hội tụ thu nhập bình quân, để từ có có nhận


[12]

xét đánh giá nguồn đầu tư nào hiệu quả cả về tăng trưởng kinh tế và hội tụ thu nhập
trên cơ sở kết hợp với kết quả của mô hình 1. Để đảm bảo độ tin cậy của kết quả
nghiên cứu, luận án tiến hành các kiểm định phương sai thay đổi (Heteroskedasticity
Test: Breusch-Pagan-Godfrey), kiểm định đa cộng tuyến (Variance Inflation Factors)
để tránh kết quả hồi quy giả mạo.

CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Tăng trưởng kinh tế, đầu tư và hội tụ thu nhập tại Việt Nam.
4.1.1. Khái quát tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
Mở cửa, hội nhập đa dạng hóa các loại hình đầu tư để tăng trưởng là chiến lược
được Nhà nước Việt Nam theo đuổi trong thời kỳ này. Bằng các chương trình, chính
sách, chiến lược kinh tế - xã hội, Việt Nam đã đạt được những thành quả to lớn trong
cải biến nền kinh tế, cải biến xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Hướng tới một nền
kinh tế hiện đại, hiệu quả, một xã hội phát triển, công bằng và văn minh. Kết quả này
thể hiện ở các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu cũng như hệ thống luật pháp, văn hóa
cộng đồng ngày càng tiến bộ. Mặc dù vậy, dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính thế giới, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đã giảm đi trong giai đoạn 20082011, chỉ đạt bình quân 6%. Thậm chí, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam sang
năm 2012, chỉ đạt 5,03%, thấp hơn cả mức 5,32% của năm 2009 - năm chịu tác động
mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới.
4.1.2. Tình hình đầu tư ở Việt Nam thời gian qua.
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế nước ta vận hành theo mô hình tăng
trưởng chủ yếu dựa vào yếu tố vốn. Trong mười năm 1991- 2000 tổng số vốn đầu tư là


2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

CV

0.35

0.34

0.32

tỏ nền kinh tế còn chịu nhiều yếu tố tác động khách quan, nội lực nền kinh tế chưa
mạnh, dễ “tổn thương” khi có các yếu tố bên ngoài tác động. Đồng thời, Việt Nam là
đất nước đang phát triển, Chính phủ đã và đang thực hiện chủ trương vùng trọng điểm,
tỉnh trọng điểm về tăng trưởng kinh tế nên phát sinh sự không ổn định trong hệ số biến
thiên thu nhập là điều dễ hiểu.
4.1.5. Quan hệ giữa đầu tư và hội tụ thu nhập
Việc tăng mức đầu tư trong giai đoạn đầu chưa hẳn tạo nên hiệu ứng hội tụ thu
nhập giữa các vùng vì chưa đến giai đoạn năng suất biên giảm dần của vốn đầu tư.
Hoặc quá trình đầu tư phân bố không đồng đều giữa các tỉnh, hoặc do điều kiện địa lý,
khí hậu, trình độ dân trí, phong tục tập quán nên chưa thể đầu tư, và cũng có thể do sự
nhận định chủ quan của chính phủ về việc khai thác thế mạnh của từng tỉnh, từng vùng
nhằm đem lại hiệu quả kinh tế, từ đó mà dẫn đến việc là mặc dù có đầu tư nhưng chưa
tạo sự lan tỏa hiệu quả đầu tư để hội tụ thu nhập.


[14]

4.2. Kết quả nghiên cứu
4.2.1. Tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế
4.2.1.1. Cơ sở lựa chọn dạng hàm
Sử dụng phần mềm Eviews 9.0 xem xét dạng hàm phân phối của các biến. Từ
dạng phân phối này, chọn dạng hàm xấp xỉ phân phối chuẩn để làm cơ sở chọn dạng
hàm của biến. Tất cả các biến thể hiện dưới dạng logarithm có phân phối xấp xỉ phân
phối chuẩn. Ngoại trừ biến “di” là đầu tư tư nhân trong nước và biến “lb” là lao động,
là đã có dạng xấp xỉ phân phối chuẩn trước khi chuyển sang dạng logarithm
4.2.1.2. Thống kê mô tả các biến
Bộ dữ liệu sử dụng trong đề tài là dữ liệu bảng cân bằng với đầy đủ các quan sát
(tỉnh) trong 15 năm từ năm 2000 đến năm 2014.
Bảng 4.2. Thống kê mô tả các biến
LNGDP

945

Observations

LNFDI

LNSE

LNOPEN

LB

2.192.208

-0.97057

2.503.980

3.534.071

5.357.029

1.990.799

0.350657

2.473.244

3.545.646


0.634285

1.278.931

5.736.881

945

945

945

945

945

945

Nguồn: Tác giả tính toán trên cơ sở số liệu của Tổng Cục Thống Kê, với sự hỗ trợ của phần mềm Eviews 9.0.

4.2.1.3. Tương quan giữa các biến
Bảng 4.3. Hệ số tương qua các biến
LNGDP

LNSI

DI

LNFDI


-0.142201

0.603052

-0.382823

-0.180485

DI

0.004269

0.150353

1.000000

0.071882

0.230296

-0.037018

0.209125

LNFDI

0.368899

-0.142201


-0.382823

-0.037018

0.491238

-0.609974

1.000000

0.022387

LB

0.438945

-0.180485

0.209125

0.180378

0.174317

0.022387

1.000000

Nguồn: Tác giả tính toán trên cơ sở số liệu của Tổng Cục Thống Kê, với sự hỗ trợ của phần mềm Eviews 9.0.



286.799

(0.0000)

(1.0000)

( 0.0002)

(0.0004)

(0.0000)

-7.35587

0.79406

-3.19555

193.341

178.950

(0.0000)

( 0.7864)

( 0.0007)

(0.0001)


233.000

(0.0000)

(0.0039)

(0.0000)

(0.0000)

(0.0000)

-6.48460

4.20426

-1.42456

165.206

192.921

(0.0000)

(1.0000)

( 0.0771)

(0.0109)


lnfdi

lnopen

lnse

Lb

-5.96849
(0.0000)

Sai phân bậc
lngdp 1

lnsi

Di

lnfdi

lnopen

lnse

Lb

1.18946

-2.82891


(0.0000)

(0.0000)

(0.0000)

-20.4342

-8.85122

-12.1502

364.112

502.754

(0.0000)

(0.0000)

(0.0000)

(0.0000)

(0.0000)

-22.2330

-13.9983


(0.0000)

(0.0000)

(0.0000)

-23.5486

-7.85594

-15.2950

438.482

654.639

(0.0000)

(0.0000)

(0.0000)

(0.0000)

(0.0000)

-23.5341

-6.62774


(0.0000)

(0.0000)

(0.0000)

LLC

Ghi chú: Số liệu được lấy từ Tổng cục Thống kê, xử lý bằng Eviews 9.0. Giá trị trong () là mức ý nghĩa.

Với mức ý nghĩa 5%, biến “di”, đầu tư tư nhân trong nước không dừng ở bậc
gốc mà dừng ở sai phân bậc 1 I(1), các biến còn lại đều dừng ở bậc gốc I(0). Nhưng
điều quan trọng là tất cả các biến đều dừng ở sai phân bậc 1. Điều đó có nghĩa là dữ
liệu bảng không cùng tích hợp bậc I(1) hoặc I(0). Theo Pesaran et al (1996), Hamuda
et al (2013), các biến trong mô hình không cùng mức liên kết I(1) hoặc I(0) thì áp
dụng thủ tục PMG là thích hợp cho nghiên cứu này.


[16]

4.2.1.5. Kết quả ước lượng tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế
Bảng 4.5. Kết quả ước theo mô hình PMG
Biến phụ thuộc GDP
Tác động ngắn hạn
Biến số

Hệ số

Đầu tư công


0.019827

0.0001

Lao động

-0.012468

0.004893

0.0112

Chi thường xuyên

-0.056258

0.038381

0.1436

Hệ số điều chỉnh về cân bằng dài hạn 𝜑 𝑖

-0.434205

0.038679

0.0000

Tác động dài hạn


Độ mở thương mại

0.019319

0.006265

0.0022

Lao động

0.030277

0.000787

0.0000

Nguồn: Tính toán của tác giả bằng Eviews 9.0 trên cơ sở số liệu của Tổng Cục Thống Kê

Với phương pháp PMG, xử lý bằng Eviews 9.0, ta thấy hệ số điều chỉnh về cân
bằng dài hạn trong dài hạn 𝜑𝑖 = -0.434205 có ý nghĩa thống kê p-value = 0.0000
(

0.066080

0.0063

0.0138

Nguồn: Số liệu của Tổng cục Thống kê và tính toán của tác giả
Hệ số ước lượng 𝛽 là âm và có ý nghĩa thống kê, tức là có bằng chứng về hội tụ
tuyệt đối trong thu nhập bình quân, có nghĩa rằng trong giai đoạn 2000 đến 2014
những vùng ở Việt Nam có thu nhập thấp ở giai đoạn ban đầu có xu hướng tăng nhanh
hơn những vùng có thu nhập ban đầu là cao hơn, với tốc độ hội tụ là 1.38%. Những
vùng nghèo khó ban đầu có thể hưởng được những chính sách ưu đãi hơn của chính
phủ để có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn. Kết quả nghiên cứu này trái ngược với các
nghiên cứu Pham Thế Anh (2009), Hoàng Thủy Yến (2015). Tuy nhiên kết quả lại phù
hợp với lý thuyết tăng trưởng của Solow (1956) được trình bày cụ thể ở chương 2.
Hội tụ có điều kiện 𝜷
Mục tiêu luận án xem xét các loại nguồn đầu tư tác động như thế nào đến quá
trình hội tụ thu nhập ở Việt Nam. Luận án tiến hành thử nghiệm từng bước một như
cách mà Wei (2008) thực hiện nghiên cứu ở Trung Quốc. Trước tiên sẽ đưa từng loại
đầu tư vào bên phải của mô hình 2, rồi sẽ đưa từng cặp đầu tư vào mô hình và cuối
cùng là đưa một lúc ba loại nguồn đầu tư vào. Mục đích để tìm kiếm giá trị 𝛽 tốt nhất
để từ đó nhận xét về sự đóng góp của đầu tư vào quá trình hội tụ thu nhập ở Việt Nam.
Kết quả được thể hiện ở bảng 4.7.


[18]

Bảng 4.7. Kết quả ước tính hội tụ có điều kiện
Hệ số

0.0212

Hệ số di

0.003826

0.004331

0.3806

Tốc độ hội tụ ( 𝜆)

0.012118

-0.275469

0.067059

0.0001

Hệ số Lnfdi

0.038402

0.011730

0.0018

Tốc độ hội tụ ( 𝜆)



0.004249

0.004348

0.3324

Tốc độ hội tụ ( 𝜆)

0.015298

Mô hình có đầu tư công và FDI
𝐻ệ 𝑠ố 𝐿𝑛𝑔𝑑𝑝𝑖0 (𝛽)

-0.304253

0.075891

0.0002

Hệ số Lnsi

-0.051547

0.063000

0.4165

Hệ số Lnfdi


Hệ số Lnfdi

0.037685

0.012071

0.0028

Hệ số di

0.001211

0.004132

0.7706

Tốc độ hội tụ ( 𝜆)

0.020729

-0.570942

0.120376

0.0000

Hệ số Lnsi

0.104453


0.044370

0.2435

-0.000653

0.010527

0.9507

Mô hình ba nguồn đầu tư và các biến kiểm soát
𝐻ệ 𝑠ố 𝐿𝑛𝑔𝑑𝑝𝑖0 (𝛽)

Hệ số Lnopen
Hệ số lb
Tốc độ hội tụ ( 𝜆)

0.056411

Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu Tổng cục Thống kê

Tất cả hệ số ước lượng trong mô hình có Lngdpi0 (β) đều âm và có ý nghĩa
thống kê (P-value
chứng đóng góp mới về lý thuyết đầu tư và tăng trưởng kinh tế mà các nghiên cứu
trước đây đã từng thực hiện. Ba loại nguồn đầu tư trong mô hình nghiên cứu đều cho
thấy có đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế ở các góc độ khác nhau.
Bệnh cạnh đó, luận án tìm kiếm bằng chứng về vấn đề hội tụ thu nhập bình
quân đầu người, cũng như vai trò của các loại đầu tư đến quá trình thu hẹp khoảng
cách giàu nghèo ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu khẳng định sự đúng đắn về nhận


[21]

định rằng các nước, vùng nghèo ban đầu có mức tăng trưởng cao hơn các nước, vùng
có bước đầu giàu có hơn, dẫn đến quá trình hội tụ trong tương lai được nêu trong lý
thuyết tăng trưởng của Solow (1956).
Bảng 5.1.Tóm tắt kết quả các kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
Giả

Phát biểu

Kết quả

Kiểm định

thuyết
H1

H2

H3

Đầu tư công có tác động cùng chiều đến tăng

ngược chiều trong ngắn hạn

Độ mở thương mại có tác động cùng chiều đến

Cùng chiều trong dài hạn và

tăng trưởng kinh tế

ngược chiều trong ngắn hạn

Chi thường xuyên của nhà nước có tác động
cùng chiều đến tăng trưởng kinh tế

Chấp nhận

Chấp nhận

Chưa có bằng chứng

5.2. Các hàm ý chính sách về đầu tư ở Việt Nam
5.2.1. Đầu tư công trong nền kinh tế
Cần xác định rõ mục tiêu đầu tư công là dựa trên vai trò của Nhà nước trong
phát triển kinh tế, xã hội, chủ yếu cung cấp các dịch vụ, hàng hoá công phục vụ dân
sinh. Nhà nước chỉ đầu tư vào các lĩnh vực: Quốc phòng, an ninh, cơ sở hạ tầng phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội cho cộng đồng (cầu đường, sân bay, cảng, cơ sở y tế, giáo
dục,…). Người quyết định đầu tư những dự án này là: Chính phủ hay Thủ tướng Chính
phủ, các bộ, địa phương (cấp tỉnh hay cấp cơ sở). Bên cạnh đó cũng cần xác định rõ
phạm vi đầu tư công và thẩm quyền, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân được Nhà
nước phân công, giao quyền quyết định cụ thể. Đó là cơ sở cho bảo đảm hiệu quả của
hoạt động đầu tư công.

văn hóa, có lý tưởng.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực phải gắn với nâng cao chất lượng chăm sóc
sức khỏe người dân, chính sách lương - thưởng, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất
lượng và hiệu quả chăm sóc sức khỏe, đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh
gay gắt và yêu cầu cường độ lao động cao.
Thứ tư, cải thiện và tăng cường thông tin về các nguồn nhân lực theo hướng
rộng rãi và dân chủ, làm cho mọi người thấy được tầm quan trọng của vấn đề phát


[23]

triển nguồn nhân lực ở nước ta và trên thế giới và cần có sự nghiên cứu, tổng kết
thường kỳ về nguồn nhân lực Việt Nam để từ đó hoạch định chính sách nguồn nhân
lực cho từng thời kỳ của nền kinh tế.
5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo.
Luận án cũng nêu một số hạn chế trong nghiên cứu như: Về số liệu, Về mô hình
nghiên cứu…Đồng thời cũng đưa ra hướng nghiên cứu tiếp theo là cần xem xét đánh
giá toàn diện mức độ tác động lan tỏa của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế, đầu tư
tư nhân, FDI, xuất khẩu, nguồn nhân lực….Để từ đó có thêm bằng chứng khẳng định
vai trò của đầu tư công trong nền kinh tế.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status