BỘ TÀI CHÍNH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
------------------------------------------------
TRƢƠNG XUÂN HƢNG
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT
ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60 34 02 01
Giảng viên hƣớng dẫn: TS.
NGUYỄN THỊ MỸ DUNG
TP.HCM, tháng 10.2014
i
LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn quý thầy cô Trƣờng Đại học Tài chính –
Marketing đã trang bị cho tôi những kiến thƣc bổ ích của chƣơng trình Cao
học trong hơn 2 năm qua.
Tôi cũng xin chân thàn cám ơn giảng viên TS. NGUYỄN THỊ MỸ DUNG
đã tận tình hƣớng dẫn tôi trong 8 tháng qua để tôi hoàn thành bài luận văn thạc sĩ.
Tôi dành nhiều tình cảm cám ơn các đơn vị, các bạn đồng nghiệp và các
bạn trong lớp, trong khóa Cao học đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và
làm luận văn thạc sĩ.
Lạm phát được nghiên cứu qua chỉ số giá tiêu dùng theo quý và được xác
định tại thời điểm cuối mỗi quý (với kỳ gốc là năm 2005 = 100 điểm và được thu
thập xem xét theo tỷ lệ % của kỳ sau so với cùng kỳ năm trước).
Kết quả nghiên cứu cho thấy:
1. GDP trung bình theo quý của cả thời kỳ 1995 đến quý 2 2014 là 98,808.00 tỷ
VNĐ với tốc độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn nghiên cứu là 6.932612%,
và mức độ lạm phát trung bình của thời kỳ này là 6.954166% cao hơn tốc độ
tăng trưởng kinh tế.
2. Nền kinh tế Việt Nam luôn duy trì một mức sản lượng tiềm năng trung bình theo
quý là Log(GDP) = 10.7640301343 không phụ thuộc vào các tác động của lạm
phát trong các thời kỳ nghiên cứu
iv
3. Tác giả đã áp dụng phương pháp thử tuần tự từ 1 trễ cho tới 8 trễ tối đa để xác
định mối quan hệ nhân quả giữa CPI và LOG(GDP_SA). Kết quả phân tích
nhân quả cho thấy, trong các khoảng thời gian ngắn từ 4 quý trở xuống lạm
phát không có tác động tới tăng trưởng, sản lượng của nền kinh tế và chiều
ngược lại cũng vậy. Tuy nhiên với diễn biến từ 5 quý trở lên là có mối quan hệ
tác động nhân quả giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
4. Kết quả cho thấy tại các ngưỡng lạm phát đều có tác động ngược chiều tới
tăng trưởng kinh tế; tuy nhiên tại mức K = 7 là có ý nghĩa và lớn nhất tới tỷ lệ
tăng trưởng kinh tế (GDP_P). Như vậy khi lạm phát vươt qua mức 7% trở lên
thì ảnh hưởng tiêu cực với mức độ ngày càng lớn tới tăng trưởng kinh tế; và ở
chiều ngược lại khi nhỏ hơn 7% cũng gây ra ảnh hưởng tiêu cực nhưng mức độ
là nhỏ hơn các ngưỡng trên 7 .
5. Cuối cùng, các nghiên cứu của tác giả trong giai đoạn 1995 đến quý 2 2014
cũng phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả trước đây (được đề cập ở phần
trên) về mối quan hệ thuận và nghịch chiều của lạm phát với tăng trưởng kinh tế
2.2. Các công trình nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ lạm phát và tăng
trƣởng kinh tế ........................................................................................................ 17
2.2.1. Nghiên cứu thực nghiệm về đƣờng cong Phillips phản ánh mối quan hệ
tăng trƣởng lạm phát ......................................................................................... 17
2.2.2. Tóm lƣợc kết quả một số nghiên cứu thực nghiệm trong giai đoạn gần
đây trên thế giới về mối quan hệ lạm phát và tăng trƣởng kinh tế. .................. 19
2.2.3. Tóm lƣợc các kết quả nghiên cứu trong nƣớc về mối quan hệ lạm phát
và tăng trƣởng kinh tế ....................................................................................... 23
vi
2.2.4. Nghiên cứu của Shahzad Hussain và Shahnawaz Malik (2011) trong đề
tài “Inflation and Economic Growth: Evidence from Pakistan” ....................... 25
CHƢƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ................................................................. 28
3.1. Quy trình nghiên cứu ..................................................................................... 28
3.2. Phƣơng pháp thu thập dữ liệu ........................................................................ 29
3.3. Mô hình và phƣơng pháp xử lý số liệu cho câu hỏi nghiên cứu 1 - Mối quan
hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam đang diễn ra nhƣ thế nào
trong dài hạn. ......................................................................................................... 30
3.3.1. Tính toán các chỉ tiêu thống kê mô tả ..................................................... 30
3.3.2. Kiểm định tính dừng bằng phƣơng pháp ADF và PP ............................. 31
3.3.3. Xác định độ trễ tối ƣu và kiểm định nhân quả ........................................ 32
3.3.4. Phân tích đồng liên kết Johansen ............................................................ 33
3.4. Mô hình và phƣơng pháp xử lý số liệu cho câu hỏi nghiên cứu 2 - Mối quan
hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam đang diễn ra nhƣ thế nào
trong ngắn hạn. ...................................................................................................... 35
3.5. Mô hình và phƣơng pháp xử lý số liệu cho câu hỏi nghiên cứu 3 - Có tồn tại
các ngƣỡng lạm phát mà có tác động theo các chiều hƣớng khác nhau tới tăng
trƣởng kinh tế hay không? .................................................................................... 36
PHỤ LỤC 7: NGƢỠNG LẠM PHÁT THEO GDP_P ............................................ 92
viii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Mô tả về dữ liệu nghiên cứu ..................................................................... 43
Bảng 4.2: Tổng hợp kết quả kiểm định tính dừng bằng ADF................................... 46
Bảng 4.3: Kết quả xác định trễ thông qua LogL, LR, FPE, AIC, SC, HQ ............... 47
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định nhân quả Pairwise Granger ........................................ 49
Bảng 4.5: Kết quả phân tích đồng liên kết Johansen cho các khả năng ................... 50
Bảng 4.6: Kết quả ƣớc lƣợng mối quan hệ cân bằng dài hạn ................................... 52
Bảng 4.7: Kết quả ƣớc lƣợng mối quan hệ ngắn hạn ................................................ 53
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy theo ngƣỡng lạm phát từ 3% đến 18%........................... 56
ix
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Đƣờng cong Phiiip .................................................................................... 18
Hình 2.2: Đƣờng cong Phillip minh họa lạm phát và tăng trƣởng kinh tế................ 18
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu ................................................................................ 28
Hình 4.1: Diễn biến lạm phát (%) giai đoạn từ quý 1 1995 - đến quý 2 2014 ......... 38
Hình 4.2: Diễn biến GDP (%) giai đoạn từ quý 1 1995 - đến quý 2 2014............... 41
Hình 4.3: Mô tả dữ liệu CPI (%) theo quý ................................................................ 44
Hình 4.4: Mô tả dữ liệu GDP (tỷ đồng) theo quý ..................................................... 45
Hình 4.5: Diễn biến mức độ ảnh hƣởng và ý nghĩa của các ngƣỡng lạm phát ......... 58
x
nghiên cứu thực nghiệm của nhà nghiên cứu Tobin (năm 1965) cũng cho ra kết quả
tƣơng tự; tuy nhiên, nếu sự thay đổi giá mạnh mẽ sẽ dẫn đến lạm phát. Nhìn về mặt
ngọn của vấn đề có thể thấy, đó là sự mất cân đối tiền - hàng, khi GDP tăng trƣởng
nóng dựa vào vốn là chủ yếu sẽ dẫn đến lạm phát.
Những nghiên cứu của một số nhà khoa học nhƣ Fisher (năm 1993), Bruno
và Easterly đã chỉ ra mối quan hệ giữa tăng trƣởng và lạm phát là trái chiều nhau ở
một số nƣớc trên thế giới. Nhƣ vậy, có thể thấy, trong một quốc gia, ở những thời
điểm khác nhau sẽ có những ảnh hƣởng khác nhau trong mối quan hệ lạm phát và
tăng trƣởng mà nguyên nhân là do chính sách thƣờng diễn biến đột ngột ở cả phía
cung và phía cầu; và luôn đòi hỏi cần đƣợc nghiên cứu để bổ sung các vấn lý luận
mới đối với các diễn biến từ thực tiễn đó.
Về mặt thực tiễn của nền kinh tế Việt Nam, quan sát diễn biến của GDP và
CPI các năm giai đoạn 1995 đến 2013 tác giả nhận thấy1:
(i) Diễn biến GDP của Việt Nam trong giai đoạn này đƣợc chia làm 3 thời
kỳ: (a) thời kỳ 1995 – 1999, GDP suy giảm từ mốc 9.40% xuống còn 4.77% (thấp
nhất trong cả giai đoạn; (b) Thời kỳ từ 2000 đến 2006 GDP có tốc độ tăng trƣởng
phục hồi và ổn định từ mức 6.79% lên 8.48%; (c) Thời kỳ 2007 đến nay (2013), gắn
liền với khủng hoảng và suy thoái nên GDP có xu hƣớng giảm từ mức 6.23% xuống
còn 5.42% năm 2013.
(ii) Tƣơng ứng với diễn biến của GDP, CPI có các biến động mạnh và bất
thƣờng hơn: (a) Từ mức cao 12.7% năm 1995, CPI đã có cả một thời kỳ duy trì ở
mức thấp từ 1996 đến 2003 với mức tăng bình quân là 5.04%; (b) Sau đó CPI có
dấu hiệu tăng trở lại từ 2004 đến 2011, với mức bình quân là 11.68% mà đỉnh điểm
1
Tổng hợp của tác giả từ công bố của Tổng cục thống kê hàng năm về GDP và CPI trong thời kỳ 1995 2013
1
2
3. Thời gian nghiên cứu trong giai đoạn từ quý 1 năm 1995 đến hết quý 2 năm
2014.
Nguồn số liệu về CPI đƣợc tổng hợp theo quý và theo công bố của Tổng cục thống
kê tại website
Nguồn số liệu về GDP đƣợc tổng hợp theo quý theo công bố của IMF tại website
/>
/>
và
1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đƣợc viết theo phƣơng pháp định lƣợng.
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết về lạm phát và tăng trƣởng kinh tế. Trên cơ
sở nghiên cứu các nghiên cứu trƣớc đây trong nƣớc và nƣớc ngoài có liên quan đến
đề tài, tác giả sẽ xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp với tình hình kinh tế Việt
nam.
Số liệu đƣợc sử dụng cho đề tài là số liệu thứ cấp từ năm 2005 đến quý
2/2014 đƣợc lấy từ nguồn Tổng cục Thống kê.
Tác giả sử dụng công cụ phần mềm thống kê Eview để tổng hợp, phân tích,
chạy mô hình hồi quy và thực hiện các kiểm định liên quan.
Cụ thể tác giả xem xét mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và lạm phát trên
cơ sở ứng dụng nghiên cứu của Shahzad Hussain (2011)2, Shahnawaz Malik
(2011)3 trong đề tài “Inflation and Economic Growth: Evidence from Pakistan”. Mô
hình nghiên cứu gốc của hai tác giả trên có dạng nhƣ sau :
Log(GDPt) = α +β*CPIt +εt và CPIt = α +β* Log(GDPt) +εt
Log (GDP)t = χ0+ χ1*CPIt + χ2*D* (CPIt – K) + Єt
GDP_Pt = χ0+ χ1*CPIt + χ2*D* (CPIt – K) + Єt
Hồi quy bằng mô hình VECM
Hồi quy theo ngƣỡng lạm phát bằng phƣơng pháp OLS cho chuỗi sai
phân
1.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiến
Về mặt thực tiễn, đề tài sẽ xem xét phân tích mối quan hệ giữa tăng trƣởng
kinh tế và lạm phát; các ngƣỡng lạm phát trên quan điểm định lƣợng và từ đó có
đƣợc các nhìn nhận đúng đắn và đƣa ra các đề xuất, khuyến nghị góp phần nào đó
cho việc điều hành chính sách của nhà nƣớc
Về mặt khoa học, đề tài tổng hợp một cách có phê phán các công trình
nghiên cứu trƣớc đây về lĩnh vực này theo các tác động tích cực, tiêu cực, trung tính
của mối quan hệ lạm phát và tăng trƣởng kinh tế.
4
1.6. Kết cấu luận văn
Với các nội dung nhƣ trên đề tài đƣợc kết cấu làm năm chƣơng
-
Chƣơng 1: Giới thiệu nghiên cứu
-
Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về mối quan hệ tăng trƣởng kinh tế và lạm phát
-
Chƣơng 3: Mô hình nghiên cứu
-
lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trƣờng toàn cầu.
Phạm vi ảnh hƣởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi
giữa các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngƣợc lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm
phát bằng 0 hay một chỉ số dƣơng nhỏ thì đƣợc ngƣời ta gọi là sự "ổn định giá cả".
Theo Milton Friedman (1970) “lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện
tƣợng tiền tệ”. Nhƣ vậy, có thể coi lạm phát là sự suy giảm sức mua của tiền tệ và
đƣợc đo lƣờng bằng sự gia tăng của mức giá chung trong nền kinh tế.
Nhƣ vậy chúng ta có thể hiểu một cách cơ bản là : Lạm phát đƣợc dùng để
chỉ sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung hầu hết các hàng hóa và dịch vụ so
với thời điểm trƣớc đó. Nhƣ vậy có thể hiểu lạm phát đƣợc đánh giá bằng cách so
sánh giá cả của hai loại hàng hóa tại hai thời điểm khác nhau với giả thiết chất
lƣợng không thay đổi.
2.1.1.2. Đo lường lạm phát
Theo Nguyễn Văn Công và các cộng sự (2008)4 Không tồn tại một phép đo
duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà ngƣời
4
Nguyễn Văn Công và cộng sự (2008), Giáo trình nguyên lý Kinh tế Vĩ Mô, Bộ môn Kinh tế Vĩ Mô, Trƣờng
đại học Kinh tế Quốc Dân, NXB Lao Động
6
ta gán ghép cho mỗi loại hàng hóa trong chỉ số, cũng nhƣ phụ thuộc vào phạm vi
kinh tế mà nó thực hiện. Các phép đo phổ biến chỉ số lạm phát nhƣ sau:
a)
(CPI- Consumer Price Index) là chỉ số tính theo phần
dùng mua vào.
Do sử dụng giỏ hàng hoá cố định nên khi tính toán CPI có ba vấn đề chính
dẫn đến hạn chế của CPI sau đây:
1. CPI không phản ánh đƣợc độ lệch thay thế vì nó sử dụng giỏ hàng hoá cố
định. Khi giá cả một mặt hàng này tăng nhanh hơn so với các mặt hàng khác thì
ngƣời tiêu dùng sẽ có xu hƣớng ít tiêu dùng những mặt hàng đã trở nên quá đắt đỏ
mà tiêu dùng nhiều những hàng hoá đỡ đắt đỏ hơn. Yếu tố này làm CPI đã đánh giá
cao hơn thực tế mức giá.
2. CPI không phản ánh đƣợc sự xuất hiện của những hàng hoá mới vì nó sử
dụng giỏ hàng hoá cố định trong khi nếu có hàng hoá mới xuất hiện thì một đơn vị
tiền tệ có thể mua đƣợc các sản phẩm đa dạng hơn. CPI không phản ánh đƣợc sự gia
tăng sức mua này của đồng tiền nên vì thế lại đánh giá mức giá cao hơn thực tế.
3. Không phản ánh đƣợc sự thay đổi của chất lƣợng hàng hoá vì nếu mức giá
của một hàng hoá cụ thể nào đó tăng nhƣng chất lƣợng cũng tăng tƣơng ứng thậm
chí tăng hơn thì trên thực tế mức giá không tăng. Chất lƣợng hàng hoá dịch vụ nhìn
chung đều có xu hƣớng đƣợc nâng cao nên CPI cũng đã phóng đại mức giá.
b) Chỉ số giảm phát GDP (DGDP - GDP deflator) là loại chỉ số có mức bao
phủ rộng nhất. Nó bao gồm tất cả các hàng hoá và dịch vụ đƣợc sản xuất trong nền
kinh tế và trọng số tính toán đƣợc điều chỉnh tuỳ thuộc vào mức độ đóng góp tƣơng
ứng của các loại hàng hoá và dịch vụ vào giá trị gia tăng. Về mặt khái niệm, đây là
chỉ số đại diện tốt hơn cho việc tính toán tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế. Tuy
nhiên, chỉ số giá này không phản ánh trực tiếp sự biến động trong giá hàng nhập
khẩu cũng nhƣ sự biến động của tỷ giá hối đoái. Nhƣợc điểm chính của chỉ số giá
này là không thể hiện đƣợc sự thay đổi của chất lƣợng hàng hoá khi tính toán tỷ lệ
lạm phát và chỉ số không phản ánh đƣợc sự biến động giá cả trong từng tháng. Chỉ
số giảm phát GDP theo công thức sau:
8
a) Lạm phát do các yếu tố khách quan:
Thiên tai, dịch bệnh nặng nề đe dọa đến cuộc sống của cộng đồng ngƣời góp
phần tác động làm tăng lạm phát.
b) Lạm phát do yếu tố tiền tệ
Khi tốc độ tăng trƣởng cung tiền vƣợt mức so với tốc độ tăng trƣởng kinh tế
hiện tại sẽ dẫn đến lạm phát. Cung tiền tăng có thể do Ngân hàng trung ƣơng mua
ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nƣớc khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay do
ngân hàng trung ƣơng mua công trái theo yêu cầu của nhà nƣớc. Điều này khiến cho
lƣợng tiền trong lƣu thông tăng lên và là nguyên nhân gây ra lạm phát.
c) Lạm phát do chi phí đẩy: Lạm phát chi phí đẩy xảy ra khi một số loại chi
phí đồng loạt tăng lên trong toàn bộ nền kinh tế làm cho giá cả sản phẩm bán ra tăng
cao. Ba loại chi phí thƣờng gây ra lạm phát là: tiền lƣơng, thuế gián thu và giá
nguyên liệu nhập khẩu.
Khi công đoàn thành công trong việc đẩy tiền lƣơng lên cao, các doanh
nghiệp sẽ tìm cách tăng giá và kết quả là lạm phát xuất hiện.
Việc chính phủ tăng những loại thuế tác động đồng thời đến tất cả các nhà
sản xuất cũng có thể gây ra lạm phát. Ở đây, thuế gián thu (kể cả thuế nhập khẩu,
các loại lệ phí bắt buộc) đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, vì chúng tác động
trực tiếp tới giá cả hàng hoá.
Đối với các nền kinh tế nhập khẩu nhiều loại nguyên, nhiên, vật liệu thiết
yếu mà nền công nghiệp trong nƣớc chƣa sản xuất đƣợc, thì sự thay đổi giá của
chúng (có thể do giá quốc tế thay đổi hoặc tỷ giá hối đoái biến động) sẽ có ảnh
hƣởng quan trọng đến tình hình lạm phát trong nƣớc. Nếu giá của chúng tăng mạnh
trên thị trƣờng thế giới hay đồng nội tệ giảm giá mạnh trên thị trƣờng tài chính quốc
tế, thì chi phí sản xuất trong nƣớc sẽ tăng mạnh và lạm phát sẽ bùng nổ.
Những yếu tố nêu trên có thể tác động riêng rẽ, nhƣng cũng có thể gây ra tác
động tổng hợp, làm cho lạm phát có thể tăng tốc.
10
tƣ thấp, đầu tƣ dàn trải, đặc biệt đối với khu vực doanh nghiệp nhà nƣớc.
11
g) Lạm phát do cầu thay đổi
Dẫn chứng một trƣờng hợp ngành kinh doanh độc quyền không cạnh tranh:
cầu của mặt hàng xe máy giảm trong khi lƣợng cầu của mặt hàng xăng dầu tăng lên.
Một sự hiển nhiên cho thấy mặt hàng xe máy có lƣợng cầu giảm vẫn không giảm
trong khi đó mặt hàng xăng dầu có lƣơng cầu tăng làm cho giá cả tăng. Kết quả mức
giá chung tăng lên dẫn đến lạm phát.
1.1.1.4. Tác động của lạm phát
Lạm phát có ảnh hƣởng nhất định đến sự phát triển kinh tế - xã hội tuỳ theo
mức độ của nó. Nếu là lạm phát vừa phải có thể đem lại những điều lợi bên cạnh
những tác hại không đáng kể. nếu là lạm phát cao thƣơng gây những tác hại nặng nề
cho nền kinh tế và đời sống. Tuy nhiên, nếu lạm phát đó đƣợc dự báo, tiên đoán
trƣớc thì không gây gánh nặng lớn kinh tế vì ngƣời ta có thể có những giải pháp để
đối phó. Nếu lạm phát không dự đoán trƣớc dẫn đến những đầu tƣ sai lầm và phân
phối lại thu nhập một cách ngẫu nhiên làm mất tinh thần và sinh lực của nền kinh tế.
Một số tác động của lạm phát:
Tác động phân phối lại thu nhập và của cải: Khi lạm phát xảy ra, những
ngƣời có tài sản, những ngƣời đang vay nợ là có lợi vì giá cả các loại tài sản nói
chung đều tăng lên, còn giá trị đồng tiền thì giảm xuống. Ngƣợc lại, những ngƣời
làm công an lƣơng, những ngƣời gửi tiền, những ngƣời cho vay là bị thiệt hại.
Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm: Nhƣ đã nói ở trên, trong điều
kiện nền kinh tế chƣa đạt đến mức toàn dụng, lạm phát vừa phải thúc đẩy sự phát
triển kinh tế vì nó có tác dụng làm tăng khối tiền tệ trong lƣu thông, cung cấp thêm
vốn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, kích thích sự tiêu dùng của chính phủ và
nhân dân.
Giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ nghịch biến. Theo “Lý thuyết
chấp nhận tăng lạm phát để thúc đẩy tăng trƣởng thì GDP cũng không tăng thêm mà
có xu hƣớng giảm đi.
Theo chủ nghĩa trọng tiền mà đại diện là Milton Friedman (1968) cho
rằng lạm phát là sản phẩm của việc gia tăng cung tiền hoặc tăng hệ số tạo tiền ở
mức độ lớn hơn tốc độ tăng trƣởng kinh tế. Lập luận này cũng đƣợc thể hiện trong
13
công thức nổi tiếng của Irving Fisher (lý thuyết số lƣợng tiền tệ -Quantity
theory of Money): MV = PY, trong đó: M: cung tiền; V: Hệ số tạo tiền; P: Giá; Y:
sản lƣợng đầu ra (GDP thật)
Cũng theo Friedman (1968), nếu giá cả hàng hóa trong nền kinh tế tăng gấp
2 lần mà thu nhập của ngƣời lao động cũng tăng gấp 2 lần, họ sẽ không quan tâm
đến việc tăng giá hàng hóa. Trong trƣờng hợp nhƣ vậy, tăng trƣởng không bị
suy giảm bởi lạm phát. Nếu lạm phát xảy ra theo hƣớng này thì không ảnh
hƣởng nguy hiểm đến tăng trƣởng kinh tế. Nói tóm lại, theo quan điểm của thuyết
trọng tiền, trong dài hạn, giá cả bị ảnh hƣởng bởi cung tiền chứ không thực sự tác
động lên tăng trƣởng. Nếu cung tiền tăng nhanh hơn tốc độ tăng trƣởng kinh tế thì
lạm phát tất yếu sẽ xảy ra. Nếu giữ cung tiền và hệ số tạo tiền ổn định thì tăng
trƣởng cao sẽ làm giảm lạm phát.
2.1.2.2. Đo lường GDP
Theo Nguyễn Văn Công và cộng sự (2008), có một số phƣơng pháp đo
lƣờng GDP nhƣ sau:
a) Phƣơng pháp chi tiêu
Theo phƣơng pháp chi tiêu, tổng sản phẩm quốc nội của một quốc gia là tổng
số tiền mà các hộ gia đình trong quốc gia đó chi mua các hàng hóa cuối cùng. Nhƣ
vậy trong một nền kinh tế giản đơn ta có thể dễ dàng tính tổng sản phẩm quốc nội
nhƣ là tổng chi tiêu hàng hóa và dịch vụ cuối cùng hàng năm.
GDP=C+G+I+NX