MỤC LỤC
Trang
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu.
3. Đối tượng nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận.
2. Thực trạng của vấn đề.
2.1. Thực trạng học chính tả ở lớp 2B trường Tiểu học Lê Văn Tám
2.2. Kết quả thực trạng.
3. Giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện.
3.1. Các giải pháp thực hiện.
3.2. Các biện pháp tổ chức thực hiện.
4. Hiệu quả của việc rèn chính tả cho học sinh.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
1. Kết luận.
2. Kiến nghị.
2.1. Đối với phụ huynh học sinh.
2.2. Đối với nhà trường.
2.3. Đối với phòng Giáo dục và Đào tạo.
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
1
1
2
2
2
ngôn ngữ toàn dân. Mục đích của nó làm phương tiện thuận lợi cho việc giao
tiếp bằng chữ viết bảo đảm cho người viết và người đọc đều hiểu thống nhất
những điều đã viết. Chính tả trước hết là sự quy định có tính chất xã hội, một sự
quy định có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối, nó không cho phép vận dụng
quy tắc một cách linh hoạt có tính chất sáng tạo cá nhân.
Một ngôn ngữ văn hoá không thể không có chính tả thống nhất. Chính tả
thống nhất là một trong những biểu hiện của trình độ văn hoá phát triển của một
dân tộc.
Phân môn chính tả trong nhà trường, giúp học sinh hình thành năng lực và
thói quen viết đúng chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng
tiếng việt. Vì vậy, phân môn chính tả có vị trí đặc biệt quan trọng, nhằm thực
hiện mục tiêu của môn tiếng việt là rèn và phát triển tiếng mẹ đẻ cho học sinh,
trong đó có năng lực chữ viết. Đặc biệt đối với học sinh Tiểu học, chữ viết là
một trong bốn yêu cầu cơ bản: nghe, nói, đọc, viết mà học sinh phải đạt được.
Bởi vì khi học các môn học, các em chỉ nghe là chưa đủ mà phải viết để khắc
sâu tri thức. Nhưng nếu viết sai lỗi chính tả thì học sinh có thể hiểu sai hoặc
không thể hiểu đầy đủ văn bản dẫn đến các em không nắm được nội dung kiến
thức môn học. Do đó “kỹ năng viết đúng chính tả” thực sự cần thiết đối với học
sinh tiểu học nói riêng và đối với mọi người nói chung. Việc rèn luyện các quy
tắc chính tả sẽ hình thành kĩ năng viết đúng đơn vị từ của học sinh, khi các em
đã viết đúng, viết chính xác thì mới có điều kiện học tốt các môn học khác và
trên cơ sở đó, các em rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt có hiệu quả. Trong
suy nghĩ và giao tiếp đặc biệt là giao tiếp bằng ngôn ngữ viết, người xưa thường
nói “Nét chữ nết người - Văn hay chữ tốt”. Quả thật khi viết chữ đã không tốt thì
văn không thể hay được. Do vậy, việc nghiên cứu phương pháp để dạy tốt môn
chính tả là một việc làm hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm góp
phần vào việc thực hiện mục tiêu môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học.
Nhưng lỗi chính tả của người viết chữ Quốc ngữ nói chung, của học sinh
Tiểu học nói riêng từ lâu vẫn là vấn đề nhức nhối với những ai quan tâm tới vấn
đề này. Chữ viết của học sinh không được như xã hội mong muốn. Không những
- Lập kế hoạch bài học theo hướng đổi mới, phương pháp và nội dung bài
dạy cho sát thực với việc rèn chính tả cho học sinh.
3. Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh lớp 2B trường Tiểu học Lê Văn Tám.
4. Phương pháp nghiên cứu.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
+ Phương pháp điều tra.
+ Phương pháp quan sát.
+ Phương pháp trò chuyện.
+ Phương pháp thu thập thông tin.
3
- Nhóm phương pháp hỗ trợ.
+ Thống kê.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận.
4
Các nguyên tắc chính tả không tách rời các nguyên tắc dạy học Tiếng
Việt. Chính tả là phân môn có tính chất công cụ, tính chất thực hành làm cơ sở
cho việc dạy học các phân môn khác của Tiếng Việt. Cùng với phân môn Tập
viết, Chính tả cung cấp kiến thức và hoàn thiện kĩ năng tạo ra hình thức vật chất
biểu hiện ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp. Mục đích của dạy chính tả là rèn
luyện khả năng đọc thông, viết thạo, chủ yếu là viết đúng chuẩn mực và dạng
thức viết của ngôn ngữ.
Khi tập nói và đi học trẻ em mới sử dụng ngôn ngữ ở dạng thức nói. Hệ
5
- Lỗi chính tả do không nắm được nghĩa của từ để phân biệt với cách viết.
Đây chính là những thiếu hụt trong kiến thức về chính tả và ngữ nghĩa của Tiếng
Việt.
- Lỗi chính tả do không nắm được nguyên tắc ghi âm, qui tắc chính tả nên
không biết khi nào viết “r”, khi nào viết “d”.
- Do quên mặt chữ ghi âm, ghi tiếng, từ.
Ngay ở tuần thứ 3 tôi đã tiến hành khảo sát chính tả ở lớp tôi dạy để nắm
được mức độ các em viết chính tả phân biệt giữa các phụ âm đầu ch/tr; s/x;
r/d/gi ...
Bài viết số1: Tiết 1 - Tuần 3 (Tiếng Việt 2, tập 1, trang 24).
1) Nghe viết: Bạn của Nai Nhỏ
Nai Nhỏ xin cha cho đi chơi xa cùng bạn.
Biết bạn của con khoẻ mạnh, thông minh và nhanh nhẹn, cha Nai Nhỏ vẫn
lo. Khi biết bạn của con dám liều mình cứu người khác, cha của Nai Nhỏ mới
yên lòng cho con đi chơi với bạn.
2) Bài tập: Điền vào chỗ trống
a. tr hay ch:
cật ….e,
mái …e, …ung thành, …ung sức.
b. đổ hay đỗ:
… rác, thi …
trời … mưa, xe … lại
- con ….ao ;
- dè ….ặt
;
tiếng …ao hàng;
…..ao bài tập về nhà.
…ặt giũ quần áo;
chỉ có ...ặt một loài cá.
Bài 2: Chứa tiếng bắt đầu bằng r, d hoặc gi có nghĩa như sau:
- Làm chín thức ăn trong dầu, mỡ sôi:.........
- Trái nghĩa với khó:.........
- Thời điểm chuyển từ năm cũ sang năm mới:........
Trên đây là 3 bài khảo sát chính tả đầu năm đối với những lỗi mà khi viết
chính tả học sinh còn mắc phải.
2.2. Kết quả thực trạng:
Với thực trạng trên và qua khảo sát chính tả đầu năm của học sinh lớp 2B,
tôi thấy học sinh điền sai rất nhiều.
Kết quả cụ thể như sau:
Kiến thức khảo
sát
Tổng
số học
sinh
28,95% 16
42,1% 11
28,95%
Phân biệt r/d/gi
38
8
21%
18
47,3% 12
31,5%
Phân biệt s/x
38
9
23,6% 17
44,7% 12
+ Khi viết với “ng” là: o, ô, ơ, a, ă, â, u, ư
+ Khi viết với “ngh” là: i, e, ê
Đối với chính tả không có ý thức thì học sinh cần hiểu nghĩa của từ vựng,
ghi nhớ máy móc để viết đúng và nhanh.
Thật khó mà tìm ra quy luật chung phân biệt gi/d, tr/ch, l/n… Gặp những
trường hợp này tốt nhất là phải cho các em sử dụng nhiều lần, nhớ thuộc lòng
hay nói cách khác là cần áp dụng lối dạy không có ý thức, dạy mẹo cho HS.
3.1.3. Giải pháp 3: Chọn bài dạy chính tả theo khu vực.
Tiếng Việt tuy là ngôn ngữ thống nhất trong cả nước nhưng có nhiều
phương ngữ khác nhau. Ở mỗi địa phương, học sinh do ảnh hưởng của phương
ngữ thường mắc một số lỗi đặc trưng. Chẳng hạn, đối với học sinh lớp tôi thì cơ
bản học sinh hay phạm lỗi như:
tr ch, s
x, r
d…
Ví dụ: trong
chong, sa
xa, ra
da…
Chính vì thế mà trước khi dạy bản thân tôi đã tìm hiểu tình hình để nắm
lỗi chính tả phổ biến của học sinh và lựa chọn nội dung giảng dạy thích hợp.
8
Sau khi tìm hiểu, tôi đã đưa ra được một số giải pháp chính, đạt được kết
b. Đối với lỗi r/d/gi:
Cách tiến hành tương tự như tr và ch.
- Đọc đúng: Các giờ tập đọc tôi cũng luyện đọc các tiếng này và cho các
em nhận biết cách đọc.
Tiếng có âm đầu viết r thì đọc cong lưỡi.
9
Tiếng có âm đầu viết d thì đọc bình thường.
Tiếng có âm đầu viết gi thì đọc rít lưỡi, tạo ra âm gió.
- Hiểu đúng nghĩa:
+ Tôi thường cho các nhóm thi viết đúng vào bảng con. Giáo viên đọc cho
học sinh viết:
Ví dụ: Đọc “dì” thì học sinh viết gì, dì, rì.
“gia’ học sinh viết gia, da, ra.
Tiếp tục tôi cho học sinh tìm tiếng ghép với các tiếng đó để nhận biết
nghĩa cho dễ dàng.
+ Cô dì, dì cháu, …..: “dì” là em gái mẹ.
+ Cái gì, việc gì, … : “gì” là từ đi kèm với câu hỏi.
+ Rì rào, xanh rì … : “rì” là từ mô phỏng.
Nếu các em viết sai thì nghĩa của nó sẽ khác đi, người khác cũng hiểu sai
lệch đi.
- Giúp học sinh nắm quy tắc chính tả phân biệt giữa r, d và gi.
+ “r, gi” không kết hợp với vần có âm đệm (trừ từ: ruy băng).
+ d: kết hợp được với tất cả các nguyên âm.
c. Đối với lỗi s/x:
Những em viết sai s/ x là do các em phát âm sai. Khi dạy tôi phải phát âm
lại cho các em nghe, phát âm s cong lưỡi, đầu lưỡi chạm ngạc phía trên. Còn
viết là x khi đọc lưỡi thẳng đầu lưỡi đưa ra phía ngoài, luồng hơi thẳng ra ngoài.
Những em thắng cuộc được khen ngợi và cả lớp thưởng một tràng vỗ tay
khuyến khích.
Để phân biệt được s/x tôi đưa ra cho các em nhiều dạng bài tập như dạng
câu đố giúp học sinh học tập sôi nổi hơn. Từ đó các em làm quen và biết cách
dùng đúng khi viết chính tả.
Dạng bài tập: Điền vào chỗ trống s hay x
Giàu đôi con mắt, đôi tay.
Tay ...iêng làm lụng, mắt hay kiếm tìm (siêng)
Hai con mắt mở, xa nhìn
Cho sâu, cho ..áng mà tin cuộc đời (sáng)
Xuân Diệu
Hoặc dạng bài tập:
Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng s hay x có nghĩa như sau:
- Cùng nghĩa với chăm chỉ
(siêng năng).
- Trái nghĩa với gần
(xa).
- Nước chảy rất mạnh và nhanh (xiết)
Với những dạng bài tập trên tôi đều tổ chức cho các em trao đổi theo
nhóm. Sau đó đại diện nhóm lên thực hiện hay trình bày, các nhóm khác nhận
xét bổ sung giáo viên chốt lại lời giải đúng, để tuyên dương những nhóm làm
đúng.
- Giúp học sinh nắm được mẹo phân biệt s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và
tên con vật đều bắt đầu bằng s.
Ví dụ: + Tên cây: si, sồi, sả, sắn, sung, su su, sấu, sến, sầu riêng... (trừ
xoan, xoài)
+ Tên con vật: sáo, sên, sếu, sói, sứa, sóc...
3.2.2. Biện pháp 2: Sửa lỗi cho học sinh ngoài giờ chính tả.
Ngoài việc hướng dẫn học sinh phân biệt lỗi chính tả theo những biện
pháp trên thì hàng ngày tôi còn cho các em ôn luyện lại kiến thức ở mọi nơi, mọi
viết đúng, nói hay, viết đẹp để học sinh coi đó là cái mẫu để vươn tới.
3.2.4 Biện pháp 4: Luyện viết đúng tiếng có vần khó.
Trong quá trình viết các em thường gặp phải những tiếng, từ có vần khó
(uyu, uôn, oang, uyết.) một số tiếng có vần dễ lẫn lộn (oe/ eo/ uê/ oa/ ao.) một số
từ khó “khuỷu tay” “Luống rau” , “khoát tay. Để rèn viết đúng các lỗi này, trước
khi viết bài tôi gọi học sinh phân biệt từng tiếng, cho học sinh khác nhau nhận
xét và thống nhất cách viết.
kh + uyu + thanh hỏi = khuỷu
kh + oat + thanh sắc = khoát
Nên khi phân tích tôi chú ý nhấn giọng vào phần vần, sau đó cho học sinh
viết bảng con, lớp nhận xét, lớp tự sửa sai. Với những bài viết có ít những vần
khó tôi có thể lấy thêm một số tiếng có vần khó đó, đọc cho học sinh viết, để
khắc sâu vần cần chú ý.
Trong các tiết chính tả tôi thường chọn các dạng bài tập khác nhau cho
các em được làm nhiều, luyện viết nhiều để các em nhớ cách viết đúng.
3.2.5 Biện pháp 5: Chấm chữa bài chính tả.
Để nâng cao chất lượng giờ chính tả, việc chấm chữa bài cũng rất quan
trọng, giúp các em biết tự sửa lỗi sai của mình, nhớ viết đúng, lần sau không bị
mắc lỗi sai đó.
12
Có nhiều hình thức chấm chữa bài, những khi dạy thì thường sử dụng biện
pháp như sau:
Sau khi viết bài xong, cô đọc chậm cho các em tự soát bài sau đó cho các
em tự đổi vở cho nhau (2 em ngồi cạnh nhau) theo sự chỉ đạo của giáo viên. Nếu
phát hiện ra lỗi sai của bạn, kịp thời bảo bạn sửa lại ngay. Sau khi các em thực
hiện xong, tôi cho các em nêu kết quả mình đã được kiểm tra vở bạn. Tôi hỏi
sau khi các bạn kiểm tra bài bạn xong, em thấy có bài nào không viết sai lỗi nào
giữa các chữ hay các con chữ chưa đều, các nét chữ chưa liền mạch.
Để giúp các em khắc phục những tình trạng trên tôi đã lập kế hoạch sử
dụng các biện pháp khác nhau áp dụng để từng đối tượng.
Tôi hướng dẫn các em cách nhớ độ cao con chữ bằng cách chia độ cao các
chữ cái thành 3 nhóm (đối với chữ viết thường).
13
Nhóm 1: Nhóm chữ cao 1 đơn vị như: i, e, ê, n, m….
Nhóm 2: Nhóm chữ cao 1,5 đơn vị như chữ x.
Nhóm 3: Nhóm chữ cao và dài 2,5 đơn vị như chữ h, l, b, k, y, g….
Khi học sinh học thuộc các độ cao của các chữ cái trên tôi tiến hành
hướng dẫn viết trên dòng kẻ bảng lớp trong khi viết giáo viên nhắc nhở các em
viết với độ rộng của chữ, muốn viết đẹp thì các con chữ cần phải có độ cao bằng
nhau rồi, mà độ rộng của các con chữ cũng phải bằng nhau, khoảng cách của các
chữ với nhau không rộng lắm mà cũng không hẹp lắm, khoảng bằng nửa thân
chữ là vừa. Các nét hắt trong một chữ phải được nối liền nhau, trong khi viết
một chữ hạn chế nhấc bút mà thường viết liền các con chữ với nhau, chữ viết
thẳng giáo viên viết mẫu (ngay ngắn, không ngữa ngả chữ mà không cúi rạp
chữ).
Sau khi học sinh nắm được cách hướng dẫn cách viết đẹp tôi cho các em
được luyện vào bảng con theo đúng các dòng kẻ cô hướng dẫn, giáo viên kịp
thời sửa lại những nét các em viết chưa đúng, tuyên dương những em viết đúng
hàng kẻ, đẹp.
Ngoài những việc luyện viết chữ đẹp ở tiết chính tả tôi luôn quan tâm
nhắc nhở các em cần phải viết đúng, nắn chữ ở những tiết học khác như tập làm
văn, tập viết.và tóm lại cứ đặt bút viết là các em phải viết cẩn thận đẹp như đang
trong giờ luyện viết vậy, thì dần dần các em mới quen tay viết chữ đẹp được.
Trong các tiết dạy, cứ phát hiện được bài viết của bạn nào đẹp, đúng cỡ chữ là
cô tuyên dương trước lớp nhằm khuyến khích các em viết đẹp hơn.
hoàn thành
tốt
Số
lượng
Tỉ lệ
Số học sinh
chưa hoàn
thành
Số học sinh
hoàn thành
Số
lượng
Tỉ lệ
Số
lượng
Tỉ lệ
Phân biệt ch/tr
38
22
57,8% 16
Qua kết quả khảo sát cho thấy các em đã có tiến bộ rõ nét về cách trình
bày đặc biệt là cách viết đúng, sạch đẹp.
15
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Qua thời gian nghiên cứu, với thực tế giảng dạy và trao đổi cùng đồng
nghiệp, tôi nhận thấy để khắc phục những hạn chế và những lỗi do học sinh còn
sai thì khi giúp học sinh phân biệt để viết đúng chính tả, chúng ta cần làm tốt
những vấn đề sau:
- Giáo viên cần nắm vững chất lượng cụ thể của học sinh lớp mình qua đó
xác định rõ nguyên mhân của phần còn sai, tìm ra biện pháp khắc phục. Hơn nữa
việc rèn luyện chính tả cho học sinh là một việc làm phải tiến hành thường
xuyên, liên tục trong cả quá trình học tập chứ không phải chỉ trong một giai
đoạn.
- Cách thức luyện sửa lỗi sai nên tổ chức bằng các hình thức mhẹ nhàng,
vui nhộn, các dạng trò chơi, hái hoa, thi đố, chơi tiếp sức, thi viết chữ đẹp, thi
trình bày báo tường.
- Giáo viên phải liên tục kiểm tra và theo sát việc rèn luyện của học sinh
để hỗ trợ và uốn nắn kịp thời. Nên có kế hoạch cụ thể trong từng tuần, từng
tháng để thực hiện cho đều đặn, nhịp nhàng.
- Cần kết hợp vận dụng linh hoạt hệ thống phương pháp. Nhất là khi dạy
chính tả cần phải kết hợp với rèn luyện phát âm, trước hết thầy giáo, cô giáo cần
phải đọc đúng.
- Trong giao tiếp giữa giáo viên với giáo viên, giữa giáo viên với học trò,
… phải chuẩn. Giáo viên phải tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ.
lớp 2 viết đúng chính tả. Song trong quá trình thực hiện và trình bày không tránh
khỏi thiếu sót, rất mong được sự góp ý của Hội đồng khoa học và đồng nghiệp
để sáng kiến được hoàn thiện, có tính thiết thực hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 06 tháng 02 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
NGƯỜI VIẾT
Lê Thị Cúc
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách Tiếng Việt lớp 2 - Nhà xuất bản Giáo dục.
2. Sách giáo viên Tiếng Việt lớp2 – Nhà xuất bản Giáo dục.
18
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM