Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 viết đúng chính tả - Pdf 43

A - ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LỜI MỞ ĐẦU:
Người xưa có câu : “Nét chữ, nết người”. Tức là khi nhìn vào nét chữ
của người viết, tuy rằng ta chưa thể hiểu hết được toàn bộ tính cách của con
người đó, song cũng có thể đoán được phần nào tính cách chủ nhân của nét
chữ đó. Khi bạn thấy nét chữ được viết ngay ngắn, gọn gàng, sạch sẽ và đều
đặn thì ít nhất cho thấy đó là một người có tính cẩn thận, coi trọng hình thức.
Ngược lại, với nét chữ được viết vội vàng, nghệch ngoạc, lên, xuống thất
thường thì dù có muốn bạn cũng không thể cho rằng đó là một người có tính
cẩn thận được.
Khi đọc một văn bản, một tài liệu (chưa đề cập đến nội dung) nhưng
khi thấy văn bản đó, tài liệu đó có nhiều lỗi sai chính tả, ta phần nào có thể
đoán được trình độ hiểu biết và diễn đạt ngôn ngữ của người đó có thành
thục hay không (tuỳ theo mức độ lỗi nhiều hay ít). Việc diễn đạt sai chính tả
sẽ dẫn đến những tình huống khôi hài, tuy chưa đến mức độ hiểu sai một vấn
đề nhưng trong thực tế vẫn có thể làm cho người đọc dễ bị ngộ nhận và rơi
vào tình trạng nhàm chán.
Là một giáo viên dạy ở bậc Tiểu học, thực hiện mục tiêu hình thành và
phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (Nghe, nói, đọc, viết)
giúp học sinh học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa
tuổi, môn Tiếng Việt ở Tiểu học đã lấy nguyên tắc dạy giao tiếp làm định
hướng cơ bản và chữ viết là một hình thức của ngôn ngữ giao tiếp.Vì vậy,
phân môn Chính tả có vai trò quan trọng ở cấp Tiểu học.Nó giúp các em hình
thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, nói rộng hơn là năng lực và
thói quen viết đúng Tiếng Việt. Học sinh viết đúng, viết nhanh mới có điều
kiện học môn Tiếng Việt và các môn học khác được thuận lợi.
Tuy nhiên, hiện nay tình trạng học sinh viết sai chính tả ngày càng nhiều
làm ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em, hạn chế khả năng giao tiếp,
làm các em mất tự tin.Chính vì vậy, trong quá trình giảng dạy, bản thân tôi
luôn dành nhiều thời gian suy nghĩ để đi tìm câu trả lời: “Làm thế nào để hạn
chế tỉ lệ học sinh viết sai chính tả ? ” Vì Tiếng Việt là linh hồn dân tộc Việt,

Hoằng Sơn. Lớp tôi chủ nhiệm và giảng dạy có 18 học sinh, trong đó có 9
em nữ và 9 em nam. Phần lớn các em là con gia đình nông nghiệp, một số em
có hoàn cảnh gia đình khó khăn, một số em gia đình ít quan tâm đến việc học
tập của con cái, đồ dùng sách vở còn thiếu thốn...
Theo dõi việc học tập của học sinh trong lớp, tôi thấy các em viết sai chính
tả quá nhiều. Vì vậy, công việc đầu tiên của tôi ngay từ những tuần lễ đầu của
năm học là thống kê các lỗi sai phổ biến của học sinh trong lớp thông

2


qua khảo sát bài viết chính tả đầu năm học, qua theo dõi các bài viết chính tả
và các bài viết từ các phân môn khác của học sinh để tìm ra nguyên nhân, từ
đó có biện pháp khắc phục cho các em.
Thông qua khảo sát đầu năm học và qua theo dõi các bài viết chính tả của
học sinh, tôi thu được kết quả cụ thể như sau:
Tỉ lệ học sinh mắc các lỗi chính tả thường gặp
Tổng

Lớp

Dấu hỏi (?),
dấu ngã (~)

số
học
sinh

4B


tả... là không sành điệu, là thiếu phong cách (!). Giới trẻ tự quy ước những
chuẩn mực mới để đánh giá đối tượng giao tiếp. Và điều này lan truyền rất
nhanh, tạo sự cộng hưởng mạnh trên cộng đồng dân cư “mạng”.

3


Ví dụ : Một học sinh đã viết: “Em sẽ cố gắng thay đổi cách học bài, dù có
pùn ngủ mún chít cũng phải giải quyết hết bài tập”.
7. Do cha mẹ không quan tâm đến việc học hành của con cái….
8. Do giáo viên chưa phát âm rõ ràng khi đọc cho học sinh viết chính tả
đồng thời chưa thực sự quan tâm đúng mức đến việc khắc phục lỗi chính
tả cho HS. vv…(Đây là nguyên nhân khách quan)
Ngoài ra còn có một số nguyên nhân về sinh lý có ảnh hưởng đến kết
quả viết chính tả của học sinh như: Nói ngọng, tai nghe không rõ khi các em
viết chính tả nghe - viết…
Từ thực trạng trên, để công việc nghiên cứu đạt hiệu quả, tôi đã mạnh
dạn cải tiến nội dung, phương pháp dạy học phân môn Chính tả phù hợp với
đặc điểm tình hình cụ thể của đối tượng học sinh trong lớp và lập ra một số
giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện.

B - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
Từ những nguyên nhân trên, tôi quyết tâm vận dụng những kinh nghiệm
đúc rút được qua thực tiễn dạy học những năm học trước để cố gắng làm sao
giảm được số học sinh viết sai chính tả, viết chữ xấu, tăng dần số học sinh
viết đúng chính tả, viết đẹp và rèn luyện cho các em tính cẩn thận, kiên trì ở
mọi nơi, mọi lúc, ở tất cả các môn học. Theo tôi, để giúp học sinh viết đúng
chính tả phải là cả một quá trình giảng dạy và rèn luyện cho các em xuyên
suốt lâu dài chứ không phải là ngày một ngày hai, vì vậy giáo viên cần phải

- Hướng dẫn học sinh luyện tập có hiệu quả (làm bài tập chính tả âm-vần)
nhằm khắc phục lỗi chính tả chung và lỗi thường mắc đối với học sinh.
3. Phát âm đúng để viết đúng chính tả.
Theo tôi, đây chưa phải là giải pháp ưu việt và càng không phải là giải
pháp duy nhất mà chỉ có thể là giải pháp bổ trợ trong dạy học Chính tả.
- Giáo viên cần rèn luyện nói và đọc chuẩn để học sinh có sự chuẩn mực về
nghe và viết .
- Học sinh cũng cần phải được rèn luyện để nói và đọc đúng, từ đó các em sẽ
viết đúng chính tả.
4. Học chính tả bằng cách nhớ từng chữ một.
Đây có thể coi là một giải pháp có tính khả dụng, hữu hiệu và hợp lý hơn
cả vì học sinh Tiểu học có khả năng nhớ máy móc khá tốt, khả năng học
thuộc khá nhanh.
Giáo viên nên vận dụng cách dạy:"Nhớ từng chữ một" đối với học sinh
trong lớp theo phương châm sai gì học nấy.Tất nhiên, theo cách dạy này, giáo

5


viên chỉ cần hướng dẫn học sinh tập trung nhớ mặt chữ của những từ dễ
viết sai, tránh sự dàn trải, tản mạn. Ở giải pháp này, học sinh được quan sát
chữ viết, tự phân tích tiếng (theo cấu tạo 3 bộ phận : Phụ âm đầu, vần,
thanh), được luyện thao tác viết đi viết lại nhiều lần để ghi nhớ mặt chữ lâu
hơn. Ngoài ra, theo định hướng dạy học tích hợp thì ngay cả khi hướng dẫn
đọc đúng trong giờ Tập đọc, giáo viên cũng cần giúp các em được luyện đọc
đúng và tri giác chữ viết nhằm tránh viết sai chính tả. Đó là điều mà tôi chú ý
phối hợp trong quá trình dạy - học Chính Tả ở lớp.
5. Học mẹo, luật chính tả để viết đúng chính tả .
Không có một mẹo, luật chính tả nào là vạn năng, mỗi mẹo, mỗi quy
luật chỉ có thể giúp học sinh chữa một loại lỗi nào đó. Chẳng hạn: Mẹo phân

Em không giành lấy phần hơn cho mình.
Em để dành cho bé gói bánh.
Ở một số giờ học thuộc các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm
văn…giáo viên cũng cần chú trọng hướng dẫn để các em nắm được nghĩa
của từ ngữ và hình thức chữ viết nhằm trau dồi kĩ năng viết đúng chính tả
cho học sinh.
Ngoài ra, giáo viên còn cần vận dụng phối kết hợp lồng ghép một số giải
pháp khác trong quá trình dạy học Chính tả nhằm giúp học sinh viết đúng
chính tả như: Giúp các em yêu thích, say mê tất cả các môn học, đặc biệt là
môn Tiếng Việt, trong đó có phân môn Chính tả. Dạy học sinh tự phát hiện
ra lỗi chính tả và tự sửa lỗi chính tả trong tất cả các môn học. Đồng thời kết
hợp rèn viết đúng chính tả thông qua các môn học khác, qua trò chơi…
Chẳng hạn: Trò chơi: Ô chữ kì diệu, tìm nhanh tìm đúng; đố chữ …
Với các giải pháp nêu trên, chắc chắn học sinh sẽ ghi nhớ lâu các chữ,
các âm mình viết sai. Từ đó, ở các em sẽ được hình thành kĩ năng, kĩ xảo viết
chính tả một cách thuần thục. Khi đó ngôn ngữ của Tiếng Việt sẽ trong sáng
hơn, chữ Việt sẽ tồn tại mãi mãi theo thời gian.

II. CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
Để thực hiện tốt việc giúp học sinh trong lớp viết đúng chính tả, tôi đã
soạn ra các biện pháp sau để áp dụng trong các tiết dạy.
1.Giúp cho học sinh yêu thích môn chính tả :
Để tránh sự nhàm chán khi học môn Chính tả, tôi vận dụng nhiều phương
pháp và hình thức dạy học linh hoạt như :
1.a.Phương pháp trực quan : Phương pháp này đạt hiệu cao trong việc
phân biệt nghĩa của từ.

Ví dụ : Khi dạy bài Gà Trống và Cáo (Tiếng Việt 4- tập 1) có câu:
7


( M: chông chênh…)
(Tiếng Việt 4 - tập 2)

Tôi đã linh hoạt vận dụng những phương pháp dạy học như vậy nên thu

8


hút được sự say mê, tích cực, tự giác học tập của học sinh trong lớp. Đó là
một thành công bước đầu trong công tác giảng dạy của tôi.
Dựa trên nền tảng này, tôi tiếp tục phát huy tính tích cực, tự giác học tập
của học sinh, để nắm bắt được sự phản hồi từ phía học sinh xem các em tiếp
thu bài đến đâu, lỗ hổng kiến thức ở chỗ nào. Khi đó giáo viên sẽ nhanh
chóng có biện pháp giải quyết một cách triệt để nhất cho từng đối tượng học
sinh trong lớp .
Tục ngữ xưa có câu “Cô giáo như mẹ hiền”, trường học cũng chính là
ngôi nhà thứ hai của các em, vì vậy thầy và cô chính là những người cha,
người mẹ thứ hai dìu dắt các em nên người. Từ những tình thương yêu, sự
động viên, an ủi, vỗ về sẽ làm cho các em thấy tin tưởng, thấy yên tâm, thấy
thích thú mỗi khi cắp sách đến trường. Tuy nhiên, không phải lúc nào tôi
cũng mềm mỏng với các em, nhiều lúc phải vừa “cương” mà phải vừa “nhu”,
đó chính là “một nghệ thuật sư phạm” mà tôi đã sử dụng trong quá trình
giảng dạy. Khi các em mắc lỗi, tôi nhắc nhở ngay để các em sửa chữa, khi
các em chăm ngoan, học tốt tôi tuyên dương trước lớp để cho các bạn khác
noi theo.
2. Rèn phát âm đúng chính tả :
Khi viết chính tả, học sinh thường mắc phải các lỗi sau: lỗi về thanh điệu,
lỗi về âm đầu, âm chính, âm cuối. Học sinh mắc lỗi có thể do cách phát âm
lẫn lộn trong phương ngữ, do sự khá phức tạp của chữ quốc ngữ .Vì vậy,
muốn học sinh viết đúng chính tả, tôi luôn không ngừng tự rèn luyện nói và

sai cho những học sinh viết chưa đúng chính tả trước khi viết vào vở để học
sinh ghi nhớ.
Ví dụ: *Khi viết tiếng “làng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “làn”
Tôi yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- làng = l + ang + thanh huyền
- làn = l + an + thanh huyền.
So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “làng” có âm cuối là “ng”,
tiếng “làn” có âm cuối là “n”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em
sẽ không viết sai.
4. Rèn phân biệt chính tả bằng giải nghĩa từ:
Đây cũng là một biện pháp rất hữu hiệu nhằm khắc phục lỗi chính tả
cho học sinh vì muốn viết đúng chính tả phải hiểu nghĩa của từ chính xác.
Việc giải nghĩa từ tôi thường xuyên giúp các em thực hiện trong tiết Tập
đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn,…

10


Đó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết Chính tả khi mà các em
không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hoặc phân tích cấu tạo tiếng.
Ví dụ:

Phân biệt: “ bát ” và “ bác ”
Bác = Bác Tư (anh của ba) ; Bát = cái bát (đồ dùng ăn cơm)…

Đế hướng dẫn học sinh hiểu nghĩa từ, tôi thực hiện theo nhiều cách
khác nhau: có thể cho học sinh đọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu
đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ), tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu
tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh,…
Ví dụ: Phân biệt chiêng và chiên

cần ghi nhớ và tôi lồng ghép để ôn luyện nhiều lần cho học sinh trong buổi
học thứ hai sẽ giúp các em nắm chắc được các mẹo, các quy tắc chính tả.
* Lưu ý: Đối với học sinh hay mắc lỗi chính tả, tôi yêu cầu các em chép lại
chữ viết đúng từ 5 đến 10 dòng (tùy mức độ) vào sổ tay chính tả của mình.
Ngoài ra, tất cả học sinh trong lớp đều phải ghi chép lại các từ ngữ thường
viết sai chính tả và cách sửa chữa, các quy tắc chính tả, mẹo chính tả vào sổ
tay chính tả theo từng bài học. Cách này tôi thấy rất có hiệu quả, giúp học
sinh nhớ lâu, ít khi lặp lại lỗi đã mắc.
Ví dụ 1: Điền vào chỗ chấm:
• “ c ” hay “ k ” : …éo co, cổ …ính, …iên nhẫn, tổ …iến.
• “ g ” hay “ gh ” : …ồ ghề, ..e thuyền, …i nhớ, chán …ét.
• “ ng ” hay “ ngh ”: ngốc …ếch, ngạo …ễ, …iêng …ã
Dựa vào bài tập này, tôi hướng dẫn học sinh ghi nhớ các quy tắc chính tả
khi viết âm: g/gh; ng/ngh; c/k như sau:
* Các âm đầu: k, gh, ngh đứng trước các nguyên âm i, e, ê, iê,…
* Các âm đầu: c, g, gh đứng trước các nguyên âm o, ô, ơ, a, ă, â, u, ư,…
Ví dụ 2: Khi dạy bài chính tả phân biệt tr / ch.
Tôi cho các em tự tìm và viết ra những từ để phân biệt tr / ch theo quan sát
hoặc theo gợi ý của giáo viên.
Chẳng hạn: Quan sát một số hình ảnh về gia đình, về đồ vật, về con vật…
Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi: thi viết các từ ngữ về các thành viên
trong gia đình, tên đồ vật trong nhà và tên con vật …bắt đầu bằng âm ch?
Và tổ chức cho học sinh làm bài tập điền vào chỗ trống tr hay ch :
…ịnh …ọng, …ụ sở, …uyền thống, …ình độ, lởm …ởm, …eo leo, lừng …
ừng, …ồm hổm.
Dựa vào bài tập, học sinh ghi nhớ quy tắc chính tả khi viết âm: tr/ch
như sau:

12


b. sửa sai
e. nghiêng ngã
c. ngả ba
g. mãi miết
b) Chọn từ thích hợp trong ngoặc để điền vào chỗ trống:

13


- (đổ, đỗ ) : thi … , … rác
- ( giả, giã ) : … vờ (đò), … gạo
c ) Đặt dấu hỏi hoặc dấu ngã vào những chữ in đậm trong các câu thơ sau:
- Kiến cánh vỡ tô bay ra
Bao táp mưa sa gần tới.
- Muốn cho lúa nay bông to
Cày sâu, bừa ki, phân gio cho nhiều…
Dựa vào các bài tập, tôi cung cấp cho học sinh quy luật chính tả theo
nhóm thanh điệu: huyền – ngã - nặng / sắc - hỏi – ngang.
( Nghĩa là nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, ngã, nặng thì yếu tố
đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang thanh sắc, hỏi,
ngang thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi .
Chẳng hạn: .Thanh ngang + thanh hỏi: Nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo, vui vẻ…
.Thanh sắc + thanh hỏi: Nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vắng vẻ…
.Thanh hỏi + thanh hỏi: Lỏng lẻo, thỏ thẻ, hổn hển, thủ thỉ, rủ rỉ…
.Thanh huyền + thanh ngã: Sẵn sàng, lững lờ, vồn vã
.Thanh nặng + thanhngã: Nhẹ nhõm, đẹp đẽ, mạnh mẽ, lạnh lẽo,…
.Thanh ngã + thanh ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo…
* Lưu ý : Đối với những từ Hán -Việt phát âm không phân biệt dấu hỏi, dấu
ngã. Gặp những từ bắt đầu bằng một trong các phụ âm : m, n, nh, v, l, d, ng
và ngh, tôi cho học sinh nhớ câu: “ Mình Nên Nhớ Viết Là Dấu Ngã ” thì

trọng lồng ghép phối kết hợp rèn luyện chính tả cho học sinh trong các môn
học khác.
* Đối với phân môn Tập đọc, tôi luyện phát âm cho các em rất kỹ, hướng
dẫn các em giải nghĩa từ ngữ theo nhiều cách khác nhau (đã nêu ở phần rèn
nghĩa từ). Đặc biệt chú ý các em hay viết sai, tôi cho các em đó phát âm lại
nhiều lần. Đối với phân môn Luyện từ và câu, tôi giúp cho học sinh hiểu
được nghĩa của từ, hiểu về câu một cách chính xác.
Ví dụ : * Phân biệt : líu hay níu: - Líu : Chim hót líu lo
- Níu : Đừng níu áo nhau
* Phân biệt : đổ hay đỗ : - Xe đổ : Xe bị lật nghiêng
- Xe đỗ : Xe dừng lại không chạy nữa
* Phân biệt : vỏ hay võ : - Vỏ : bóc vỏ, vỏ chai
- Võ : võ nghệ, vò võ
Đối với phân môn Tập làm văn, tôi cho các em đọc những đoạn văn, bài
văn mình đã viết hoặc bài tham khảo để tìm ra lỗi đọc sai sau đó rèn cho các
em đọc lại cho đúng. Chấm điểm kĩ trong bài viết đồng thời chỉ ra những lỗi
chính tả (Theo cách chấm bài ở phân môn Chính tả) cho các em, sau đó
hướng dẫn, uốn nắn, sửa chữa kịp thời cho từng đối tượng học sinh trong tiết
trả bài.
* Ở môn Toán, tôi giúp học sinh viết đúng đề toán, đúng câu lời giải bằng

16


cách nhắc nhở, sửa lỗi sai khi kiểm tra, chấm bài. Chỉnh sửa học sinh phát
âm đúng khi trả lời miệng các câu hỏi của bài toán giải.
* Ở môn Đạo đức; môn Khoa học, môn Lịch sử và Địa lý…để đạt được hiệu
quả tiếp thu cao và để tự các em so sánh, phát hiện ra những lỗi chính tả
trong phát âm của mình. Tôi thường cho học sinh thảo luận theo từng cặp hỏi
- đáp, qua đó giáo viên kịp thời uốn nắn, chỉnh sửa học sinh phát âm khi trả

18em

Tỉ lệ học sinh mắc các lỗi chính tả thường gặp
Dấu hỏi (?),
Vần an/ang, ăn/ăng,
Phụ âm: x/s ;
dấu ngã (~)
ân/âng, ươn/ương,
ch/tr ; d/gi/r.
iên/iêng, uôn/uông,
im/iêm ât/âc, ăt/ăc,
iêt/iêc, uôt/uôc,
ươt/ươc, ut/uc, ưt/ưc,
ên/ênh, in/inh, êt/êch,
iu/iêu,…
2em = 11 %

3em = 16,7 %

4 em=22,2%

* Khảo sát cuối học kì II :

Lớp

4B

Tổng
số
học



chất lượng viết đúng chính tả ở học sinh Tiểu học.
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM :
Việc giúp các em sửa chữa, khắc phục lỗi chính tả là cả một quá trình
lâu dài và rất cần thiết, không thể thiếu trong quá trình dạy - học. Vì vậy, đòi
hỏi người giáo viên phải có lòng kiên trì, nhẫn nại, không được nóng vội,
phải tận tụy hết lòng vì học sinh, phải luôn cận kề bên các em khi các em
đúng, cũng như khi các em sai. Bởi vì có những học sinh tiến bộ ngay trong
vài tuần nhưng cũng có những học sinh thì sự tiến bộ diễn ra rất chậm, không
phải vài tuần, có khi vài tháng, thậm chí cả một học kỳ. Nếu giáo viên không
biết chờ đợi, nôn nóng thì chắc chắn sẽ thất bại. Đồng thời, giáo viên phải
luôn trau đồi kiến thức, học hỏi trên sách vở, báo đài, thông tin đại chúng,
học hỏi ở những đồng nghiệp thông qua các tiết dự giờ, thao giảng để chắt
lọc ra những phương pháp hay nhất, những kinh nghiệm hữu hiệu nhất truyền
thụ đến học sinh bởi vì :“ Ở đâu có thầy giỏi, ở đó có trò giỏi ”.
- Giáo viên phải nắm vững nội dung chương trình, sách giáo khoa, đặc
trưng bộ môn, cần có sự lựa chọn nội dung giảng dạy ở phần bài tập chính tả
sao cho phù hợp với đối tượng học sinh trong lớp, phải luôn đổi mới phương
pháp và hình thức dạy học để tạo sự hứng thú ham học của học sinh, luôn
động viên nhắc nhở, khen ngợi kịp thời mọi sự tiến bộ của học sinh, đánh giá
học sinh công bằng, khách quan.
- Giáo viên hướng dẫn cho các em thật tỉ mỉ về các mẹo, quy tắc chính
tả, quy tắc kết hợp từ, quy tắc ghi âm chữ quốc ngữ…Trong quá trình
giảng dạy, giáo viên luôn quan sát, kiểm tra, … từ đó phát hiện ra những
khó khăn, vướng mắc, hoặc những lỗi mà học sinh hay mắc phải để kịp
thời sửa chữa, uốn nắn. Giáo viên không nên xem nhẹ việc rèn đọc hoặc bỏ
qua việc rèn phát âm chuẩn cho học sinh.
- Giáo viên luôn lấy học sinh làm trung tâm, tạo hứng thú học tập cho
các em và tạo điều kiện cho học sinh tự tìm ra kiến thức, thể hiện những ý

............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
...........................................................................................................................

20


21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status