PHỊNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MỎ CÀY NAM
TRƯỜNG TH THỊ TRẤN MỎ CÀY
*****
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP MỘT
VIẾT CHỮ RÕ RÀNG, SẠCH ĐẸP
Đề tài thuộc lónh vực chuyên môn: GDTH
Họ và tên người thực hiện: LÊ THỊ THANH BÌNH
Chức vụ: Giáo viên dạy LỚP 1.
Sinh hoạt tổ chuyên môn: Tổ 1
Thị Trấn Mỏ Cày, tháng10/ 2011
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Bối cảnh của đề tài:
Có người cho rằng trong thời đại khoa học kỹ thuật tiên tiến, khi việc sử
dụng máy vi tính trở thành phổ biến, chữ viết của học sinh không cần phải quan
tâm nhiều nữa. Với quan điểm này đã buộc thầy cô giáo suy nghĩ nhiều và nghiêm
túc hơn trước thực trạng học sinh của mình viết sai, viết xấu và viết rất chậm. Bối
cảnh giáo dục có bước chuyển mình quan trọng để “Chống tiêu cực trong thi cử và
bệnh thành tích trong giáo duïc” hướng mạnh vào hình thức kiểm tra, thi bằng trắc
nghiệm khách quan càng làm cho giáo viên trở nên trăn trở khi dạy trẻ học viết chữ
trong trường Tiểu học.
II. Lý do chọn đề tài:
Hiện nay một trong những kỹ năng hàng đầu của việc dạy học trong nhà
trình rèn chữ viết cho học sinh được tiến hành thuận lợi hơn.
PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận:
- Chữ viết là một công cụ dùng để giao tiếp và trao đổi thông tin, là phương
tiện để ghi chép và tiếp nhận những tri thức văn hoá, khoa học và đời sống… Do
vậy, ở trường tiểu học, việc dạy học sinh biết chữ và từng bước làm chủ được công
cụ chữ viết để phục vụ cho học tập và giao tiếp là yêu cầu quan trọng hàng đầu của
môn Tiếng Việt.
- Vấn đề “Rèn chữ viết ” cho học sinh được trường chúng tôi đặt lên hàng
đầu, là phong trào được phát động rộng khắp trong trường. Hàng năm trường tôi
đều tổ chức cho học sinh thi viết chữ đẹp vào dịp kỷ niệm ngày Nhà Giáo Việt
Nam 20/11. Nhưng đó chỉ là “phong trào”, việc thực hiện “Viết đúng, viết đẹp”
dường như chỉ dừng lại ở một bộ phận học sinh giỏi, khá có ý thức và tập trung ở
một số môn học…Việc duy trì xuyên suốt phong trào rèn chữ viết cho học sinh
hiển nhiên là nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm thực hiện theo quyết định số
31/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 14/06/2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
quy định về Mẫu chữ viết trong trường tiểu học, thực hiện theo Chuẩn kiến thức kỹ
năng các môn học ở tiểu học.
II. Thực trạng của vấn đề:
Trong quá trình thực hiện việc “Rèn cho học sinh lớp Một viết chữ rõ
ràng, sạch đẹp”, tôi rút ra được những khó khăn và thuận lợi sau:
1. Khó khăn.
- Do chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập (từ mẫu giáo
sang lớp 1) nên các em còn hiếu động, thiếu kiên trì và khó thực hiện các động tác
đòi hỏi sự khéo léo, cẩn thận.
- Các em còn lúng túng khi tiếp thu kỹ thuật viết chữ mà giáo viên cung
cấp. Tri giác của học sinh còn thiên về nhận biết tổng quát đối tượng, các em chưa
tri giác thật sự tỉ mỉ từng nét chữ, từng động tác kỹ thuật viết chữ.
đặc biệt là về chữ viết.
- Giáo viên được sự quan tâm của Ban giám hiệu.
- Đa số học sinh vào lớp 1 đều được đi học mẫu giáo, đều biết được mặt chữ,
biết được cấu tạo con chữ, biết được các nét cơ bản và biết được một số chữ ghi âm
Tiếng Việt.
- Phong trào giữ vở sạch - viết chữ đẹp cũng được thực hiện xuyên suốt
trong kế hoạch năm học.
- Phong trào thi viết đúng viết đẹp cũng được các cấp lãnh đạo quan tâm.
III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
- Để “Rèn cho học sinh lớp Một viết chữ rõ ràng, sạch đẹp ” điều đầu tiên
tôi suy nghĩ và trăn trở là: Giáo viên cần phải nắm vững chương trình và vở Tập
viết hiện hành của Bộ Giáo dục và đào tạo để không chỉ nâng cao chất lượng dạy
viết chữ mà còn phối hợp, lồng ghép, tích hợp với các môn học khác nhằm phát
huy vai trò công cụ của phân môn Tập viết. Vấn đề này đã được chương trình sách
giáo khoa, các lớp tập huấn, bồi dưỡng bàn đến khá nhiều.
+ Phần Học vần: Học sinh tập viết chữ cỡ vừa theo nội dung từng bài học
âm, vần trong sách giáo khoa Tiếng Việt 1 tập một, tập hai và theo yêu cầu của tiết
tập viết ở từng tuần học, cụ thể:
. Từ bài 1 đến bài 27: Học sinh tập viết chữ cái ngay trong giờ âm và chữ ghi
âm, theo nội dung bài học tương ứng trong sách giáo khoa.
Ví dụ: Bài 7 học sinh tập viết hai chữ cái ê, v và hai từ bê, ve theo nội dung
bài 7 trong sách giáo khoa Tiếng Việt 1, tập một: ê v bê ve. Hai tuần có 2 tiết Tập
viết riêng (sau 9 bài học), học sinh tập viết các từ ứng dụng nhằm ôn các chữ cái đã
học và luyện tập về kỹ thuật viết liền mạch (nối các chữ trong chữ ghi tiếng).
. Từ bài 29 đến bài 103: Học sinh tập viết chữ ghi vần, tiếng ngay trong giờ
học vần, theo nội dung bài học tương ứng trong sách giáo khoa.
Ví dụ: Bài 70 học sinh tập viết 2 vần: ôt - ơt và 2 từ: cột cờ, cái vợt theo nội
dung bài 70 trong sách giáo khoa Tiếng Việt 1, tập một. Hai tuần có 2 tiết Tập viết
hướng dẫn của giáo viên; cầm và điều khiển viên phấn đúng cách.
. Viết xong cần kiểm tra lại, tự nhận xét và bổ sung chỗ còn thiếu, giơ bảng
ngay ngắn để giáo viên kiểm tra, nhận xét.
. Đọc lại chữ đã viết trước khi xóa bảng; xóa bảng hợp vệ sinh; để bảng đúng
chỗ khi đã dùng xong.
+ Vở tập viết, bút chì, bút mực
. Vở tập viết cần được giữ gìn sạch sẽ, không để quăn góc hoặc làm bẩn.
. Bút chì cần được gọt cho cẩn thận (không nhọn quá hay tày quá) để dễ viết
rõ nét chữ. Kích thước thân bút phải tương ứng với kích thước tay học sinh.
. Bút mực: mực phải xuống đều.
* Thực hiện đúng quy định khi viết chữ
Giáo viên phải thường xuyên quan tâm đến việc bảo vệ sức khoẻ cho học
sinh trong quá trình tập viết chữ, công việc này thể hiện qua các bước cụ thể như
sau:
+ Tư thế ngồi viết: Tôi hướng dẫn học sinh một cách tỉ mỉ về tư thế ngồi
viết: lưng thẳng, không tì ngực vào bàn; đầu hơi cúi, mắt cách vở khoảng 25-30
cm; tay phải cầm bút, tay trái tì nhẹ lên mép vở để trang viết không bị xê dịch; hai
chân song song thoải mái. Chú ý rèn tư thế viết thật thoải mái, không gò ép, cứng
nhắc dễ làm các em bị mệt mỏi, căng thẳng khi viết.
+ Cách cầm bút: Tôi hướng dẫn học sinh cầm bút bằng ba ngón tay (ngón
cái, ngón trỏ và ngón giữa với độ chắc vừa phải nhẹ nhàng từ trái sang phải ( chú ý
không nhấn mạnh đầu bút xuống mặt giấy), cán bút nghiêng về bên phải, cổ tay,
khuỷu tay và cánh tay cử động theo mềm mại, thoải mái, không nên cầm bút tay
trái.
+ Bàn ghế: kích thước bàn ghế phải phù hợp với độ cao của từng đối tượng
học sinh để học sinh ngồi viết đúng tư thế, dáng ngồi thẳng đứng, tránh cong vẹo
cột sống.
+ Vở Tập viết: Phải do nhà xuất bản Giáo Dục ấn hành, in sẵn chữ mẫu thể
hiện nội dung và yêu cầu của bài Tập viết.
- Vấn đề thứ tư: Giáo viên phải quan tâm giúp đỡ học sinh, gọt bút chì khi
bút bị hỏng để tạo cho các em có một tâm lý vui vẻ, thoải mái, phấn khởi được
giáo viên quan tâm khi viết chữ. Từ đó, các em học tập tích cực và viết chữ đẹp.
Cụ thể: Ở năm học này lớp tôi có em Trúc Ly, Hân, Tài, Tín, Vy, Thịnh, Lan,
Nguyên viết chữ rất xấu, chậm và không đúng mẫu. Các em lại có tính nhút nhát,
bút của các em thường bị gãy, các em thường khóc và không viết kịp bài. Tôi đến
gọt bút cho các em, cầm tay hướng dẫn các em viết từng nét chữ, lưu ý lại độ cao
từng con chữ. Dần dần, các em viết đẹp, viết đúng mẫu chữ và tốc độ viết cũng
nhanh dần lên, các em trở nên mạnh dạn tự tin không còn khóc mỗi khi viết bài.
- Vấn đề thứ năm: Giáo viên giúp học sinh nắm vững các nét cơ bản, độ cao
từng con chữ theo Quyết định số 31/2002/QĐ-BGD&ĐT. Từ đó các em sẽ có kỹ
năng phân tích cấu tạo chữ viết và thực hiện viết theo qui trình hợp lý, chủ động
được nét bút của mình. Đây là điều cơ bản để giúp học sinh đúng, viết đẹp.
* Giáo viên giúp các em viết đúng, biết và nhớ được tên gọi của các nét cơ
bản, cụ thể là:
Nét ngang:
Nét thẳng:
Nét móc hai đầu có thắt ở giữa:
Nét móc trên:
Nét móc dưới:
* Kĩ thuật nối chữ: Quá trình hướng dẫn học sinh về kĩ thuật nối chữ được
thực hiện qua các trường hợp như sau:
+ Trường hợp 1: Nét móc của chữ cái trước nối với nét móc (nét hất) đầu
tiên của chữ cái sau.
Ví dụ: Khi viết: an (a - n = an), im (i - m = im), ai (a - i = ai), tư (t - ư = tư)
tôi hướng dẫn học sinh viết như sau:
+ Trường hợp 2: Nét cong cuối cùng của chữ cái trước nối với nét móc đầu
tiên của chữ cái sau.
Ví dụ: Khi viết: em (e - m = em), cư (c - ư = cư), ơn (ơ - n = ơn), oi (o - i =
oi) tôi hướng dẫn học sinh như sau:
+ Trường hợp 3: Nét móc (hoặc nét khuyết) của chữ cái trước nối với nét
cong của chữ cái sau.
Ví dụ: Khi viết: ác (a – c = ac), họ (h – o = ho), ga (g – a = ga), yêu (y – ê =
yê) tôi hướng dẫn học sinh viết như sau:
+ Trường hợp 4: Nét cong của chữ cái trước nối với nét cong của chữ cái
sau.
Ví dụ: Khi viết: oe (o – e = oe), oa (o – a = oa), xo (x – o = xo), eo (e – o =
eo) tôi hướng dẫn học sinh viết như sau:
* Cách viết liền mạch: Viết liền mạch là viết tất cả các hình cơ bản của chữ
cái trong một chữ ghi tiếng rồi sau đó mới đặt dấu theo trình tự dấu phụ trước (từ
trái sang phải), dấu thanh sau.
Ví dụ: Khi viết chữ ghi tiếng ruộng giáo viên cần hướng dẫn học sinh viết
liền mạch các hình cơ bản của chữ cái thành ruong, sau đó đặt dấu mũ trên o và
dấu nặng dưới ô để thành ruộng
thực hành, phương pháp trò chơi,...
Ví dụ: Khi hướng học sinh tô chữ hoa A, tôi sử dụng phương pháp trực quan:
tôi viết chữ hoa A mẫu trên bảng lớp. Và tôi đưa ra hệ thống câu hỏi: “Chữ hoa A
gồm những nét nào? Chữ hoa A cao mấy dòng li? Nét nào tô trước, nét nào tô
sau?” Nếu học sinh không nhớ một cách chính xác các câu hỏi thì giáo viên định
hướng câu trả lời cho các em. Sau đó tổ chức cho các em luyện tập thực hành viết
trên không, tô vào vở Tập viết.
- Vấn đề thứ chín: Trong quá trình lên lớp, cần thiết chuẩn bị một số trò chơi
trong tiết dạy Tập viết : thi viết đúng, đẹp, nhanh, dùng hộp quay ghép chữ,….để
tạo không khí vui tươi, thoải mái trong tiết học, tạo sự ham thích viết chữ và để học
sinh không nhàm chán trong giờ học. Kết hợp việc giảng dạy phân tích viết mẫu
với việc luyện tập trên bảng con của học sinh trong cùng một nội dung. Hướng dẫn
học sinh luyện tập thực hành từ thấp đến cao để học sinh dễ tiếp thu. Theo dõi, uốn
nắn, sửa sai cho học sinh từng lúc trên bảng, trong vở. Chú ý đặc biệt đến học sinh
yếu, học sinh không biết cầm viết. Giáo viên cần động viên, khuyến khích, giúp đỡ
học sinh từng lúc. Khen ngợi, tuyên dương để khích lệ tinh thần học tập, viết chữ
đẹp của các em. Sự nỗ lực, kiên trì của học sinh cũng góp phần không nhỏ trong
việc viết chữ đẹp và học tập của các em.
Chẳng hạn: Khi dạy Tập viết tôi tổ chức cho các em thi viết đúng viết đẹp ở
cuối tiết để tạo không khí vui tươi trong học tập; cho học sinh xem vở bạn viết đẹp;
trưng bày bài viết đẹp của học sinh lên tường và tuyên dương khen ngợi học sinh.
Chụp ảnh một số học sinh có tư thế ngồi viết đúng dán trên tường để học sinh ham
thích và tạo thói quen đúng khi viết chữ cho các em. Đồng thời báo với phụ huynh
để khen ngợi học sinh kịp thời.
* Việc rèn luyện kỹ năng viết cho học sinh phải được tiến hành đồng bộ ở
lớp, ở nhà (giáo viên hướng dẫn, trao đổi những vấn đề cốt yếu để có thể vận động
phụ huynh hỗ trợ học sinh rèn chữ viết thêm ở nhà, xây dựng góc học tập cho học
sinh thích hợp, đúng cách…).
- 1 học sinh đọc từ.
- Gọi học sinh phân tích từ. Nhận xét.
- Học sinh phân tích.
- Gọi học sinh phân tích tiếng trong từ. Nhận xét.
- Học sinh phân tích.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh cách viết từ, lưu
ý độ cao con chữ b, p, h.
- Cho học sinh viết từ. Nhận xét.
- Lớp viết bảng con.
- Giáo viên đính từ: tốp ca. Gọi học sinh đọc.
- Học sinh đọc.
- Cho học sinh phân tích từ, nêu cách viết tiếng,
- Học sinh phân tích, nêu.
từ. Nhận xét.
- Giáo viên lưu ý độ cao con chữ t, p.
- Cho học sinh viết từ.
- Học sinh viết bài.
sinh.
- Giáo viên chấm bài, nhận xét sửa sai các lỗi
học sinh mắc phải.
- Cho học sinh xem vở viết đúng, đẹp, khen ngợi
- 5 tập.
tuyên dương học sinh., động viên nhắc nhở học
sinh cố gắng viết đẹp hơn.
3.Nhận xét,dặn dò: 2p
- Giáo viên nhận xét tiết học.
- Dặn học sinh về viết tiếp (nếu chưa viết đủ số
dòng) và tập viết lại bài cho đẹp.
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
- Qua việc thực hiện những biện pháp trên, chất lượng chữ viết của học sinh
lớp tôi phụ trách cũng tăng dần lên rõ rệt. Trong đợt thi viết chữ đẹp chào mừng
ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 năm nay lớp tôi có ba học sinh tham dự và đạt giải
hai học sinh, hiện đang tiếp tục rèn luyện để dự thi cấp huyện.
- Đầu năm học sinh lớp tôi phụ trách viết chữ rất xấu và không đúng
mẫu.Tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng chữ viết của 36 học sinh lớp mình phụ
trách với kết quả vở sạch chữ đẹp như sau:
+ Loại A: 10HS – 27.8 %.
+ Loại B: 17HS – 47.2 %.
+ Loại C: 9HS – 25 %.
- Sau khi thực hiện đề tài này đến cuối học kỳ I chất lượng chữ viết của học
sinh lớp tôi đạt được như sau:
quá trình đổi mới phương pháp dạy học môn Tập viết lớp 1, tạo điều kiện cho học
sinh chủ động tự quan sát, tự nhận xét, ghi nhớ qua hướng dẫn của giáo viên.Với
những biện pháp trên, chữ viết của học sinh dần dần đạt đến độ chuẩn và đẹp. Điều
cần lưu ý là để rèn chữ viết cho học sinh đòi hỏi giáo viên phải rèn xuyên suốt
trong lớp học, cấp học chứ không phải dừng lại ở lớp 1 và vấn đề còn đặt ra ở chỗ
nhà trường phải có quy hoạch phân công, bố trí cho giáo viên đáp ứng yêu cầu rèn
chữ viết cho học sinh. Mặt khác chúng ta cần lưu ý : đối với học sinh lớp 1 nói
riêng, bậc Tiểu học nói chung, sự nghiêm khắc của giáo viên về chất lượng chữ
viết ở tất cả các môn học là cần thiết. Có như vậy, việc rèn chữ viết mới được củng
cố, đồng bộ và thường xuyên.Việc làm này đòi hỏi người giáo viên ngoài những
hiểu biết về chuyên môn còn cần có sự kiên trì, tận tụy với nghề, chu đáo, cẩn thận
và giàu lòng yêu mến trẻ.
III. Khả năng ứng dụng, triển khai.
Tôi thiết nghĩ quá trình này giúp tôi rút ra nhiều bài học có thể coi là kinh
nghiệm của bản thân nhưng đem lại hiệu quả cao, xin giới thiệu với đồng nghiệp
tham khảo trao đổi thêm và được nhân rộng ra ở các lớp trong tổ, các trường trong
huyện nhà để việc rèn chữ viết cho tất cả học sinh đạt dần đến độ chuẩn hơn trước.
IV. Những kiến nghị, đề xuất:
- Cần duy trì “Hội thi Viết đúng viết đẹp” hàng năm tại huyện nhà.
- Cần cung cấp bàn ghế đáp ứng phù hợp với nhu cầu về thể lực của học
sinh.
- Giảm bớt số lượng học sinh ở mỗi lớp thì việc rèn chữ viết cho học sinh
càng thuận lợi hơn.
MỤC LỤC
Nội dung
Phần mở đầu
3
II. Thực trạng của vấn đề
3
1. Khó khăn
3
2. Thuận lợi
3-4
III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Phần kết luận
5 - 16
16
17 - 18
I. Những bài học kinh nghiệm
17
II. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm
17
Tên sáng kiến: Một số biện pháp giúp học sinh lớp Một viết chữ
rõ ràng, sạch đẹp.
Mã số:……………………………….
1.Tình trạng giải pháp đã biết:
Hiện nay ở trường Tiểu học tình trạng học sinh viết chữ chưa rõ ràng sạch
đẹp; ngồi viết chưa đúng tư thế; cách cầm bút, đặt vở chưa đúng quy định lại khá
phổ biến. Để khắc phục tình trạng trên tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Một số
biện pháp giúp học sinh lớp Một viết chữ rõ ràng, sạch đẹp”. Đề tài này khi thực
hiện có những ưu, khuyết điểm sau:
Ưu điểm
- Học sinh khi vào lớp Một đều được học qua lớp mẫu giáo, đều biết được
mặt chữ và biết được một số chữ ghi âm Tiếng Việt.
- Đa số học sinh vào học lớp Một đã biết cầm bút.
- Các bậc phụ huynh hầu hết đều quan tâm đến việc học tập của con em mình
đặc biệt là vấn đề chữ viết.
- Trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học tương đối tốt.
- Phong trào viết đúng, viết đẹp, giữ vở sạch được các cấp lãnh đạo quan tâm.
Khuyết điểm
- Do chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập (từ lớp mẫu giáo
sang lớp 1) nên sự tập trung chú ý của trẻ học lớp Một kém. Do đó khi tiếp thu kỹ
thuật viết chữ giáo viên cung cấp trẻ còn gặp nhiều lúng túng; các em viết chữ còn
thừa nét, thiếu nét và viết chữ chưa liền nét chưa đều nét.
- Các em ngồi viết chưa đúng tư thế, cầm bút và đặt vở chưa đúng cách.
- Sĩ số học sinh trong lớp còn khá đông nên việc rèn chữ viết rõ ràng, sạch
đẹp cho học sinh chưa thật sâu sát.
- Bàn ghế cùng một kích cỡ chưa đáp ứng phù hợp với nhu cầu về thể lực của
+ Thực hiện đúng quy định khi viết chữ để bảo vệ sức khỏe cho học sinh
trong quá trình tập viết chữ, công việc này thể hiện qua các bước cụ thể là: kiên trì
hướng dẫn học sinh về tư thế ngồi viết; cách cầm bút; cách để vở, xê dịch vở khi
viết; rèn viết chữ trên bảng và trong vở theo đúng quy trình kĩ thuật; rèn cách trình
bày bài viết,….
Mặc khác giáo viên cần phát hiện và uốn nắn kịp thời những em thực hiện
đúng quy định khi viết chữ. Đối với những em mắt bị kém hay có dấu hiệu bị cận
thị thì phải quan tâm đến các em nhiều hơn để điều chỉnh tư thế ngồi viết cho đúng.
- Thứ ba là giáo viên cần quan tâm đến các điều kiện về cơ sở vật chất phục
vụ cho việc rèn chữ viết của học sinh. Cụ thể như: phòng học ánh sáng phải có đủ
cho tất cả học sinh; bảng lớp chống lóa mắt các em; dùng phấn không bụi, bông lau
sạch sẽ; bàn ghế phải phù hợp với thể lực của từng học sinh; vở tập viết phải do
nhà xuất bản Giáo dục ấn hành.
- Vấn đề thứ tư: Giáo viên cần quan tâm giúp đỡ, gần gũi học sinh trong quá
trình viết chữ tạo cho các tâm trạng thoải mái vui vẻ. Chẳng hạn: gọt bút hộ các
em, hướng dẫn và can thiệp kịp thời khi các em gặp khó khăn, cầm tay giúp em
viết chữ đúng mẫu, hướng dẫn học sinh cách bôi xóa hợp vệ sinh,….
- Vấn đề thứ năm: Giáo viên giúp học sinh nắm vững các nét cơ bản và độ
cao từng con chữ theo Quyết định số 31/2002/QĐ-BGD&ĐT.
+ Giáo viên hướng dẫn các em viết đúng, biết và nhớ được tên gọi các nét cơ
bản.
+ Giáo viên phải hướng dẫn kỹ để học sinh nắm vững độ cao các con chữ.
- Vấn đề thứ sáu: Giáo viên hướng dẫn các em từng bước làm quen và thực
hiện được các kĩ thuật nối chữ, cách viết liền liền mạch các con chữ trong tiếng và
cách ghi dấu thanh đúng vị trí để trau dồi kĩ năng viết chữ ngày càng thành thạo.
Đồng thời giáo viên còn phải hướng dẫn và nhắc nhở học sinh viết chữ đều nét,
khoảng cách giữa các chữ sao cho đều đặn, hợp lý. Khoảng cách giữa các chữ ghi
tiếng được ước lượng bằng chiều rộng của một chữ cái o viết thường.