SKKN một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 viết đúng chính tả - Pdf 22

SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
II. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Tầm quan trọng của phân môn chính tả:
Phân môn chính tả có một vị trí rất quan trọng ở bậc tiểu học vì giai đoạn tiểu
học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tả cho học
sinh. Chính tả được bố trí thành một phân môn độc lập, có tiết dạy riêng trong
khi bậc trung học cơ sở không có.
Phân môn chính tả ở chương trình tiểu học có hai kiểu bài là chính tả đoạn bài
và chính tả âm vần. Nội dung các bài chính tả âm vần là luyện viết đúng chữ ghi
tiếng có âm, vần, thanh dễ viết sai chính tả. Thời gian dành cho bài tập chính tả
âm vần dù là rất ngắn so với chính tả đoạn bài song việc rèn kĩ năng qua bài tập
đó có ý nghĩa rất lớn đối với học sinh. Qua các bài tập chính tả âm, vần các em
được rèn luyện để tránh việc viết sai chính tả các chữ ghi tiếng có âm, vần, thanh
dễ lẫn nhằm đạt mục tiêu môn học.
Tính chất nổi bật của phân môn chính tả là thực hành bởi vì chỉ có thể hình
thành các kĩ năng kĩ xảo cho học sinh thông qua thực hành, luyện tập.
2. Lí do chọn đề tài:
Căn cứ vào mục tiêu dạy môn Tiếng Việt nói chung và nhiệm vụ chủ yếu nói
riêng của phân môn Chính tả lớp Ba. Ngoài kĩ năng rèn học sinh đọc thông
chúng ta còn rèn cho học sinh viết thạo, viết đúng chính tả, rèn cho học sinh một
số phẩm chất như tính cẩn thận, tính thẩm mĩ. Ngoài việc nắm vững vị trí, nhiệm
vụ, tính chất, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy phù hợp, GV còn
phải nắm vững các nguyên tắc dạy chính tả Tiếng Việt.
Dạy chính tả là một quá trình rèn luyện lâu dài, không chỉ ở giờ chính tả mà
có thể rèn luyện phân tích từ phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn.
Ví dụ một học sinh làm một bài văn rất hay nhưng mắc nhiều lỗi chính tả thì bài
văn đó không đạt điểm cao. Ví dụ cụ thể hơn nữa là học sinh dự thi viết chữ đẹp
cấp huyện dù chữ có đẹp bao nhiêu nhưng mắc một vài lỗi chính tả thì cũng
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
không đem lại kết quả. Nếu một em viết sai nhiều lỗi chính tả (từ 5 lỗi trở lên)
thì không thể học tốt các môn học khác.

cùng phong phú.
- Đa số gia đình các em sống về nghề nông còn nghèo, cha mẹ còn lo đi làm
đồng để kiếm sống, chưa thực sự quan tâm đến việc học của các em.
- Phần đông học sinh lớp chưa có ý thức về học chính tả.
3. Khảo sát thực trạng:
Để xây dựng được kế hoạch thực hiện nghiên cứu biện pháp: “Rèn học sinh
viết đúng chính tả” cho học sinh của lớp, tôi đã tiến hành khảo sát tình hình thực
tế việc viết chính tả của học sinh ngay từ đầu năm học. Qua khảo sát đầu năm tôi
thống kê học sinh còn mắc lỗi chính tả rất nhiều, có một số học sinh viết sai 14
lỗi trong một bài chính tả. Cụ thể khảo sát chất lượng môn Tiếng Việt đầu năm
trong đó có bài viết chính tả tôi thống kê số lỗi chính tả như sau:
Tổng số HS
đầu năm
Học lực phân môn chính tả đầu năm
22
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL TL SL TL SL TL SL TL
4 18,2% 6 27,3% 3 13,6% 9 40,9%
Cụ thể qua bài chính tả khảo sát đầu năm số lỗi học sinh còn mắc lỗi rất nhiều
(có 2 em mắc đến 14 lỗi).
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
Số lỗi học sinh sai qua bài viết: sai 0 - 1 lỗi (4 em)
2 - 3 lỗi (6 em)
4 - 5 lỗi (3 em)
6 - 10 lỗi (5 em)
11- 14 lỗi (4 em) trong đó: một em mắc 11
lỗi, một em mắc 12 lỗi và hai em mắc 14 lỗi.
Điều đó cho thấy kĩ năng viết của các em còn hạn chế làm ảnh hưởng tới kết
quả học tập ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác.
4. Nhận định nguyên nhân:

+ ăm/âm: đỏ thấm (đỏ thắm); tối tâm (tối tăm).
+ăp/âp: gập gỡ (gặp gỡ).
+ ip/iêp: nhân diệp (nhân dịp).
+ ui/ uôi: cuối đầu (cúi đầu); cúi cùng (cuối cùng).
+ ưi/ ươi: trái bửi (trái bưởi); khung cưỡi (khung cửi).
+ ưu/ươu: mươu trí (mưu trí); con hưu (con hươu).
d) Về âm cuối:
Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ at/ac: đất các (đất cát).
+ an/ang: cái bàng (cái bàn).
+ ăt/ăc: mặt quần áo (mặc quần áo).
+ ăn/ăng: khăng quàng (khăn quàng).
+ ât/âc: gậc đầu (gật đầu).
+ ân/âng: vân lời (vâng lời).
+ êt/êch: lệch bệt (lệt bệt)
+ ên/ênh: bện tật (bệnh tật).
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
+ iêt/iêc: thiếc tha (thiết tha).
+ uôn/uông: mong muống (mong muốn).
+ uôt/uôc: suốc đời (suốt đời).
+ ươn/ương: vường rau (vườn rau).
e) Lỗi viết hoa:
Đây là loại lỗi phổ biến và trầm trọng nhất trong các bài viết của các em, trong
tất cả bài viết của học sinh trong lớp thì chỉ có một em duy nhất không sai lỗi
nào đó là em: Bùi Như Phúc.
Lỗi viết hoa của các em thường gặp ở 2 dạng:
• Không viết hoa đầu câu, danh từ riêng (tên riêng), tên địa danh:
*Ví dụ: Dạy Chính tả (Nghe - viết): Chiếc áo len - Viết đoạn 4 (TV3-T1, tr.20).
- Câu: Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, Lan ân hận quá. Học sinh
viết: “Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, lan ân hận quá”.

Song song với việc luyện phát âm cho học sinh, khâu phân tích so sánh tiếng, từ
cũng rất quan trọng trong giờ học chính tả: với những tiếng khó, giáo viên áp dụng
biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh. Với những tiếng dễ lẫn lộn, giáo viên
cần nhấn mạnh những điểm khác để học sinh ghi nhớ.
* Ví dụ : Dạy bài Chính tả (Tập chép): Cậu bé thông minh – TV3 -Tập 1, tr.4
Cho học sinh nhìn bảng viết đoạn 3: từ “Hôm sau …đến xẻ thịt chim”.Trước khi
viết bài, giáo viên phân tích cho học sinh hiểu nghĩa một số tiếng dễ lẫn lộn như:
+ rèn ≠ rằn. Giúp học sinh hiểu nghĩa rèn trong câu là làm cho con dao sắc bén
còn rằn là rằn ri. Nếu học sinh khó hiểu có thể cho học sinh đặt câu để hiểu rõ hơn
(Mẹ tôi rèn chiếc dao này thật bén – Cu Tuấn mặc bộ đồ rằn đỏ).
+ sắc ≠ sắt: sắc là sắc bén còn sắt là thanh sắt (vật kim loại).
+ xẻ (thịt chim) ≠ sẻ: xẻ là mổ xẻ, bổ ra còn sẻ là chim sẻ, san sẻ.
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
Qua phần bài tập: Điền vào chỗ trống vần an hay ang?
- đ .`… hoàng.
- đ .`… ông.
- s …loáng.
Học sinh tiến hành làm bài tập, sau đó giáo viên sửa bài và cho học sinh phân
tích từ:
- đàng hoàng ≠ đàn (tiếng đàn)
- đàn ông ≠ đàng (đường)
- sáng loáng ≠ sán (sán: giun, lãi) nghĩa khác là tiến đến gần.
* Dạy bài: Nghe – viết: Ông ngoại - (TV3 - Tập 1, tr.34) – Chép đoạn 3
Trong đoạn viết có câu: “Trong cái vắng lặng của ngôi trường cuối hè, …trong
đời đi học của tôi sau này”.
Khi viết tiếng “lặng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “lặn”, giáo viên yêu cầu học
sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- Lặng = L + ăng + thanh nặng
- Lặn = L + ăn + thanh nặng
So sánh để thấy sự khác nhau, tiếng “lặng” có âm cuối là “ng” còn tiếng “lặn” có

s (sắn, sung, sầu riêng, sứ, sả, sim, sậy, …; sáo, sên, sâu, sán, sóc, sói, sư tử,…).
b) Phân biệt âm đầu tr/ch : Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều
bắt đầu bằng ch (chổi, chum, chén, chảo, chai, chày, chăn, chiếu,…; chó, chuột,
châu chấu, chuồn chuồn, chào mào, chiền chiện,…).
c) Luật trầm – bổng (luật hỏi – ngã trong từ láy) :
Có thể cho học sinh học thuộc hai câu thơ sau:
Chị Huyền mang Nặng Ngã đau
Anh Ngang, Sắc thuốc Hỏi đau chỗ nào.
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
Nghĩa là: Thanh Huyền, Nặng, Ngã kết hợp với dấu Ngã.
Thanh Ngang, Sắc, Hỏi kết hợp với dấu Hỏi.
* Ví dụ: Âm trầm
+ Huyền – Ngã: vững vàng, vẽ vời, vồn vã, lững lờ, sẵn sàng,…
+ Nặng – Ngã: đẹp đẽ, nhẹ nhõm, mạnh mẽ, lạnh lẽo, vội vã,…
+ Ngã – Ngã: dễ dãi,, nhõng nhẽo, lỗ lã, nghễnh ngãng,…
* Ví dụ: Âm bổng
+ Huyền – Hỏi: vui vẻ, nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo,…
+ Sắc – Hỏi: vắng vẻ, mát mẻ, nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vất vả,…
+ Hỏi – Hỏi: hổn hển, lỏng lẻo, thỏ thẻ, thủ thỉ, rủ rỉ,…
Cũng có thể cung cấp thêm cho học sinh mẹo luật sau:
Từ có âm đầu là M, N, Nh, V, L, D, Ng thì viết là dấu ngã (Mình Nên Nhớ Viết
Là Dấu Ngã).
*Ví dụ: M: mĩ mãn, mã lực, từ mẫu, cần mẫn,…
N: nỗ lực, trí não, truy nã, nữ giới,…
Nh: nhẫn nại, nhẵn bóng, quấy nhiễu, nhõng nhẽo,…
V: vĩnh viễn, vỗ về, vũ trang, võ nghệ, vũ trụ,…
L: lễ phép, lữ hành, kết liễu, thành lũy, lạnh lẽo, …
D: dã man, dã tràng, dũng cảm, dỗ dành, hướng dẫn, diễm lệ,…
Ng: ngưỡng mộ, hàng ngũ, ngữ nghĩa, ngôn ngữ, ngỡ ngàng, ngã (té),
Ngoài 7 âm đàu trên các từ Hán Việt đều viết dấu hỏi:

với các nghĩa là “nhà” (ví dụ: gia đình), chỉ người có học vấn, chuyên môn (ví dụ:
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
chuyên gia), nghĩa khác (gia vị, gia súc,…) Sau phần bài viết tôi tự ra bài tập để
các em hiểu thêm. Nội dung bài tập như sau:
* Điền vào chỗ trống r, d hay gi ?
- …a vào; …a dẻ;…a đình.
- …a rả; …a thịt, tham …a.
* Điền vào chỗ trống en hay eng ? (BT 2b – TV 3, tập 1, tr. 41)
- Tháp Mười đẹp nhất bông s…
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.

- Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây ch…đá lá ch…hoa .
* Điền vào chỗ trông iên hay iêng ? (Bài tập 2b – TV3, Tập 1, tr. 56)
Trên trời có g… nước trong.
Con k… chẳng lọt, con ong chẳng vào.
* Điền vào chỗ trống en hay oen ? (Bài tập 2 – TV3, Tập 1, tr. 60)
- nhanh nh ., nh… miệng cười, sắt h….gỉ, h  nhát.
b) Bài tập tìm từ:
Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi ý từ
cùng nghĩa, trái nghĩa:
* Bài tập 3a) - TV3, Tập 1, tr. 52
Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng s hoặc x có nghĩa như sau:
- Cùng nghĩa với chăm chỉ : …
- Trái nghĩa với gần : …
- (Nước) chảy rất mạnh và nhanh : …
* Bài tập 3b) - TV3, Tập 1 tr. 31
Tìm các từ chứa tiếng có vần ân hoặc âng có nghĩa như sau:
- Cơ thể của người: …
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ

- (bão, bảo) : Mọi người … nhau dọn dẹp đường làng sau cơn …
- (vẽ, vẻ) : Em … mấy bạn … mặt tươi vui đang trò chuyện.
- (sữa, sửa): Mẹ em cho em bé uống … rồi … soạn đi làm.
g) Bài tập đặt câu (Bài tập phân biệt):
Với dạng bài tập này sang HKII, học sinh làm quen với bài tập: tập đặt câu để
phân biệt hai từ trong từng cặp từ để hiểu nghĩa của từng cặp từ.
* Bài tập 3b) - TV3, Tập 2, trang 48 (Tuần 23).
Đặt câu phân biệt hai từ trong từng cặp từ sau:
+ trút – trúc; lụt – lục
* Ví dụ: + trút: Trời mưa như trút nước.
+ trúc: Bố em có cây sáo trúc.
+ lụt: Năm nay ở nước ta có nhiều lũ lụt.
+ lục: Bé lục tung đồ đạt trong nhà.
h) Một số bài tập ngoài giờ học chính khóa :
Ngoài các bài tập trên, giáo viên còn tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi
viết đúng chính tả qua các buổi học phụ đạo với các dạng bài tập ngoài bài. Nội
dung các bài tập giáo viên đưa ra phải phù hợp với từng đối tượng học sinh nhằm
gây sự hứng thú trong giờ học, cụ thể các bài tập sau:
● Bài tập trắc nghiệm :
Khoanh tròn vào chữ cái trước từ ngữ viết đúng chính tả:
a - suy nghỉ b - nghĩ hè c - nghỉ phép
d - im lặn e - lặn lội g - vắng lặn
h - muối cam i - hạt múi k - sương muối
Đáp án: khoanh vào c, e, k
● Bài tập điền Đúng – Sai :
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
Điền chữ Đ vào ô trống trước những chữ viết đúng chính tả và chữ S vào ô trống
trước những chữ viết sai chính tả:
a chim xẻ mổ xẻ Đáp án: S chim xẻ Đ mổ xẻ
dìu dắt dìu biếc

Có học sinh viết: Hoạt động nông ngiệp
+ Dạy Thủ công: Gấp, cắt, dán bông hoa
Học sinh lại viết: Gấp, cắt, dáng bông hoa
+ Dạy Toán : Khi giải bài toán học sinh thường viết sai tên đơn vị như:
“tuổi” lại viết “tủi”, “mét” lại viết “mết". Giáo viên cần sửa chữa kịp thời để các
em không mắc lại lần nữa
Giáo viên còn sửa chữa lỗi sai trong vở bài tập Luyện từ và câu và nhất là phân
môn Tập làm văn, giáo viên cần chú ý hơn vì nếu các em viết văn sai âm, vần,
thanh thì nghĩa sẽ khác đi, bài văn đó sẽ không hoàn hảo và người đọc sẽ không
hiểu ý bài văn viết gì.
Giáo viên cần khuyến khích học sinh không sai lỗi trong vở học sẽ được khen
thưởng bằng những phần thưởng nhỏ như: cục tẩy, nhãn tên, viên phấn,…Với
những em vở được xếp loại A cuối mỗi tháng, giáo viên tuyên dương trước lớp
để cả lớp nêu gương.
2. Tổ chức dạy học:
a) Hướng dẫn viết và chữa bài:
* Chuẩn bị và nghe viết chính tả:
- Cho học sinh đọc bài chính tả sẽ viết (SGK), nắm nội dung chính của bài viết.
- Hướng dẫn học sinh nhận xét những hiện tượng chính tả trong bài.
- Luyện viết những chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn (tiếng mang vần khó, tiếng có
âm, vần dễ viết sai do ảnh hưởng của phương ngữ hay thói quen).
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
- Khi đọc cho học sinh viết bài, giáo viên cần phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải,
tạo điều kiện cho học sinh chú ý đến những hiện tượng chính tả cần viết đúng.
* Chữa bài:
- Cho học sinh tự chữa lỗi của mình qua bài mẫu trên bảng cụ thể, chu đáo,
không sửa qua loa, lấy lệ và hướng dẫn kĩ để học sinh dễ nhớ.
- Sửa lỗi chính tả theo nhóm, phân những học sinh thường cùng mắc một loại lỗi
chính tả thành một nhóm. Mỗi nhóm do một em khá, giỏi trong lớp phụ trách
dưới sự gợi ý của giáo viên, nhóm trưởng hướng dẫn các bạn trong nhóm phát

2, 3 lỗi (Nguyễn Việt Quang, Nguyễn Đinh Bin…), những em sai 2, 3 lỗi nay
không còn sai lỗi nào hoặc chỉ mắc 1 lỗi (Trần Văn Khánh, Bùi Trần Lan
Hương,…). Bài viết của các em đính kèm ở phụ lục.
Kết quả học lực phân môn chính cụ thể qua từng đợt kiểm tra như sau:
Thời điểm
Số
lượng
Học lực phân môn chính tả
GIỎI KHÁ TR. BÌNH YẾU
SL TL SL TL SL TL SL TL
K.sát ĐN 22 4 18,2% 6 27,3% 3 13,6% 9 40,9%
Giữa HKI 22 6 27,3% 7 31,8% 4 18,2% 5 22,7%
Cuối HKI 22 9 40,9% 8 36,4% 3 13,6% 2 9,1%
Từ kết quả học lực của phân môn chính tả dần dần giảm lỗi dẫn đến chất
lượng học Tiếng Việt của lớp có tiến bộ rõ rệt qua từng đợt kiểm tra như sau:
Số Học lực môn Tiếng Việt
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
Thời điểm lượng GIỎI KHÁ TR. BÌNH YẾU
SL TL SL TL SL TL SL TL
K.sát ĐN 22 3 13,6% 8 36,4% 6 27,3% 5 22,7%
Giữa HKI 22 5 22,7% 9 40,9% 5 22,7% 3 13,6%
Cuối HKI 22 7 31,8% 11 50% 3 13,6% 1 4,6%
Với kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy lớp Ba, tôi cũng đã áp dụng một số
biện pháp này vào các giờ học chính tả cụ thể như: năm học 2010 – 2011, chất
lượng học phân môn Chính tả đạt kết quả cao (qua đợt khảo sát CSTĐ của
Phòng giáo dục dự giờ tiết chính tả, lớp tôi đạt 20/25 học sinh có 0 - 1 lỗi, 3/25
học sinh có 2 - 3 lỗi, 2/25 học sinh mắc 4 lỗi không có học sinh yếu về chính tả.
Chính nhờ viết chính tả đúng và đẹp nên lớp tôi 5 năm liền có học sinh đạt
giải “Hội thi vở sạch – chữ đẹp” cấp huyện.
VII. KẾT LUẬN:

vở Luyện từ và câu).
- Sắm một cuốn sổ tay chính tả (dùng viết những từ khó có trong bài Tập đọc và
bài Chính tả).
- Sắm đầy đủ dụng cụ học chính tả như: bút chì (chấm bài cho bạn), bảng con,
phấn, giẻ lau bảng (viết từ khó trước khi viết chính tả).
- Nhắc nhở các em tự học ở nhà, đọc trước các bài Tập đọc và luyện viết các từ
khó có trong bài Tập đọc hoặc trong bài Chính tả.
- Rèn cho các em thói quen nói từ đúng, câu hay khi giao tiếp trong gia đình.
2. Đối với nhà trường:
- Ban giám hiệu chỉ đạo cho Cán bộ thư viện mua sắm đầy đủ sách tham khảo,
tài liệu, từ điển (Chính tả) Tiếng Việt để giáo viên mượn và sử dụng trong giảng
dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Chính tả nói riêng.
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
- Hiệu phó chuyên môn mở chuyên đề phân môn chính tả tại trường thường
xuyên để giáo viên giảng dạy, học tập rút kinh nghiệm.
3. Đối với Phòng giáo dục:
- Bộ phận chuyên môn mở chuyên đề dạy phân môn Chính tả để Phó hiệu trưởng
và Tổ trưởng chuyên môn phổ biến rộng rãi đến giáo viên giảng dạy được tốt
hơn.
- Có thể tổ chức thao giảng chính tả theo cụm để giáo viên dự giờ rút kinh
nghiệm.
* Rất mong sự đóng góp chân thành của tất cả anh chị em trong Hội đồng sáng
kiến khoa học các cấp để bài viêt của tôi được hoàn hảo hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !

IX. PHỤ LỤC:
MỘT SỐ BÀI KIỂM TRA CỦA HỌC SINH :
1. Bài khảo sát chất lượng đầu năm của em: Phan Bá Tín
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
* Bài kiểm tra cuối HKI của em : Phan Bá Tín


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status