SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT TP THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT NHƯ THANH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC
VIẾT ĐÚNG, VIẾT ĐẸP
LỚP 6 BẰNG DỤNG CỤ VÀ HÌNH ẢNH TRỰC QUAN
Người thực hiện: La Thị Mận
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Lê Văn Tám
SKKN
vực (môn):
Tiếng Việt
Người
thựcthuộc
hiện:lĩnh
Nguyễn
Nam Tiến
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS TT Bến Sung
SKKN thuộc lĩnh vực: Tin học
MỤC LỤC
THANH HOÁ NĂM 2017.
4. Rèn chữ viết thông qua cách chữa bài và nhận xét của GV
5. Rèn chữ viết thông qua việc tổ chức “Đôi bạn cùng tiến”
IV. Hiệu quả của SKKN
C. Kết luận, kiến nghị
4
4
7
10
11
11
12
14
I. Kết luận
II. Kiến nghị, đề xuất
14
14
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Như chúng ta biết, chữ viết có tầm quan trọng với học sinh đặc biệt ở bậc
Tiểu học, học sinh dùng chữ viết để học tập và giao tiếp. Vì vậy, chữ viết không
những có quan hệ mật thiết tới chất lượng học tập ở các môn học khác mà còn
góp phần rèn luyện một trong những kỹ năng hàng đầu của việc học môn Tiếng
Việt trong trường tiểu học – kỹ năng viết nét chữ. Thông qua chữ viết có thể
đánh giá được “nét chữ, nết người”. Nếu học sinh viết đúng, đẹp, rõ ràng, đảm
bảo tốc độ quy định thì học sinh có điều kiện để ghi chép bài học tốt, nhờ vậy
1
- Tiếp tục củng cố và hoàn thiện tri thức cơ bản về hệ thống chữ viết về hệ
thống
ngữ âm Tiếng Việt. Cung cấp kiến thức cơ bản về hệ thống quy tắc chuẩn, thống
nhất chính tả Tiếng Việt. Rèn luyện thuần thục kỹ năng viết, đọc hiểu chữ viết
Tiếng Việt. Trang bị cho học sinh một công cụ quan trọng để học tập và giao tiếp
(ghi chép, viết đọc, hiểu bài đọc...).
- Phát triển ngôn ngữ và tư duy khoa học cho học sinh. Chính tả quan hệ với tập
viết, tập đọc với luyện từ và câu... là những môn của Tiếng Việt góp phần bồi
dưỡng những tình cảm tốt đẹp của con người thông qua sử dụng ngôn ngữ (bằng
tính khoa học, tính chính xác, tính thẩm mỹ...)
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
-Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 viết đúng, viết đẹp.
- Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 3B - Trường Tiểu học Lê Văn Tám –thành
phố Thanh Hóa.
IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1. Phương pháp quan sát
2. Phương pháp khảo sát chất lượng chữ viết của học sinh.
3. Phương pháp thống kê, phân tích.
4. Phương pháp thực nghiệm.
5. Phương pháp đối chiếu và so sánh kết quả
2
B. NỘI DUNG
I . CƠ SỞ LÍ LUẬN.
Lê-nin đã từng nói “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của
Khi chấm bài cho học sinh, học sinh viết sai lỗi chính tả thì giáo viên chỉ gạch
chân, ít sửa sai cho các em.
+ Các em đa phần là con nhà buôn bán, công nhân, con công an tuy điều kiện
vật chất đầy đủ nhưng điều kiện hướng dẫn các em viết bài hoặc dạy các em tư
3
thế ngồi hoặc cách cầm bút thì hạn chế nên không sửa cho các em được hoặc có
sửa thì cũng không đúng…Một số em có cả bố mẹ đi làm ăn xa để mặc các em ở
nhà với ông bà già, chỉ coi trọng đến việc học văn hóa không chú trọng đến chữ
viết của các em.
Điều này khiến cho giáo viên chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn khi rèn chữ
viết cho học sinh.
Để xây dựng được kế hoạch nghiên cứu “Một số biện pháp giúp học sinh
lớp 3 viết đúng, viết đẹp ”, tôi đã tiến hành khảo sát tình hình thực tế việc viết
chính tả của học sinh ngay từ đầu năm học. Tôi phát hiện ra nhiều học sinh chữ
viết xấu, không đúng ô, đúng mẫu, đúng khoảng cách, cách cầm bút sai…Viết
tùy tiện, cẩu thả, viết chữ không đều, vở thì bôi bẩn, góc vở quăn trông rất xấu.
Thông qua việc khảo sát chất lượng môn Toán, Tiếng Việt và chữ viết các em
trong lớp, cho thấy chữ viết các em chưa đẹp, tỷ lệ chữ loại A còn thấp, học sinh
chưa nắm vững tên gọi các dòng kẻ ngang trong vở, chưa nắm rõ điểm đặt bút,
dừng bút của các chữ. Chữ viết còn rời rạc chưa liền mạch sai quy trình, sai nét.
Chữ viết hoa chưa đúng mẫu. Thường khi viết chính tả các em mới có ý thức
viết đẹp, còn các môn học khác thì chữ viết ẩu, gạch xóa lem nhem.
Một số chỉ nhìn chép, chưa nghe viết được, sai nhiều lỗi chính tả, chưa có ý
thức giữ gìn vở sạch chữ đẹp. Cụ thể khảo sát chất lượng chữ viết đầu năm của
lớp 3B Trường Tiểu học Lê Văn Tám như sau:
Xếp loại A
Tổng số học sinh
37 em
và o dẫn đến có nhiều vần khó viết đối với học sinh yếu (uya, uyu, uênh, oeo,
uêch…
-Do học sinh không hiểu nghĩa của từ, phát âm sai (iu /iêu, et/ec…)
-Do học sinh không nắm được quy tắc chính tả (g chỉ được ghép với a, ă, â,
o, ô, ơu, ư, còn gh, ngh đi với e, ê, i…)
-Do ảnh hưởng của tiếng địa phương ,nói như thế nào viết thế ấy(VD: ở địa
bàn phường Ba Đình thành phố Thanh Hoá thường nói sai các nguyên âm đôi
iê, ươ…) và các tiếng có âm ch nói thành tr, một số em sai thanh hỏi và thanh
ngã
-Do các em chưa có ý thức ngồi học nghiêm túc. Chưa có thói quen giữ vở
sạch, viết chữ đẹp. Khi viết sai các em có thói quen xóa nhiều lần. Tay cầm bút
chưa đúng quy định.
1.2. Giúp các em nắm luật (nguyên tắc) viết Chính tả.
Một trong những việc làm không thể thiếu được khi luyện viết cho học sinh
là giúp học sinh nắm được nguyên tắc chính tả. Vì khi viết cho dù học sinh viết
đẹp và đúng mẫu chữ quy định nhưng sai lỗi chính tả dẫn đến tình trạng người
đọc hiểu không đúng hoặc hiểu sai vấn đề mà mình muốn trình bày. Do đó giáo
viên cần giúp cho học sinh nắm được quy tắc, meo luật chính tả.
Ví dụ:
- Phân biệt dấu hỏi, dấu ngã: Khi một chữ của từ láy đã viết dấu huyền, dấu
nặng, dấu ngã thì chữ kia phải viết dấu ngã (sẵn sàng, dữ dội, dễ dãi, đẹp đẽ ...).
Khi một chữ của từ láy đã viết dấu sắc, không dấu hoặc dấu hỏi thì chữ kia phải
viết dấu hỏi chứ không viết dấu ngã (như: Mát mẻ, hớn hở, vui vẻ, lẻ loi,...).
- g, ng viết trước các nguyên âm (a, ă, â, o, ô, ơ,u, ư )
- gh , ngh ,k viết trước các nguyên âm ( i, ê, e )
- iê : viết sau âm đệm , trước âm cuối : tuyên, ...
- ia : viết sau âm đầu , không có âm cuối : chia , ...
- ya : viết sau âm đệm không có âm cuối:khuya...
- i : viết sau âm đầu
có nội dung phù hợp để chữa lỗi chính tả cho học sinh địa phương.
Đối với lớp 3 các em vừa từ lớp 2 lên bài chính tả dài vả lại nhiều dạng
bài các dạng bài tập khác. Đây là hình thức bài tập khó. Nên GV có thể chọn
hình thức thảo luận nhóm để các em có sự thảo luận hỗ trợ lẫn nhau. Trong một
số trường hợp khó học sinh chưa tìm được GV cần hướng dẫn hỗ trợ các em kịp
thời.
Ví dụ: Bài 2b-Hoạt động 5 (trang 31 tập 1 ):
Giải câu đố sau:
Trắng phau cày thửa ruộng đen
Bao nhiêu cây trắng mọc lên thành hàng.
(Là chữ gì?)
Ở trường hợp này GV có thể gợi ý cho HS: Đây là câu đố chữ, để giải câu đố
các em cần nắm được cấu tạo tiếng và hiểu về sự vật, các em có thể xem cái gì
Trắng phau cày thửa ruộng đen (phấn), ruộng đen là (bảng đen)
1.5. Sửa lỗi chính tả theo nhóm
Qua việc tiến hành điều tra để nắm lỗi chính tả phổ biến của học sinh , bản thân
tôi đã chấm và phân loại những học sinh thường mắc cùng một loại lỗi chính tả.
Giáo viên chỉ việc thay đổi tên nhóm theo cách của mình.
- Đặt tên nhóm theo lỗi thường mắc phải như : Nhóm âm đầu, nhóm vần, nhóm
viết hoa ...
- Số em ở mỗi nhóm tuỳ tình hình thực tế của lớp .
- Trong giờ chính tả nói chung và bài tập chính tả âm,vần nói riêng, dưới sự
hướng dẫn của giáo viên, nhóm trưởng hướng dẫn các bạn trong nhóm phát hiện
lỗi chính tả trong bài viết của mỗi thành viên và cùng chữa lỗi .
6
- Giáo viên kiểm tra, đánh giá , nhận xét.
- Cho các nhóm thi đua với nhau nếu nhóm nào tiến bộ sẽ được thưởng sao.
2. Rèn chữ viết cho học sinh thông qua tiết Tập viết.
nghỉ ngơi, nghe nhạc
-ch/tr : lũ chẻ, chiến chanh…
lũ trẻ, chiến tranh…
-s/x : xanh sao, nước xôi…
xanh xao, nước sôi…
-VD học sinh viết sai: nge nhạc trong bài chính tả nghe nhạc; trang 42 – 43
TV3 tập 2)
-VD học sinh viết sai: lũ chẻ trong bài chính tả: Tiếng đàn – TV3 tập 2
Trong các lỗi trên, lỗi về âm ch/tr, s/x, ng/ngh đối với lớp tôi chủ nhiệm là
phổ biến hơn cả.
7
đ. Lỗi về âm cuối
Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau:
Học sinh viết sai âm cuối
-an/ang: cây bàn, bàng bạc…
Sửa lại đúng chính tả
cây bàng, bàn bạc …
-at/ac: lang bạt, rẻ mạc…
lang bạc, rẻ mạt…
- Tất cả các chữ viết hoa, các chữ số đều có độ cao giống nhau là 2,5 đơn vị.
2.3 Hướng dẫn học sinh về tư thế ngồi viết, cách cầm bút, đặt vở, kĩ thuật
viết…trong tất cả các giờ học
Quá trình tập viết có quan hệ đến nhiều bộ phận trong cơ thể của học sinh.
Học sinh không thể viết đẹp và nhanh nếu như tư thế ngồi, cách cầm bút chưa
đúng và không biết kỹ thuật lia bút, rê bút,... Do đó, giáo viên cần hướng dẫn
8
cho học sinh về tư thế ngồi, cách cầm bút, cách đặt vở, điểm đặt bút, điểm dừng
bút, lia bút và viết liền mạch trong tất cả các giờ học như sau:
- Tư thế ngồi viết: Khi viết phải ngồi ngay ngắn, lưng thẳng không tì ngực
vào cạnh bàn, đầu hơi cúi, hai mắt cách vở từ 25- 30 cm cánh tay trái đặt trên
mặt bàn bên trái vở, cánh tay phải cũng đặt trên mặt bàn. Khi viết bàn tay phải
và cánh tay phải xê dịch từ trái sang phải.
- Cách cầm bút: Học sinh cầm và điều khiển bút bằng 3 ngón tay của bàn tay
phải. Đầu ngón tay trỏ đặt ở trên, đầu ngón tay cái giữ bên trái, phía bên phải
của đầu bút tựa vào cạnh đốt đầu ngón tay giữa cầm bút không được chặt quá
hoặc lỏng quá dẫn đến khó điều khiển bút, ngoài ra còn có sự phối hợp cử động
của cổ tay và cả cánh tay.
+ Vị trí đặt vở khi viết: Vở viết cần đặt nghiêng so với mép bàn một góc
khoảng 30o nghiêng về phía bên phải.
+ Điểm đặt bút: Là điểm bắt đầu khi viết một chữ cái. Điểm đặt bút có thể
nằm trên đường kẻ ngang hoặc không nằm trên đường kẻ ngang.
- Điểm dừng bút là vị trí kết thúc của nét chữ trong một chữ cái, điểm dừng
bút có thể trùng với điểm đặt bút hoặc không nằm trên đường kẻ ngang.
- Toạ độ của điểm đặt bút hay dừng bút về cơ bản toạ độ này thống nhất ở 1/3
đơn vị chiều cao của chữ có thể ở trên hoặc dưới đường kẻ ngang.
Ví dụ: Điểm đặt bút của chữ “h” cao hơn đường kẻ ngang dưới 1/3 đơn vị
chiều cao của chữ.
đặt vào chữ cái thứ nhất của nguyên âm đôi.
Ví dụ: ca nhựa, cái thìa.
Nếu sau nguyên âm đôi có âm cuối vần thì dấu thanh đặt vào chữ cái thứ
hai của nguyên âm đôi .
Ví dụ: con kiến, rượu, chuỗi cườm....
Tóm lại: Việc dạy Luyện viết được tiến hành theo một quá trình từ nhận
diện (hình dáng, kích cỡ chữ), thao tác viết đưa bút theo đúng quy trình viết đến
biết nối các nét chữ hoa với chữ thường trong một tiếng. Kết hợp dạy kỹ thuật
viết chữ với kĩ năng rèn chính tả. Nhằm tạo điều kiện để học sinh chủ động tiếp
nhận kiến thức (học sinh tự quan sát, nhận xét, ghi nhớ) tự giác luyện tập và rút
ra kinh nghiệm qua thực hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên, từ đó giúp học
sinh tự hình thành và trau dồi kĩ năng viết chữ bằng cách sử dụng trực quan triệt
để (trực quan có thể phóng to trên bảng, chữ mẫu của giáo viên khi viết bảng và
phê vào vở của học sinh ) nhằm khắc sâu biểu tượng về chữ viết bằng nhiều
cách: mắt nhìn, tai nghe, tay viết, từ đó giúp học sinh chủ động phân tích và nắm
vững được hình dáng, cấu tạo của chữ mẫu để các em viết đúng, đẹp và nhanh.
3. Rèn chữ viết thông qua các môn học khác
Giáo viên cần tận dụng việc viết các bài học, bài làm ở các môn học khác để
học sinh tập viết. Sự nghiêm khắc của giáo viên về chất lượng chữ viết ở tất cả
các môn học là cần thiết. Có như vậy, việc luyện tập chữ mới được củng cố đồng
bộ, thường xuyên. Việc làm này đòi hỏi giáo viên ngoài những hiểu biết về
chuyên môn cần có sự kiên trì, cẩn thận và lòng yêu nghề, mến trẻ. Do đó, khi
học sinh học các môn học như: Tập làm văn, Luyện từ và câu, Tập đọc (Đối với
chương trình hiện hành), môn Toán, Tự nhên và Xã hội.... giáo viên kịp thời phát
hiện các lỗi sai phổ biến của học sinh, từ đó hướng dẫn học sinh sửa lại từng
loại lỗi sai ở tất cả các phân môn.
Ví dụ:
- Thông qua môn Toán: Khi chấm vở bài tập toán cho học sinh thấy các em
viết chữ số chưa đẹp giáo viên cần viết mẫu các chữ số bên cạnh yêu cầu học
sinh về viết lại chữ số.
cách ngẵn gọn. Sau đó cho học sinh nêu cấu tạo chữ "g" (cao mấy đơn vị? rộng
mấy đơn vị? gồm mấy nét? là những nét nào?), qui trình viết chữ "g" rồi yêu cầu
học sinh đó lên bảng viết lại chữ "g" và cho học sinh về nhà viết lại chữ đã viết
sai theo đúng chữ mẫu của giáo viên
- Khi chấm nhận xét bài của học sinh giáo viên cần nhận xét nhẹ nhàng không
nên chê các em trước lớp mà động viên sự tiến bộ của các em dù chỉ là một chút.
Ví dụ: Trong lớp tôi có em Mạnh, em Khanh viết chưa đạt yêu cầu (sự tiến
bộ rất chậm) sau mỗi lần chấm vở tôi đã giúp em sửa những lỗi sai, khi trả vở
cho học sinh không nói em viết xấu, cẩu thả mà chỉ nói: em viết chữ có tiến bộ
song cần cố gắng nhiều hơn nữa để đạt loại A. Sau vài lần như vậy chữ viết của ,
em Mạnh, em Khanh đã tiến bộ rõ rệt. Do đó khi dạy giáo viên phải nhẹ nhàng
không nên gắt gỏng chê bai học sinh, mà phải gần gũi yêu thương học sinh
5. Rèn chữ viết thông qua việc tổ chức “Đôi bạn cùng tiến”
Ngoài ra, trong giờ học tôi còn tổ chức cho học sinh “ Đôi bạn giúp nhau
tiến bộ” đối với học sinh của lớp, cụ thể:
+ Những học sinh đọc viết đúng r- d- gi hoặc tr- ch… sẽ giúp đỡ bạn còn
đọc viết sai( nếu ở gần nhà nhau càng tốt)
+ Học sinh viết chữ đẹp sẽ giúp bạn còn viết sai nét, sai chính tả.
11
Để việc thực hiện có hiệu quả, giáo viên chủ động xếp học sinh ngồi gần
nhau để học sinh tự sửa khi nói, khi viết cho nhau và cả khi trò chuyện cùng
nhau hay lúc ra chơi. Xưa có câu: “Học thầy không tày học bạn” và “ Thua thầy
một vạn không bằng thua bạn một ly”. Chính vì vậy, khi giáo viên giúp học sinh
hiểu rõ điều này tronh học tập thì việc tổ chức cho học sinh cùng nhau học hỏi,
cùng nhau thi đua, rèn luyện đó là việc tốt nên làm. Sau từng tuần, từng tháng,
giáo viên tổng kết, tuyên dương từng em, từng “ đôi bạn”. Nhận xét mang tính
khuyến khích, động viên các em là chính.
Trên đây là 5 biện pháp mà tôi đã áp dụng để rèn chữ viết cho học sinh lớp
59.5
56.8
51.4
40.5
27
21.6
16.7
12
- Đối chiếu với kết quả kiểm tra vở sạch chữ đẹp đầu năm tôi thấy: Số học sinh
có vở xếp loại A tăng:42.9%. Số học sinh có vở xếp loại B giảm: 37.4%. Từ kết
quả trên cho thấy tỷ lệ loại A được tăng lên nhiều so với đầu năm và đạt 83.3%.
Điều này chứng tỏ nếu được sự quan tâm đúng mức cùng với sự hướng dẫn
chu đáo, hợp lý của người thầy thì chất lượng học chữ viết của học sinh sẽ được
nâng lên.
13
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua việc nghiên cứu thực hành dạy - học tôi đã rút ra : "Một số biện pháp
giúp học sinh lớp 3 viết đúng, viết đẹp” như sau:
- Giáo viên phải nắm vững nội dung, phương pháp dạy học môn chính tả và
nắm vững các nét chữ, mẫu chữ theo Quyết định số 31/2002/QĐ - BGD&ĐT
ngày 14/6/2002.
- Chữ viết của giáo viên phải đúng mẫu. Giáo viên phải nhiệt tình, kiên trì, hết
14
2.2. Đối với phòng giáo dục
- Vấn đề viết đúng, viết đẹp Phòng GD đã chỉ đạo tới các trường nhưng để
giáo viên và học sinh thực hiện tốt, theo chúng tôi phòng giáo dục nên tổ chức
nhiều các buổi hội thảo theo cụm hoặc tập trung về biện pháp rèn chữ viết cho
giáo viên chúng tôi học tập và rút kinh nghiệm.
- Hằng năm, Phòng GD nên duy trì tổ chức cuộc thi “Nét chữ, nết người” để
tạo động cơ thúc đẩy cho các em học sinh rèn chữ thường xuyên.
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
2017
Lê Văn Tám, ngày 02 tháng 3 năm
Tôi cam đoan đây là SKKN
của tôi viết, không sao chép
nội dung của người khác.
Người viết
La Thị Mận
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CÁC CẤP
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................