HỌ VÀ TÊN GIÁO VIÊN: HỒ THỊ MỸ LỢI
ĐƠN VỊ: TRƯỜNG TIỂU HỌC CHU VĂN AN - PLEIKU
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4 VIẾT BÀI VĂN MIÊU TẢ
ĐẠT KẾT QUẢ TỐT
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trường Tiểu học là nơi đầu tiên trẻ em được học tập tiếng Việt, chữ viết với
phương pháp nhà trường, phương pháp học tập tiếng mẹ đẻ một cách khoa học. Học
sinh tiểu học chỉ có thể học tập các môn học khác khi có kiến thức tiếng Việt. Bởi đối
với người Việt, tiếng Việt là phương tiện giao tiếp, là công cụ trao đổi thông tin và
chiếm lĩnh tri thức. Môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học có nhiệm vụ hoàn
thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được
thể hiện trong 4 dạng hoạt động, tương ứng với bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Từ
đó, các em có thể học tập và giao tiếp trong môi trường học tập lứa tuổi, giúp học sinh
có cơ sở để tiếp thu kiến thức ở lớp trên. Trong môn Tiếng Việt có nhiều phân môn,
mỗi phân môn chứa đựng một bộ phận kiến thức nhất định, chúng bổ trợ cho nhau để
người học học tốt Tiếng Việt. Trong đó, Tập làm văn là phân môn mang tính chất
tổng hợp, sáng tạo, thực hành, thể hiện đậm nét dấu ấn cá nhân. Tập làm văn, viết
văn, hành văn là cái đích cuối cùng cao nhất của việc học tiếng Việt ở tiểu học. Đối
với học sinh tiểu học, biết nói đúng, viết đúng, diễn đạt mạch lạc đã là khó; để nói,
viết hay, có cảm xúc, giàu hình ảnh lại khó hơn nhiều. Cái khó ấy chính là cái đích mà
phân môn Tập làm văn đòi hỏi người học cần dần đạt tới. Từ đó, các em được mở
rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mỹ, hình thành
nhân cách. Chương trình Tập làm văn ở tiểu học chủ yếu là dạy văn miêu tả. Ngay từ
lớp 2, 3, các em đã được làm quen với văn miêu tả khi được tập quan sát và trả lời câu
hỏi. Lên lớp 4, các em phải hiểu thế nào là văn miêu tả, biết cách quan sát, tìm ý, lập
dàn ý, viết đoạn văn và liên kết đoạn văn thành một bài văn miêu tả đồ vật, cây cối
hoặc con vật - những đối tượng gần gũi và thân thiết của các em.
1
Thật vậy, trong chương trình môn Tiếng Việt Tiểu học nói chung, Môn Tiếng
- Chưa biết cách chuyển ý giữa các đoạn, làm cho các đoạn văn trong một bài
văn rời rạc, chưa có sự liên kết tốt.
- Chưa bộc lộ cảm xúc của mình qua bài viết.
- Một số em có năng lực học tập tốt thì đa số bài viết của các em bó hẹp vào
khuôn khổ của những bài văn mẫu; Tuy nhiên những từ ngữ, hình ảnh trong bài văn
mẫu không phù hợp với thực tế mà mang tính sáo rỗng, cứng nhắc.
Từ những lí do trên, là một giáo viên đã nhiều năm giảng dạy khối lớp 4, tôi
suy nghĩ làm sao tìm ra biện pháp giảng dạy phù hợp nhằm thực hiện mục tiêu của
môn học - đó là giúp các em học sinh biết cách quan sát và ghi lại những quan sát của
mình một cách chân thật, sinh động bằng những từ ngữ, hình ảnh giàu cảm xúc mà
phù hợp với thực tế các em, đồng thời góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn
sống, rèn luyện tư duy logíc, tư duy trừu tượng, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ,
hình thành nhân cách cho học sinh. Đó chính là lí do và mục đích mà tôi lựa chọn đề
tài: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 viết bài văn miêu tả đạt kết quả tốt”. Đây
là kinh nghiệm mà tôi rút ra trong quá trình giảng dạy.
3
PHẦN II: NỘI DUNG
1. Thực trạng:
Ở lớp 4 văn miêu tả được học từ tuần 14 cho đến hết tuần 33, hệ thống bài học
được sắp xếp rất hợp lí và logic. Nhìn chung có 3 dạng bài cơ bản đó là :
- Miêu tả đồ vật.
- Miêu tả cây cối.
- Miêu tả con vật.
Cụ thể như sau:
Văn miêu tả
Học kì I Học kì II Cả năm
Khái niệm miêu tả
- HS chưa hoàn thành bài viết: 16 em, tỉ lệ: 42,1 %
+ Số học sinh hoàn thành bài viết được đánh giá kĩ năng làm văn theo 2
mức:
a/ Kĩ năng phân tích đề bài, kĩ năng tìm ý và lựa chọn ý, kĩ năng xây
dựng dàn ý. Kĩ năng dùng từ, đặt câu, viết đoạn, liên kết đoạn văn thành
bài văn.
b/ Kĩ năng thể hiện cảm xúc, cảm nhận sâu sắc của mình về bài viết.
2. Biện pháp thực hiện:
17 em
5 em
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi đã đưa ra một số biện pháp tiến hành trên cơ sở
các phương pháp đặc trưng của phân môn mà Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định nhằm
nâng cao chất lượng dạy học sinh lớp 4 viết văn miêu tả mà tôi đã áp dụng có hiệu
quả. Cụ thể như sau:
a/ Biện pháp chung:
- Nghiên cứu sách giáo viên, các tài liệu tham khảo liên quan đến việc dạy và
học phân môn Tập làm văn lớp 4.
- Dạy học bằng các phương pháp và hình thức phù hợp nhằm phát huy tính tích
cực học tập môn tập làm văn của học sinh.
- Sử dụng đồ dùng dạy học có hiệu quả (Tranh ảnh, vật thật).
- Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy nhằm chuyển tải nội
dung cần lĩnh hội đến với học sinh một cách nhẹ nhàng, có hiệu quả.
- Quan tâm đến các đối tượng học sinh trong lớp - đặc biệt là các đối tượng học
sinh yếu; trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ khi các em gặp lúng túng trong giờ học.
- Kết hợp với các môn học khác cung cấp thêm vốn từ cho học sinh.
- Bản thân giáo viên luôn tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm qua sách báo, qua đồng
Để tiến hành mỗi hoạt động trong từng tiết học có hiệu quả, giáo viên và học
sinh lần lượt giải quyết các yêu cầu nói trên.
b. Các biện pháp cụ thể:
Biện pháp 1: Tìm hiểu cấu tạo bài văn miêu tả.
Trước hết cần phải cho học sinh hiểu rõ miêu tả là làm cho đối tượng mà ta đã
từng nghe, từng thấy .. như được hiện ra trước mắt người nghe, người đọc. Từ việc
6
nắm chắc thế nào là miêu tả, giáo viên cần giúp học sinh phân biệt được miêu tả trong
văn chương và miêu tả trong khoa học.
- Cho học sinh đọc văn bản mẫu ở sách giáo khoa, hướng dẫn học sinh xác định
phần mở bài, thân bài, kết bài.
- Cho học sinh rút ra ghi nhớ về cấu tạo của bài văn miêu tả.
Biện pháp 2: Phân tích các văn bản mẫu.
Ở bước này, giáo viên hướng dẫn học sinh đọc, phân tích để hiểu và thấy được
nghệ thuật quan sát và miêu tả, đồng thời thấy được cách chọn lọc chi tiết, cách sử
dụng những hình ảnh đẹp trong bài văn miêu tả.
Ví dụ:
• Bài “Cấu tạo bài văn miêu tả đồ vật” - Sách Tiếng Việt 4 tập 1 trang 143.
- Cho học sinh đọc bài văn “Cái cối tân”.
- Ngoài việc khai thác bài theo các câu hỏi được gợi ý trong sách giáo khoa.
Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích thêm bài văn bằng các câu hỏi như:
+ Tác giả tả những sự vật gì?
+ Tác giả quan sát sự vật bằng những giác quan nào?
+ Tìm một chi tiết thể hiện sự quan sát tinh tế của tác giả.
…
- Sau khi tìm hiểu xong bài văn, Giáo viên cần nhấn mạnh cho học sinh thấy
nghệ thuật quan sát và chọn lọc chi tiết tả cảnh của tác giả bài văn.
* Đối với Phần luyện tập “Tả cái trống trường”- sách Tiếng Việt 4 tập 1 trang
Bước đầu tiên để làm văn miêu tả là giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh cách
quan sát. Trong văn miêu tả, quan sát có một vai trò rất quan trọng. Khi quan sat
không chỉ sử dụng mắt nhìn mà còn phải dùng tất cả các giác quan: xúc giác, thính
giác, vị giác,... Nếu không có quan sát thì vốn hiểu biết và trí tưởng tượng của học
sinh rất khó phát triển. Văn miêu tả gắn chặt với tâm hồn, cũng như với óc quan sát
tinh tế của con người. Chính những kết quả quan sát đã đem lại cho học sinh những
cảm nhận về sự vật hiện tượng cần miêu tả. Chẳng hạn, nếu học sinh chưa từng nhìn
8
thấy cây bàng thì học sinh sẽ không thể miêu tả về cây bàng và cũng không có ấn
tượng hay nhận thức gì về cây bàng.
Khi dạy học sinh quan sát, giáo viên cần nhấn mạnh rằng bất kì sự tưởng tượng
dù phong phú đến đâu cũng đều bắt nguồn từ thực tế, gắn với đời sống thực tế. Và
muốn có sự hiểu biết thực tế thì cần phải quan sát. Những câu văn, bài văn miêu tả
hay, có hồn và sinh động là những câu văn, bài văn của người biết quan sát, có tài
quan sát và chịu khó quan sát. Chỉ cần chúng ta chịu khó quan sát, chúng ta sẽ có thể
thấy được rất nhiều điều trong cuộc sống mà các em chưa bao giờ thấy hoặc chưa bao
giờ để ý thấy. Mỗi một nhà văn muốn viết được những bài văn miêu tả hay cần phải
có sự quan sát trải nghiệm thực tế thì mới có thể viết được lên những câu văn hay,
sinh động mà mỗi khi đọc, người đọc dường như tưởng tượng ra được cả sự vật đó.
Từ những hiểu biết về quan sát như vậy, khi dạy học sinh về văn miêu tả, giáo viên
cần dạy các em cách quan sát.
* Quan sát phải gắn liền với so sánh và tưởng tượng.
Tưởng tượng có vai trò tích cực trong cuộc sống. Tưởng tượng tạo nên những
hình ảnh rực rỡ, phản ánh rõ ước mơ, lí tưởng của con người. Đối với văn miêu tả,
tưởng tượng có vai trò đặc biệt quan trọng. Nhờ có tưởng tượng mà tất cả những hình
ảnh, màu sắc, âm thanh... đều có thể được tái hiện trước mắt chúng ta. Tất cả những
chi tiết đặc trưng nhất của sự vật trong thực tế không phải lúc nào cũng bộc lộ, nhưng
Nó có thể bấm vào cây cau leo lên thoăn thoắt đến gần ngọn rồi buông người nhảy
xuống mà cứ êm ru bởi dưới các bàn chân là một nệm thịt như nệm “Kim đan”.
Chính vì vậy, khi dạy văn miêu tả cho học sinh, giáo viên cần chú ý hướng dẫn
các em sử dụng các hình ảnh so sánh, nhân hóa. Muốn được như vậy, giáo viên phải
hướng dẫn các em quan sát thật kĩ những sự vật mà mình muốn miêu tả, từ đó các em
có sự so sánh, liên tưởng xem các hình ảnh đó giống với cái gì để viết được những
câu văn hay và sinh động.
Dưới đây là một đoạn văn mà học sinh đã quan sát, miêu tả rất kĩ về cây
phượng. Trong đoạn văn này, em đã biết sử dụng những hình ảnh so sánh, nhân hóa
rất sinh động và gợi cảm.
10
Sân trường em trồng rất nhiều loài cây nhưng em vẫn thích nhất là cây
phượng.
Không biết cây phượng này trồng bao lâu rồi nhưng từ khi em bước vào lớp
một đã nhìn thấy. Thân to mấy người ôm không xuể, vỏ cây màu nâu xám. Lên cao,
thân cây chĩa ra nhiều nhánh lớn. Lá phượng xanh tươi, mượt mà. Mỗi ngọn lá rộng
bằng trang vở, gồm nhiều chiếc lá nhỏ xíu mọc đối nhau. Gân lá cứng màu xanh
nhạt, chìa từng cặp cũng đối nhau đều đặn hai bên cuống lá to chạy dài đến gần
ngọn lá rủ xuống mềm mại.
Hoa phượng có năm cánh mọc từng chùm, khi nở, hoa phượng xòe ra như
bướm, bốn cánh màu đỏ, cánh kia trắng ngà điểm nhiều chấm đỏ dày và cứng hơn.
Nhị hoa thì vươn dài, đầu to, mang túi phấn hơi cong.
Mùa hè đến những chùm hoa phượng nở rộ đỏ rực cả một vùng. Đây là hình
ảnh đọng lại trong tâm tưởng em mỗi khi những chú ve sầu bắt đầu râm ran vì nó gần
gũi và gắn bó nhất với nhiều kỉ niệm của tuổi học trò.
Có thể nói liên tưởng và tưởng tượng có vai trò đặc biệt quan trong trong khi
viết văn miêu tả. Giáo viên phải giúp học sinh hiểu rằng tưởng tượng phải dựa trên
thực tế, không có nghĩa là nghĩ vu vơ và không có cơ sở thực tế. Để học sinh biết cách
* Hướng dẫn học sinh xác định được yêu cầu quan sát của bài văn.
* Phải tìm được những nét riêng tiêu biểu của sự vật. Không cần thống kê tỉ mỉ
chi tiết về sự vật, sự việc, chỉ cần chép lại những đặc điểm mà mình cảm nhận sâu sắc
nhất.
* Để làm được bài văn đúng yêu cầu của đề bài, quá trình quan sát không thể
dàn đều mà phải tìm ra trọng tâm quan sát, thường là nét chính của bài nêu bật chủ đề
của đoạn văn và dụng ý của nguời viết. Có như vậy bài viết mới tránh khỏi dàn trải,
nhạt nhẽo, lan man và lạc đề.
* Tạo hứng thú và cảm xúc.
Quan sát trong văn học cần tạo cho học sinh hứng thú say mê. Từ đó bộc lộ
được cảm xúc của bản thân trước đối tượng quan sát. Có hứng thú, cảm xúc học sinh
mới dễ dàng tìm từ, chọn ý giúp cho việc diễn tả sinh động và hấp dẫn.
12
Giáo viên phải chuẩn bị các câu hỏi gợi ý giúp học sinh quan sát. Chẳng
hạn:
+ Thể loại của bài văn là gì?
+ Kiểu bài văn là gì?
+ Trọng tâm miêu tả sự vật nào?
+ Quan sát sự vật đó vào lúc nào?
+ Quan sát theo thứ tự nào?
+ Quan sát bằng giác quan nào?
+ Quan sát như vậy nhìn thấy hình ảnh gì?
+ Nghe thấy âm thanh gì, có cảm xúc gì?
+ Có nhận xét gì qua những quan sát đó?
* Tổ chức cho học sinh quan sát.
Tuỳ theo đề bài, giáo viên tổ chức cho các em quan sát ngay tại địa điểm có đối
tượng cần tả. Nếu không thể tổ chức quan sát được, thì giáo viên tổ chức hướng dẫn
học sinh quan sát trước khi tới lớp và ghi chép những điều cảm nhận được.
gián tiếp, kết bài mở rộng, kết bài tự nhiên (không mở rộng).
Một số dàn bài trong văn miêu tả lớp 4:
1. Tả đồ vật:
a) Mở bài: Giới thiệu đồ vật cần miêu tả.
b) Thân bài: - Tả bao quát.
- Tả chi tiết (tả từng bộ phận).
- Tả công dụng.
c) Kết bài: Tình cảm của em đối với đồ vật.
2. Tả cây cối:
a) Mở bài: Giới thiệu cây mình định tả (Đó là cây gì? Trồng ở đâu? Do ai
trồng? Trồng từ bao giờ?...)
b) Thân bài: - Tả bao quát về hình dáng của cây.
- Tả chi tiết từng bộ phận của cây: rễ, thân, lá, cành, hoa, quả.. (hoặc có thể tả
chi tiết về thời kì phát triển của cây: khi cây còn non đến khi cây trưởng thành, ra hoa
và kết quả)
c) Kết bài: Nêu tác dụng của của cây và tình cảm của em với cây đó.
14
3. Tả con vật:
a) Mở bài: Giới thiệu con vật mình định tả.
b) Thân bài: - Tả hình dáng con vật: từ bao quát đến chi tiết.
- Tả hoạt động của con vật và thói quen sinh hoạt của nó (có thể
tả phối hợp ngoại hình và hoạt động của con vật)
c) Tình cảm của em đối với con vật đó.
Biện pháp 4: Hướng dẫn xây dựng đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài và
xây dựng bố cục bài văn.
Bài tập luyện viết văn miêu tả là những bài tập viết thành đoạn, bài.
Khi học sinh thực hiện viết bài văn miêu tả cần có thời gian suy nghĩ tìm cách
diễn đạt (dùng từ, đặt câu, sử dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá,…). Vì vậy,
nữa lại về.”
Văn chương không phải là sợ đúng, sai với làm văn đúng thôi chưa đủ phải
thấm đượm cảm xúc của người viết. Song tình cảm không phải thứ gò ép bắt buộc,
tình cảm ấy phải chân thực, hồn nhiên, xuất phát từ chính tâm hồn các em. Bài văn
không thể hay nếu thiếu cảm xúc của người viết, cảm xúc không chỉ bộc lộ ở phần kết
bài mà còn thể hiện ở từng câu, từng đoạn của bài. Vì vậy giáo viên cần chú ý rèn cho
học sinh cách bộc lộ cảm xúc trong bài văn một cách thường xuyên liên tục, từ tiết
đầu tiên của mỗi loại bài đến những tiết luyện tập xây dựng đoạn văn, tiết viết bài và
ngay trong tiết trả bài nữa.
Biện pháp 5: Bộc lộ cảm xúc trong đoạn văn, bài văn.
Ngoài việc giúp học sinh sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong các câu văn,
giáo viên cần giúp học sinh biết bộc lộ cảm xúc trong đoạn văn. Bởi một đoạn văn,
bài văn hay không thể thiếu được cảm xúc của người viết. Cảm xúc không chỉ bộc lộ
ở phần kết bài mà còn cần thể hiện trong từng câu, từng đoạn của bài văn. Điều này
chúng ta cần gợi ý cho các em một cách cụ thể trong từng bài.
Ví dụ: Một học sinh tả chiếc bàn học:
Mỗi lúc học bài mệt em thường gối má lên mặt bàn để cảm nhận hương thơm
dìu dịu của một người bạn thân đã cần mẫn, miệt mài cùng em giải những bài toán
khó.
Miêu tả như vậy vừa sinh động, tinh tế vừa rất tình cảm và sẽ cuốn hút người
đọc, người nghe.
18
Tương tự như vậy, tôi yêu cầu học sinh đưa ra những suy nghĩ, cảm xúc nhận
xét trước một sự vật hay hiện tượng bất kỳ. Bài văn của học sinh tránh được nhược
điểm khô khan, liệt kê sự việc mà thấm đượm cảm xúc của người viết.
Giúp học sinh kĩ năng viết những câu văn sinh động, gợi tả, gợi cảm, giàu hình
ảnh và nhạc điệu
Bên cạnh những yếu tố trên, giáo viên cần rèn cho học sinh kĩ năng viết bài văn
có bố cục chặt chẽ, có lời văn phù hợp với yêu cầu nội dung, thể loại và kiểu bài.
Để bài làm của các em có bố cục chặt chẽ, cần kết hợp với phân môn Luyện từ
và câu, hướng dẫn học sinh biết cách liên kết các đoạn văn bằng những từ ngữ như:
chẳng bao lâu, từ lâu, tuy vậy, trong khi đó,…Nhắc nhở học sinh xuống dòng khi kết
thúc đoạn văn, mở đầu đoạn tiếp theo bằng câu nối vào ý khác, làm cho bài văn trong
sáng, mạch lạc, khúc chiết. Chữ viết phải rõ ràng và cố gắng rèn viết chữ đẹp. Bài làm
cần sáng sủa, sạch sẽ, lưu ý nhắc nhở các em nắm vững các đặc điểm về thể loại, kiểu
bài để lựa chọn những từ ngữ cho phù hợp dùng những tính từ gợi hình ảnh, gợi cảm
xúc; những từ tượng thanh, tượng hình thích hợp; dùng các hình ảnh so sánh, ví von
sinh động…để vừa gợi tả cho cụ thể, vừa thể hiện tình cảm, thái độ của mình với
người được miêu tả.
Tóm lại, vẻ đẹp của một đoạn văn, bài văn hay không chỉ ở ý nghĩa nội dung,
bộc lộ cảm xúc mà nội dung và cảm xúc đó phải được thể hiện thông qua vẻ đẹp của
tiếng Việt. Trong giảng dạy, cần hướng dẫn học sinh đi từ những cái cụ thể, chắt lọc
những điều quan trọng về kiến thức, kĩ năng để truyền thụ cho các em. Khơi dậy tính
kiên trì học hỏi, kiên trì rèn luyện ở các em. Gắn kiến thức với vốn sống, vốn hiểu biết
của học sinh, đánh thức ở các em những gì các em đang có và “phát triển ” dần lên.
3. Kết quả đạt được:
Qua quá trình áp dụng giảng dạy theo phương pháp trên, tôi nhận thấy các em
có nhiều tiến bộ hơn. Các em đã mạnh dạn, tự tin và có hứng thú hơn trong giờ học
Tập làm văn. Các em đã tự mình viết được một bài văn, một đoạn văn theo yêu cầu
của đề bài. Tuy những bài văn, đoạn văn đó có thể chưa hay, chưa sinh động nhưng
20
các em đã tự viết bằng chính tư duy của mình. Tôi xin đưa ra đây một ví dụ về bài
viết của một học sinh có được kĩ năng viết văn tương đối tốt ở lớp tôi:
* Đề bài: Tả một con vật nuôi trong nhà (Tiếng Việt 4 tập 2 trang 149).
Bài làm:
21
Kết quả đạt được như trên tuy chưa cao, nhưng đã phần nào đánh dấu bước
thành công là làm cho học sinh có kĩ năng làm văn miêu tả tốt hơn, giúp các em tự tin
hơn trong môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác. Do vậy, từ nay đến cuối năm
học 2015 – 2016 và những năm học tiếp theo tôi luôn cố gắng phát huy, tìm tòi và vận
dụng phương pháp tốt nhất để học sinh lớp tôi đạt chất lượng tốt hơn.
4. Bài học kinh nghiệm:
Qua quá trình giảng dạy về phân môn tập làm văn cho học sinh, đặc biệt là văn
miêu tả, bản thân tôi rút ra bài học kinh nghiệm như sau:
- Giáo viên cần nắm vững nội dung chương trình và mục tiêu của môn học để
xác định các kĩ năng cần rèn cho học sinh trong việc viết văn miêu tả.
- Cần kết hợp với các môn học khác, nhất là phân môn Luyện từ và câu nhằm
cung cấp vốn từ ngữ cho học sinh, giúp các em dễ dàng hơn trong việc viết văn, đồng
thời giúp các em “thoát li” khỏi bài văn mẫu, biết cách sử dụng từ ngữ chân thực, mộc
mạc, giàu cảm xúc.
- Giáo viên cần kiên trì, nhiệt tình, có phương pháp sư phạm kết hợp sử dụng
hệ thống câu hỏi hợp lý để giúp học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức.
- Tránh áp đặt khiên cưỡng, nên biểu dương, động viên, khuyến khích học sinh
tìm tòi, sáng tạo trong văn chương, khơi gợi hứng thú học tập và tránh tâm lý mặc
cảm, tự ti học văn kém trong học sinh.
- Động viên các em thường xuyên đọc sách – báo thiếu nhi, sách những bài văn
chọn lọc dành cho học sinh tiểu học, hướng cho các em sử dụng sổ tay “Vốn từ” - để
tích lũy và sử dụng khi cần thiết.
22
các phương pháp dạy tập làm văn. Nắm vững quy trình dạy của từng tiết học, nắm
vững kiến thức của từng đề văn trong chương trình, luôn luôn đổi mới các phương
pháp giảng dạy nhằm đáp ứng với nhu cầu mới của xã hội.
Trên đây là một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 viết bài văn miêu tả đạt kết
quả tốt mà tôi đã áp dụng vào thực tế từ năm học 2014 - 2015 cho đến nay. Tôi mong
muốn nhận được sự góp ý của đồng nghiệp để góp phần nâng cao chất lượng dạy
phân môn Tập làm văn nói riêng, môn Tiếng Việt nói chung cũng như tất cả các môn
học khác.
24