SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC SINH LỚP 4 VIẾT BÀI
VĂN MIÊU TẢ
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thu Phương
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Tân Sơn
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng Việt
MỤC LỤC
THANH HOÁ NĂM 2019
0
MỤC LỤC
ĐỀ MỤC
TRANG
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
13
văn miêu tả
2.3.5 Biện pháp 5: Hướng dẫn hình thành kỹ năng tích lũy vốn từ ngữ thông
14
qua các phân môn khác
2.3.6 Biện pháp 6: Hướng dẫn hình thành kỹ năng tự kiểm tra đánh giá khả
17
năng của mình và của bạn
2.4. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng
18
nghiệp và nhà trường
3. Kết luận và kiến nghị
1. Kết luận
2. Kiến nghị
19
19
19
1. Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài.
Tập làm văn là một phân môn quan trọng trong chương trình dạy học Tiểu
học, nó không chỉ giúp học sinh hình thành các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết mà
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp xử lý thông tin
- Phương pháp khảo sát, điều tra, thực nghiệm
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Mục tiêu của giáo dục tiểu học là “ Trang bị cho học sinh hệ thống tri thức
cơ bản ban đầu, hình thành ở học sinh những kĩ năng cơ bản nền tảng, phát
2
triển hứng thú học tập ở học sinh, thực hiện các mục tiêu giáo dục toàn diện đối
với học sinh tiểu học”
Để thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học nêu trên, đòi hỏi nội dung giáo
dục tiểu học phải mang tính toàn diện, cân đối giữa các mặt giáo dục: giáo dục tri
thức với giáo dục kĩ năng và giáo dục ý thức thái độ. Đồng thời phải đảm bảo tính
cân đối giữa dạy lý thuyết với dạy thực hành, quan tâm tới phát triển những kỹ
năng có tính chất nền tảng cho học sinh tiểu học, làm cơ sở ban đầu cho sự phát
triển sau này. Để thực hiện mục tiêu giáo dục trên, nhà trường tiểu học có thể tiến
hành bằng nhiều con đường khác nhau, trong đó con đường dạy học là con đường
cơ bản và quan trọng nhất.
Dạy học môn Tiếng Việt là góp phần hình thành và phát triển ở học sinh 4
kỹ năng nghe – nói – đọc – viết. Trong môn Tiếng Việt thì phân môn Tập làm văn
lại chiếm một vị trí khá quan trọng vì nó là sự tích hợp 4 kỹ năng của học sinh.
Văn miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm cho
người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, cảnh vật,
sự việc như nó vốn có trong đời sống. Một bài văn miêu tả hay không những thể
hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện được trí tưởng
tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết đối với đối tượng được miêu tả. Bởi vì
trong thực tế không ai tả để mà tả, mà thường tả để gửi gắm những suy nghĩ, cảm
xúc, những tình cảm yêu ghét cụ thể của mình. Các bài văn miêu tả ở tiểu học chỉ
môn Tin học. Đội ngũ CBGV đủ về cơ cấu, số lượng, trình độ đào tạo trên chuẩn
100%; được cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương quan tâm, ủng hộ; phụ huynh
đồng thuận. Đây là những điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ của nhà
trường trong năm học.
- Học sinh của nhà trường có số lượng nhiều là con em cán bộ viên chức, lại
ở gần trung tâm thành phố nên ngoài giờ học ở trường thì về nhà các em cũng được
bố mẹ dạy bảo thêm. Các em học tập và ăn bán trú tại trường, tình cảm thầy trò,
bạn bè gần gũi thân thiết, giao tiếp tự tin, ngôn ngữ linh hoạt lễ phép. Những yếu
tố này cũng là cơ sở tốt cho các em trong học tập cũng như trong cuộc sống.
2.2.2. Khó khăn:
Bên cạnh thuận lợi, nhà trường cũng có những khó khăn ảnh hưởng đến việc
thực hiện nhiệm vụ dạy và học trong nhà trường. Điều kiện kinh tế xã hội của địa
phương không đồng đều; một số phụ huynh chưa quan tâm đến việc học tập của
con cái, còn giao phó cho nhà trường; học sinh có xuất thân gia đình cũng đa dạng;
lớp học có cả học sinh hòa nhập cộng đồng; một số học sinh chưa thật sự chăm
chỉ, thành tích học tập chưa tốt, đặc biệt là môn Tiếng Việt.
2.2.3. Thực trạng:
Qua dạy học và trực tiếp giảng dạy khối lớp 4 tại trường Tiểu học Tân Sơn tôi
nhận thấy:
Hầu hết các em được sinh ra và lớn lên tại thành phố, bố mẹ bận đi làm nên
thời gian cho con cái đi chơi còn hạn chế. Ngoài giờ học, các em hầu như chỉ ở nhà
4
vì đi chơi bên ngoài không có người lớn đi cùng thì rất phức tạp, các thông tin báo
chí, tài liệu tham khảo hạn chế. Chính vì thế bài văn của các em còn nghèo nàn về
ý, về cách thể hiện để bài văn sinh động hấp dẫn. Đa số bài viết của các em mang
tính kể lể, liệt kê các chi tiết, đối tượng được miêu tả.
Các em thực sự lúng túng khi viết bài văn miêu tả, hệ thống từ ngữ gợi tả,
gợi cảm trong bài ít được sử dụng. Bài văn khô khan, nhiều em viết còn quá ngắn.
69
6
14
2.2.4 Nguyên nhân:
Phân môn Tập làm văn là phân môn khó dạy so với các môn học khác, giáo
viên dạy còn thiếu linh hoạt trong vận dụng các phương pháp và chưa sáng tạo
trong việc tổ chức các hoạt động học tập của học sinh. Việc cung cấp vốn sống,
vốn hiểu biết cho các em qua các phân môn của Tiếng Việt và các môn học khác
chưa được chú trọng. Mặt khác, do đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh tiểu học
còn ham chơi, khả năng tập trung chú ý nhận thức các sự vật còn hạn chế, năng lực
sử dụng ngôn ngữ chưa thật phát triển, nên việc học tập ở phân môn Tập làm văn
gặp những khó khăn như: thiếu vốn sống, vốn hiểu biết về đối tượng cần miêu tả,
kể chuyện, ... hoặc không biết cách diễn đạt về đối tượng cần kể, cần tả.
- Học sinh đến trường nhưng chưa có động cơ học tập đúng đắn.
- Các em chưa có thói quen đọc sách, đọc truyện để tích lũy vốn từ; ít nghiên
cứu bài trước khi đến lớp, không thực hiện đầy đủ yêu cầu của giáo viên.
- Trong giờ học, các em ít tập trung, không động não để phát biểu xây dựng
bài mà chỉ đợi giáo viên gợi ý.
- Chưa biết tự khám phá ra kiến thức mới vì vậy không hình thành được kỹ
năng, kỹ xảo.
5
- Các em chưa có kỹ năng luyện tập, thực hành, không có hứng thú học tập.
- Tuy đã nắm vững lý thuyết nhưng học sinh chưa biết vận dụng vào thực tế
bài làm vì vậy bài làm của các em vẫn còn tồn tại những điểm yếu. Cụ thể là :
+ Những bài đạt ở mức Hoàn thành tốt: Tuy học sinh đã nắm vững yêu cầu
rồi đến gần, có khi là từ trên nhìn xuống hay từ dưới nhìn lên, … tôi hướng dẫn các
6
em hãy dùng mắt mà quan sát vóc dáng, kích thước, màu sắc. Tay xoa trên thân
cây, trên mặt lá, tai nghe tiếng gió, tiếng chim, tiếng lá thầm thì, mũi xác định
hương thơm của hoa và miệng để rõ vị ngọt của quả, … Hay đối với con vật, khi
quan sát các em phải nhìn nó lúc bình thường, theo dõi nó trong sinh hoạt, nhiều
khi phải tìm hiểu thêm bằng cách hỏi những người am hiểu. Ví dụ: Có con vật ta
vỗ về nó, cho nó ăn; có con ta có thể ôm ấp, vuốt ve và với gà trống, với chim ta
dùng tai để nghe nó gáy, nó hót, …
b. Tìm ý:
Việc tìm ý đi liền với việc quan sát. Vừa quan sát vừa tìm ý và tìm được ý
nào, tôi hướng dẫn các em phải ghi luôn vào vở nháp. Ý đi liền với từ để diễn đạt.
Bước này chưa yêu cầu các em diễn đạt thành lời nói hoặc câu viết nhưng các em
đã phải có ý thức lựa chọn từ ngữ thích hợp để diễn đạt ý. Kết quả cuối cùng của
việc quan sát là học sinh tìm được các ý chi tiết cần thiết chuẩn bị cho bài văn
miêu tả. Để học sinh có được đầy đủ các chi tiết chuẩn bị cho bài văn miêu tả tôi
thường trực tiếp hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng sẽ miêu tả.
Chẳng hạn như tả cái bút của em, tôi yêu cầu học sinh quan sát kĩ cái bút của
mình. Có thể quan sát theo một trình tự nhất định:
- Nhìn bao quát cái bút.
- Quan sát từng bộ phận: Quan sát từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới,
từng bộ phận theo cấu tạo của bút.
- Kết hợp quan sát bằng nhiều giác quan như: Mắt, tay, tai, … và quan trọng
nhất là phải cố gắng tìm ra những đặc điểm riêng biệt của cái bút mà em định tả.
Qua hệ thống câu hỏi gợi mở để học sinh nêu cho được các đặc điểm:
- Về hình dáng: Hình trụ tròn hay hình lăng trụ?
- Về màu sắc: Có màu gì?
- Về kích thước: Dài hay ngắn? Dọc theo thân bút có in những dòng chữ gì?
Sau khi quan sát và tìm ý xong tôi yêu cầu các em phải biết sắp xếp các ý
theo một thứ tự thích hợp để chuẩn bị cho việc diễn đạt bằng lời nói hay câu viết.
Ta gọi đấy là công việc lập dàn bài.
Ví dụ: Dàn ý bài văn tả cái bút.
Mở bài: Chủ nhật vừa qua mẹ mua cho em một cái bút kim để viết bài.
Thân bài:
+Tả bao quát: Cái bút dài bằng một gang tay em, tròn như ngón tay út, bằng
nhựa, màu sắc trang nhã.
+Tả từng bộ phận:
- Nắp bút màu tím, đầu tròn màu trắng phần cài cũng màu trắng.
- Thân bút màu trắng, in hình hai con ong và dòng chữ bee bee nhiều màu,
dưới có dòng chữ nhỏ màu đen: Bút kim PL – 04, dòng ghi hiệu bút Thiên Long
và mã vạch.
- Đầu bút thon dài, có khấc tròn để giữ bút cho chặt.
- Phần cuối bút thon tròn, màu tím.
8
- Ruột bút nhô ra một hình chóp nón màu tím, đầu nhọn, ngòi viết bằng dạ
kim nhỏ xíu nối liền với bầu mực nằm dài trong thân bút.
Kết bài: Ích lợi của cái bút, ý thức giữ gìn bút và tình cảm của em đối với cái
bút.
2.3.2 Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh xây dựng nội dung bài văn miêu tả.
Từ những tư liệu thu thập được qua quá trình quan sát học sinh cần phải lựa
chọn ý, sắp xếp ý để xây dựng bài văn miêu tả. Nội dung đủ và phong phú là yêu
cầu không thể thiếu được của một bài văn miêu tả tốt.
Giải quyết vấn đề này ta cần trải qua các khâu như (quan sát, tìm ý, lập dàn
bài chi tiết).
Mỗi bài văn miêu tả của học sinh cần có đủ ba phần ( mở bài, thân bài, kết
phận của cây có bóng mát. Chú ý đến sự liên kết giữa các bộ phận được miêu tả.
Giáo viên hỏi: Em sẽ tả những bộ phận nào của cây có bóng mát?
Học sinh nêu ý, hỗ trợ bổ sung ý kiến cho nhau.
Sau đó tôi chốt lại :
- Chọn một số bộ phận và tả chi tiết các bộ phận đó như: Gốc, thân, lá, hoa, quả, ....
- Hoặc đối với học sinh có năng khiếu chỉ cần tả lướt qua các bộ phận, mỗi
bộ phận chỉ điểm một hai chi tiết đặc sắc.
Bên cạnh nội dung trên tôi còn lưu ý học sinh tả khung cảnh thiên nhiên nơi
cây mọc, hoạt động của người hay vật có liên quan đến cây.
Như vậy mỗi em mỗi ý, mỗi vẻ khác nhau nhưng vẫn đảm bảo đủ ý chính. Tuy
nhiên nếu chỉ đủ ý chính thì bài văn chưa đạt, một bài văn hay cần phải phong phú về
nội dung. Do đó tôi cho các em tuỳ chọn nội dung viết theo yêu cầu của đề bài.
Ví dụ với đề bài: “ Ở vườn hoa (hoặc công viên) các luống hoa (chậu hoa)
nở bông rất đẹp. Hãy tả một cây hoa mà em thích nhất”. Có học sinh chọn tả cây
hoa Hồng, có học sinh chọn tả cây hoa Cúc, có học sinh chọn tả cây hoa Mẫu đơn,
… Như vậy, nội dung bài của học sinh vừa đủ ý, vừa phong phú về nội dung và
đảm bảo đúng trọng tâm.
2.3.3 Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh cách diễn đạt bài văn miêu tả có nghệ
thuật.
a. Hướng dẫn cách thu nhận các nhận xét do quan sát mang lại:
Xây dựng nội dung bài văn miêu tả ở trên mới là “ Một sườn bài” đủ ý. Để
bài văn sinh động có nghệ thuật các em phải trau dồi qua tiết làm văn luyện tập xây
dựng đoạn.
Khi học sinh trình bày kết quả quan sát, nên hướng dẫn các em trả lời bằng
nhiều chi tiết cụ thể và sử dụng ngôn ngữ chính xác, gợi hình ảnh. Hướng dẫn các
em quan sát bức tranh cùng vui chơi và trả lời câu hỏi “ Hai bạn học sinh chơi cầu
như thế nào ?” ( bạn này làm gì? bạn kia làm gì?). Nếu các em nói “ Hai bạn đang
chơi đá cầu” thì đây là nhận xét sơ lược, kết quả của sự quan sát hời hợt hoặc thiếu
phương pháp. Giáo viên không bằng lòng với câu trả lời này mà cần gợi ý thêm “
Các em quan sát kỹ xem mỗi bạn đang làm gì?”. Nếu học sinh trả lời “ Hai bạn
lại dịu dàng nhường cho nó và đi kiếm một bụi khác, …”.
Từ đó hướng dẫn học sinh vận dụng các biện pháp nghệ thuật vào khi làm
bài văn miêu tả.
Chẳng hạn: khi " Tả cái trống trường em" tôi hỏi về hình dáng, mặt trống, thân
trống thì học sinh đã biết vận dụng những biện pháp so sánh, nhân hoá để tả như:
- Mình anh bằng gỗ, tròn trùng trục như một cái chum sơn đỏ choé, ngang
lưng quấn hai vòng đai bằng con rắn cạp nong, nom rất hùng dũng.
- Mặt trống nhìn tựa như bề mặt nồi tráng bánh cuốn.
11
Hay như khi “ Tả con mèo của em” tôi hỏi: Hình dáng (đầu, mình, chân, …),
tính nết của con mèo có thể tả bằng những câu văn có sử dụng biện pháp so sánh
(hoặc nhân hóa) như:
- Mình chú to gần bằng cái phích.
- Chú khoác trên mình chiếc áo màu xám.
- Đầu chú tròn và to như quả cam.
- Mắt chú long lanh như ngọc và tròn xoe như hai viên bi.
- Bình thường cô nhõng nhẽo như một cô nàng tiểu thư.
- Khi thấy chuột cô rón rén đến chạn bát, nhanh như một tia chớp, cô lao tới
chộp gọn lấy cổ con chuột nhắt.
Những câu hỏi gợi ý cách diễn đạt tôi thường xem trong khi học sinh làm
miệng, nếu học sinh chưa sử dụng được biện pháp nghệ thuật thì tôi gợi ý để học
sinh khác bổ sung, sửa cho bạn.
Ví dụ: Một học sinh nêu “ Dù tối mèo vẫn nhìn rõ mọi vật nhờ cặp mắt xanh
lè ở giữa hai khe hẹp và nhỏ”.
Tôi hướng dẫn học sinh khác sửa lại: “ Dù tối như bưng, chú mèo vẫn nhìn
rõ mọi vật bằng cặp mắt xanh lè, ở giữa có một khe nhỏ và hẹp”.
Trong bài văn tả cây cối có em nêu: “ Cây bàng này thật chẳng có gì đặc
góp phần cho Tổ quốc thêm xanh, …
Khi sống với chú mèo em có cảm giác gì?: “ Mèo đã trở thành người bạn
thân của em từ lúc nào không rõ. Em thường để dành cho nó những con tôm, con
cá câu được ở sông, …”.
Tương tự như vậy tôi yêu cầu học sinh đưa ra những suy nghĩ, cảm xúc,
nhận xét trước một sự vật, đối tượng miêu tả. Bài văn miêu tả của học sinh tránh
được những điểm khô khan liệt kê các bộ phận miêu tả. Thấm đượm cảm xúc của
người viết.
Kết hợp các yếu tố: Tìm ý cho bài văn, xây dựng nội dung miêu tả, diễn đạt
bài văn miêu tả có nghệ thuật và bộc lộ cảm xúc sẽ làm cho bài văn miêu tả của
học sinh trở nên sinh động, đạt kết quả cao. Tạo tiền đề để các em học tốt các thể
loại văn khác như kể chuyện, tường thuật, tả cảnh sinh hoạt, …
Tất cả những điều tôi đã trình bày trên đây là những vấn đề khái quát bao
trùm cả quá trình dạy học sinh lớp 4 viết bài văn miêu tả. Để thực hiện vấn đề đó
phải phát huy vai trò chủ đạo của thầy và chủ động của trò trong quá trình dạy học.
Cụ thể là:
- Đối với giáo viên : Khâu chuẩn bị đầu tiên là soạn bài hợp với 3 đối tượng
học sinh, để học sinh cả lớp được làm việc, chiếm lĩnh kiến thức của bài.
- Quá trình lên lớp : Đây là quá trình làm việc sinh động của thầy và trò trên
lớp. Thầy với vai trò chỉ đạo, học sinh với vai trò chủ động, giáo viên nắm vững
năng lực, trình độ của học sinh để thực hiện phương pháp “ Lấy học sinh làm trung
tâm”. Tạo hứng thú cho học sinh trong các tiết học qua những buổi tham quan, quan
sát, thực tế để tìm tư liệu cho bài viết. Hướng dẫn các em sử dụng sách giáo khoa và
vở bài tập một cách khoa học. Luôn trân trọng ý kiến học sinh, quan tâm hơn đến
những học sinh Chưa hoàn thành với những câu hỏi gợi mở xem các em vướng mắc
13
ở chỗ nào để hướng dẫn, sửa chữa kịp thời, với những học sinh Hoàn thành và Hoàn
thành tốt thì cần khuyến khích những nét sáng tạo trong bài làm của em.
nghệ thuật so sánh:“ Thân nó khẳng khiu, cao vút, cành ngang thẳng đuột – Lá nhỏ
14
xanh vàng, hơi khép lại tưởng như lá héo.” Qua đó, tôi giúp học sinh hiểu rằng
người ta có thể mượn hình ảnh này để ca ngợi một hình ảnh khác ( mượn cái không
đẹp của cây sầu riêng để tăng thêm hương vị của trái sầu riêng).
Ví dụ 2: Khi dạy đến bài “Hoa học trò” , trong phần tìm hiểu bài tôi giúp
các em cảm nhận được cái hay, cái độc đáo qua cách dùng từ của Xuân Diệu. Để
giúp người đọc cảm nhận được số lượng hoa phượng ra nhiều và rất đẹp. Tác giả
đã sử dụng một loạt các điệp từ, điệp ngữ để diễn tả điều đó:“Phượng không
phải là một đóa, không phải vài cành. Phượng đây là cả một loạt, cả một vùng, cả
một góc trời đỏ rực. Mỗi hoa chỉ là một phần tử của cái xã hội thắm tươi, người ta
quên đóa hoa, chỉ nghĩ đến cây, đến hàng, đến những tán hoa lớn xòe ra như
muôn ngàn con bướm thắm đậu khít nhau”.
Để giúp học sinh hiểu khi quan sát cây cối người ta cần phải phối hợp nhiều
giác quan. Tả lá phượng tác giả viết: “Lá xanh um, mát rượi, ngon lành như lá me
non.” Chỉ bằng một câu nhưng tác giả đã sử dụng tới ba giác quan: mắt (xanh um),
xúc giác ( mát rượi), vị giác ( ngon lành). Như vậy các từ ngữ miêu tả trong các bài
tập đọc rất đa dạng và phong phú, chúng được sử dụng rất hay, sinh động, gây ấn
tượng. Cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong các bài Tập đọc cũng rất là sáng
tạo. Bằng cách này tôi đã giúp học sinh tích lũy thêm vốn từ và học cách sử dụng
chúng, đồng thời thông qua các bài tập đọc tôi cũng giúp các em hiểu thêm rằng để
một bài băn miêu tả hay thì cần phải sử dụng các biện pháp nghệ thuật hợp lý.
b. Thông qua phân môn Luyện từ và câu:
Mục tiêu chính của luyện từ và câu là giúp học sinh mở rộng vốn từ; cách sử
dụng từ chính xác, cách viết câu đủ ý. Khi dạy về các nội dung mở rộng vốn từ
theo từng chủ điểm, tôi giúp học sinh hiểu rõ nghĩa các từ ngữ, các thành ngữ, các
tục ngữ thuộc chủ điểm đó. Từ đó sẽ giúp các em sử dụng các từ ngữ đó chính xác,
Mai tứ quý nở bốn mùa. Cánh hoa vàng…xếp làm ba lớp. Năm cánh dài
đỏ tía như ức gà chọi, đỏ suốt từ đời hoa sang đời kết trái. Trái kết màu chín
đậm, óng ánh như những hạt cườm đính trên tầng áo lá lúc nào cũng …..thịnh
vượng quanh năm.
( dáng/giáng/ráng, giần/dần/rần…) ”
Sau khi cho học sinh thực hiện theo yêu cầu của bài. Tôi gọi học sinh đọc
lại bài văn. Sau đó tôi đưa ra một số câu hỏi mở rộng nhằm mục đích có thể vận
dụng nó vào việc học phân môn Tập làm văn.
- Bài văn thuộc thể loại văn gì? Kiểu bài gì? ( Văn miêu tả, kiểu bài tả cây cối).
- Tác giả đã quan sát cây theo trình tự nào? (Từng bộ phận của cây).
- Trong bài văn này tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào? Lấy ví dụ
minh họa ( nghệ thuật so sánh, ví dụ như: thân thẳng như thân trúc. Năm cánh dài
đỏ tía như ức gà chọi, trái kết màu chín đậm, óng ánh như những hạt cườm, …).
- Em học tập được gì khi học bài văn này? (học được cách miêu tả, cách
dùng từ, sử dụng các biện pháp nghệ thuật).
Qua tất cả các phân môn này, người giáo viên có thể khéo léo khai thác để
làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh ( từ ngữ miêu tả) và giúp học sinh biết cách sử
dụng chúng một cách hợp lý. Song do đặc trưng của môn học, mỗi giờ học chỉ
16
thiên về một mặt nào đó. Nó chỉ hỗ trợ để học sinh học tốt hơn phân môn Tập làm
văn. Vì thế người giáo viên không thể lạm dụng để biến nó thành một giờ dạy Tập
làm văn được.
2.3.6 Biện pháp 6: Hướng dẫn hình thành kỹ năng tự kiểm tra đánh giá khả
năng của mình và của bạn.
Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học là tư duy trực quan cụ thể. Do đó
trong giảng dạy, giáo viên cần đưa ra những ví dụ cụ thể để học sinh hình dung,
hiểu rõ cách làm. Vì vậy trong các giờ trả bài viết, sau khi nhận xét và hướng dẫn
học sinh chữa lỗi, tôi chọn những bài văn hay, có sáng tạo của học sinh trong lớp
Kết quả đạt được như sau:
Lớp
Chưa hoàn
thành
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
SL
SL
SL
(%)
(%)
(%)
4A
42
13
30,9
29
69,1
0
0
- Qua thực tế bài làm của học sinh lớp 4A, tôi nhận thấy các em bắt đầu có
hứng thú và đam mê với phân môn Tập làm văn. Giờ học diễn ra nhẹ nhàng và
sinh động, hấp dẫn hơn. Các em đã chủ động, tự giác trong việc hình thành kiến
thức. Vốn từ ngữ miêu tả của các em ngày càng phong phú hơn cả về số lượng lẫn
chất lượng. Cách sử dụng từ của các em chính xác hơn. Trong khi viết văn, các em
đã biết cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa, các từ láy,
các điệp từ. Bài viết giàu cảm xúc hơn đồng thời kỹ năng diễn đạt của các em cũng
tốt hơn, các em chú ý hơn khi học các phân môn như: Luyện từ và câu, Tập đọc,
Để bài văn hay, sinh động, giáo viên hướng dẫn học sinh diễn đạt có nghệ
thuật bằng cách cho các em luyện cách mở bài gián tiếp, kết bài mở rộng và tập
vận dụng một số biện pháp nghệ thuật vào việc diễn tả nội dung.
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh bộc lộ cảm xúc trong bài văn miêu tả,
cảm xúc không chỉ bộc lộ ở phần kết luận mà phải được thể hiện trong từng câu,
từng đoạn văn. Có như vậy bài văn miêu tả của học sinh mới tránh được sự khô
khan, liệt kê các bộ phận miêu tả. Thấm đượm cảm xúc của người viết.
Để thực hiện tốt những điểm nêu trên giáo viên cần phải:
+ Nắm vững chương trình của bộ môn toàn cấp và từng lớp. Nắm vững kiến
thức và dạy đúng phương pháp bộ môn, gây hứng thú trong giờ học.
+ Giáo viên cần phải phân loại đối tượng học sinh, thường xuyên kiểm tra,
đánh giá kịp thời.
+ Học sinh phải được làm việc nhiều trên lớp cũng như ở nhà với nhiều hình
thức để nắm vững kiến thức, mở rộng nâng cao tầm hiểu biết và vốn sống.
+ Đọc và nghiên cứu thêm các tài liệu chuyên sâu, các tạp chí, chuyên đề
giáo dục, phương pháp dạy học văn miêu tả, những bài văn mẫu.
3.2. Kiến nghị:
- PGD nên tổ chức các tiết dạy ( phân môn Tập làm văn) thành công qua các
đợt thao giảng giáo viên dạy giỏi cấp thành phố, tỉnh dạy cho giáo viên các nhà
trường được dự giờ, học tập.
- Tiếp tục hội thảo, chuyên đề về dạy học phân môn Tập làm văn để giáo viên
được tham dự, học hỏi một cách cụ thể, sát thực, nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ.
19
Trên đây là những kinh nghiệm mà bản thân đã đúc kết được trong quá
trình công tác tại trường Tiểu học Tân Sơn. Do thời gian và khả năng có hạn,
chắc chắn không thể tránh khỏi những tồn tại, hạn chế. Đề nghị BGH nhà
trường và cấp trên góp ý để tôi tiếp tục hoàn thiện đề tài, góp phần nâng cao