MỤC LỤC
Nội dung
Mục lục
1. Cơ sở đề xuất giải pháp
1.1 Sự cần thiết hình thành giải pháp
1.2 Mục tiêu của giải pháp
1.3 Căn cứ đề xuất giải pháp
1.4 Phương pháp thực hiện, đối tượng và phạm vi áp dụng
1.4.1 Phương pháp thực hiện
1.4.2 Đối tượng và phạm vi áp dụng
2. Quá trình hình thành và nội dung giải pháp
2.1 Quá trình hình thành nên giải pháp
2.2 Những cải tiến cho phù hợp với thực tiễn
2.3 Nội dung của giải pháp mới
2.3.1 Cung cấp cho học sinh các kiến thức văn học
2.3.2 Luyện điền từ, chọn từ
2.3.3 Dạy cho học sinh viết câu có kết cấu đơn giản
2.3.4 Dạy cho học sinh viết một vài dạng câu có kết cấu phức tạp
2.3.5 Dạy các biện pháp nghệ thuật
2.3.6 Dạy viết văn
3. Hiệu quả của giải pháp
3.1 Thời gian áp dụng giải pháp
3.2 Hiệu quả đạt được
3.3 Khả năng triển khai, áp dụng giải pháp
3.4 Kinh nghiệm thực tiễn khi áp dụng
4. Kết luận và đề xuất kiến nghị
4.1 Kết luận
4.2 Đề xuất, kiến nghị
1
1.1 Sự cần thiết hình thành giải pháp
Nhận thức được tầm quan trọng của Tiếng Việt trong sự nghiệp giáo dục con
người. Từ xa xưa ông cha ta đã sử dụng nó một cách tự giác nhằm để giáo dục
trẻ nhỏ.
Khi chưa có nhà trường, trẻ được giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội. Từ
thuở nằm nôi, các em được bao bọc trong tiếng hát ru của mẹ, của bà, lớn lên
chút nữa những câu chuyện kể có tác dụng to lớn, là dòng sữa ngọt ngào nuôi
dưỡng tâm hồn trẻ, rèn luyện các em thành con người có nhân cách, có bản sắc
dân tộc góp phần hình thành con người mới, đáp ứng yêu cầu của xã hội đối với
những thành viên của mình.
Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục nhà trường xuất hiện như một
điều tất yếu, đón bước thiếu nhi cắp sách tới trường. Cả thế giới đang mở trước
mắt các em. Kho tàng văn minh nhân loại được chuyển giao từ những điều sơ
đẳng nhất. Quá trình giáo dục được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, tất cả các môn
học.
Những điều sơ đẳng nhất đã góp phần rất quan trọng trong việc sử dụng
ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp của học sinh. Ngôn ngữ là thứ công cụ có
tác dụng vô cùng to lớn. Nó có thể diễn tả tất cả những gì con người nghĩ ra,
nhìn thấy biết được những giá trị trừu tượng mà các giác quan không thể
vươn tới được. Điều đó cho thấy việc cung cấp vốn từ cho học sinh là rất cần
thiết và nó có thể mang tính chất cấp bách nhằm “đầu tư” cho học sinh có cơ
sở hình thành ngôn ngữ cho hoạt động giao tiếp cũng như chiếm lĩnh nguồn
tri thức mới trong các môn học khác. Nhiệm vụ của người giáo viên Tiểu học
là cung cấp những kiến thức một cách toàn diện cho học sinh . Mỗi môn học
đều góp phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, cung cấp cho các em
những tri thức cần thiết để phục vụ cho cuộc sống, học tập và sinh hoạt sao
cho tốt nhất và có hiệu quả cao. Một trong những môn học ở Tiểu học có tác
dụng hỗ trợ cho nhau nhằm giáo dục toàn diện học sinh phải kể đến phân
môn tập làm văn. Đây là một môn tổng hợp cao nhất và chiếm thời lượng khá
2
3
* Về phía giáo viên:
- Chưa thực sự khai thác hết thế mạnh của các phương pháp dạy học tích cực và
những kĩ thuật dạy học mới vào bài dạy trong từng bài học.
- Do chưa chú ý đúng mức tới từng đối tượng học sinh nhất là đối tượng học
sinh tiếp thu bài chậm.
- Tốc độ và thời gian giảng dạy chưa cân đối giữa việc cung cấp kiến thức với
việc thực hành còn nhanh, khiến học sinh tiếp thu bài chậm không nắm bắt kịp.
- Chưa tạo hứng thú trong tiết dạy.
* Về phía học sinh:
- Do khả năng tư duy của học sinh Tiểu học còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn
giản, trực quan nên việc làm văn của học sinh còn gặp nhiều khó khăn. Chất
lượng cảm thụ văn học của học sinh chưa đồng đều dẫn đến chất lượng làm văn
chưa cao.
- Vốn sống và vốn cảm thụ văn học của học sinh còn hạn chế. Hơn nữa không ít
em chưa có thói quen đọc sách, ham đọc sách vì thế các em ít có sự say mê với
các tác phẩm văn học.
- Do nắm bắt kiến thức cũ chưa tốt, đọc viết còn chậm, vốn từ còn hạn chế, chưa
biết diễn đạt ý, khả năng tiếp thu bài chậm.
* Đối với phụ huynh:
Một số phụ huynh thiếu quan tâm đến việc học tập của con cái, hướng dẫn
con em học còn gặp nhiều khó khăn .
- Chính vì những khó khăn và hạn chế nêu trên nên chất lượng làm văn của học
sinh lớp tôi chưa đạt kết quả như mong muốn. Đây cũng chính là một thực trạng
khiến tôi luôn băn khoăn, trăn trở về việc làm văn của học sinh lớp 4. Trước
thực tế ấy, tôi đã luôn suy nghĩ tìm tòi và tham khảo: Làm thế nào để nâng cao
được chất lượng làm văn cho học sinh lớp 4? Cuối cùng tôi cũng tìm được một
tượng hoá, khái quát hoá kể lại được câu chuyện đã được nghe, được đọc có
miêu tả hành động lời nói của nhân vật. Quan sát các sự vật để miêu tả và ghi lại
được những đặc điểm nổi bật đó bằng các từ ngữ, câu văn có hình ảnh. Qua đó
gây hứng thú học tập, phát triển hợp lí khả năng suy luận đơn giản, góp phần rèn
5
luyện phương pháp học tập và làm việc khoa học sáng tạo của con người mới
trong quá trình đất nước đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Ngoài tính chất
đặc thù của môn Tiếng việt còn góp phần rèn luyện đạo đức của người lao động
mới. Trong môn học Tiếng Việt các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính
tả, Kể chuyện có mối quan hệ kiến thức rất chặt chẽ. Muốn học tốt phân môn
Tập làm văn các em cần đạt được kiến thức cơ bản về các phân môn trên. Các
kiến thức trong môn học được thể hiện đồng đều trong từng tuần học từng chủ
điểm cụ thể. Vì thế giáo viên dạy cần chú ý khắc sâu tất cả kiến thức ở các phân
môn, các dạng bài để tạo những kiến thức nền tảng học phân môn Tập làm văn
được tốt.
Muốn nâng cao chất lượng làm văn cho học sinh lớp 4 đòi hỏi người
giáoviên phải kiên trì và bền bỉ vì đây là một công việc rất khó khăn. Tôi đã tiến
hành những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng làm văn.
2.2 Những cải tiến cho phù hợp với thực tiễn
Trong thực tế, giáo viên tiểu học gặp nhiều khó khăn khi dạy Tập làm văn,
đặc biệt là giáo viên dạy lớp 4. Những năm học cuối cấp tiểu học, kiến thức về
Tập làm văn được cung cấp khá nhiều, khá sâu, chương trình lại cấu trúc theo
kiểu đồng tâm mở rộng nên nếu không nắm được kiến thức ở lớp dưới, các em
sẽ khó tiếp thu được kiến thức mới ở lớp trên.
Tình hình học tập của học sinh hiện nay so với học sinh các năm trước có
những tiến bộ đáng kể, nhất là khả năng giao tiếp. Học sinh đã tự tin hơn khi
trình bày ý kiến trước đám đông, có khả năng cảm thụ cái hay cái đẹp của các
tác phẩm văn học và được học nhiều kiến thức mới so với nội dung chương trình
- Từ: Long lanh, nhỏ xíu, mênh mông, thung thăng, cao vút.
- Đặt câu: - Thân đa cao vút, đỉnh chót vót giữa trời xanh.
- Trời xuân trải sắc xanh trên biển lúa mênh mông.
Vậy qua môn Tập đọc học sinh tích lũy được “ vốn liếng” từ không hề nhỏ.
Ngoài ra cuối mỗi tiết Tập đọc tôi thường cho học sinh tìm những câu văn hay
trong bài, những câu văn mang tính nghệ thuật cao để các em đưa vào văn bản
của mình.
Ví dụ:
Cá thu Biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
( Đoàn thuyền đánh cá)
7
Con đen huyền, con trắng tuyết, con đỏ son, chân dịu dàng chùm đuôi cong
lướt thướt liễu rủ.
( Đường đi Sa Pa)
2.3.2 Luyện điền từ, chọn từ
Song song với việc tích lũy vốn từ qua môn Tập đọc. Trong tiết luyện viết
đoạn văn tôi thường xuyên cho các em củng cố về từ ngữ qua dạng bài luyện từ,
từ dễ, từ khó.
* Điền từ để câu văn giàu hình ảnh:
- Nắng ban mai (hồng tươi) nhuốm chan hoà trên từng sắc lá.
- Hoa hồng đẹp (lộng lẫy) cánh hoa đỏ (thắm), mịn (như nhung).
- Mùa hè đến, hàng trăm, hàng nghìn cánh phượng như đang (phả lửa) lên trời.
- Bầu trời xanh (thăm thẳm), mây trắng (bồng bềnh) trôi.
- Cây cao (cao vút).
- Gió thổi (rì rào) trong đám lá.
- Mào của trống ta y hệt một bông hoa đỏ (chon chót)
+ Đặt câu và phân tích:
Dạ hương / ngọt ngào lan toả khắp khu vườn.
CN
VN
Vườn hoa / quyến rũ lũ ong bướm rập rờn bay đến.
CN
VN
Mít chín / thơm nồng, ngọt sắc như vị của trứng gà quyện với mật ong già
hạn. CN
VN
Cứ như vậy, luyện tập nhiều sẽ giúp học sinh có một kiến thức vững chắc về
câu.
2.3.4 Dạy cho học sinh viết một vài dạng câu có kết cấu phức tạp
Nếu một bài văn chỉ viết bằng một loại câu thì sẽ gây ra đơn điệu, không hấp
dẫn người đọc. Bởi vậy, ta cần trang bị những kiến thức nâng cao về câu cho
những “mầm non văn học”. Tuy nhiên ta không bắt buộc học sinh tiếp thu
những gì quá phức tạp không phù hợp với tâm lí lứa tuổi. Một số dạng câu có
thể dạy là:
- Câu có trạng ngữ.
- Câu có nhiều chủ ngữ, nhiều vị ngữ.
9
10
rất nhiều biện pháp. Nhưng theo tôi, đối với học sinh ở lứa tuổi này, hai biện
pháp nghệ thuật phù hợp nhất là so sánh và nhân hóa.
2.3.5.1 Biện pháp so sánh
Tôi đã hướng dẫn học sinh tìm các câu có các biện pháp so sánh trong các bài
Tập đọc đã học.
Ví dụ:
- Bông hướng dương như vầng mặt trời vãi tung toé những tia nắng vàng rực rỡ.
- Hoa cẩm chướng là ngôi sao màu trên vòm trời xanh lục giữa vườn.
- Từ xa nhìn lại, cây gạo sừng sững như một tháp đèn khổng lồ. Hàng ngàn bông
hoa là hàng ngàn ngọn lửa hồng tươi. Hàng ngàn búp nõn là hàng ngàn ngọn nến
trong xanh.
- Gió đưa hương thơm ngát như hương cau, hương bưởi tỏa khắp khu vườn .
- Cánh hoa nhỏ như vảy cá, hao hao giống cánh sen con.
- Những tán hoa lớn xòe ra như muôn ngàn con bướm thắm đậu khít nhau.
- Với những cánh tay quều quào xoè rộng, nó như con quái vật già nua cau có và
khinh khỉnh giữa đám bạch dương tươi cười.
- Dáng mọc của lộc rất lạ, thẳng đứng trên cành, như thể đêm qua có ai đó thả
hàng vạn búp lá nhỏ xíu từ trên trời xanh biếc chi chít cành và xoay thành
những tán tròn quanh thân cây.
Với những câu văn này tôi sẽ giới thiệu để các em nắm chắc được biện pháp so
sánh bằng cách sau:
Ví dụ: Câu “Bông hướng dương như vầng mặt trời vãi tung toé những tia nắng
vàng rực rỡ”. Tôi phân tích cách sử dụng biện pháp so sánh, tác giả lấy hình ảnh
mặt trời để tả bông hướng dương.
Để thấy được tính ưu việt của biện pháp nghệ thuật này tôi lấy một câu
khác để mô tả bông hướng dương.
“Bông hướng dương rất to, màu vàng, có rất nhiều cánh nhỏ”. Và yêu cầu
Dạng bài này không khó đối với học sinh nhưng không phải học sinh nào
cũng cảm nhận được cái đẹp cái mới mẻ trong đoạn văn, đa phần các em chỉ
nhận ra hình ảnh so sánh.
* Điền từ thích hợp vào chỗ trống tạo thành câu văn có hình ảnh so sánh
gợi tả:
- Nhìn từ xa, cây bàng… một chiếc ô khổng lồ lợp bằng lá xanh tươi.
12
- Những quả chuối cong cong… vầng trăng khuyết.
- Những chiếc gai… những chú lính đứng trang nghiêm gác cho nàng công chúa
hoa hồng.
Ở dạng bài này hướng dẫn các em chọn các từ sau để điền: như, giống
như, tựa, tựa như, tựa hồ, như là, giống hệt.
* Hãy thêm vế câu để được hình ảnh so sánh thích hợp vào mỗi chỗ trống
để mỗi dòng dưới trở thành câu văn có ý nghĩa mới mẻ, sinh động.
- Lá cọ tròn xoè ra nhiều phiến nhọn dài, trông xa như (bàn tay vẫy hoặc một
mặt trời mới mọc).
- Hoa bòng treo lủng lẳng từng chùm trên cây như (những chiếc đèn lồng nhỏ
xíu hoặc chùm quả).
- Ngựa lao nhanh trên đường đua tựa như (những mũi tên bay trong gió hoặc
những viên đạn rời khỏi nòng súng).
- Đôi cánh mẹ gà xoè ra như (hai mái nhà hoặc chiếc ô dù vững chãi) che chở
cho các chú gà con.
- Ánh mắt dịu hiền của mẹ là (ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời con hoặc ngôi sao dẫn
đường cho con đi lên phía trước).
- Nụ hồng trông giống hệt những (chiếc tháp) bé bé, xinh xinh.
Với dạng bài này tôi giúp học sinh thường xuyên luyện tập chọn từ điền
thoải mái, không áp đặt. Sau đó nhận xét tìm ra những từ ngữ hay nhất, khen
học sinh chọn từ để cho học sinh hứng thú học văn.
1. Thân chuối màu đen khô ráp vì nắng gió.
2. Chị chuối thật giản dị trong bộ áo đen khô ráp vì nắng gió.
1. Gà Mái Mơ nuôi con rất khéo.
2. Chị gà Mái Mơ dịu hiền chăm sóc con thật khéo léo.
1. Những con gà chạy lung tung khắp nơi.
2. Những chú gà hiếu động tung tăng chạy khắp nơi.
1. Gốc hồng màu đen xám.
2. Gốc hồng như một người mẹ già đi trong bộ áo xám đen nhường sắc non
xanh cho hoa, cho lá.
1. Bông hồng nhung vươn cao.
2. Cô hồng nhung kiêu hãnh vươn cao, hình như nó rất tự hào với sắc đẹp của
mình.
14
1. Nắng chiếu đầy vòm lá.
2. Những tia nắng tinh nghịch đùa trên vòm lá.
v.v .
Không khó khăn cho học sinh trong việc lựa chọn, tất cả đều có chung
một câu trả lời: Câu văn thứ hai hay hơn câu văn thứ nhất.“ Nó hay hơn vì
sao?”. Nhiều học sinh lúng túng trước câu hỏi này. Tôi nghĩ giáo viên cần lí
giải: Câu thứ 2 hay hơn vì đã sử dụng biện pháp nhân hóa: Chị Mái Mơ, chị
chuối, chú gà, cô hồng nhung… trở nên sinh động, đáng yêu vì đã có những suy
nghĩ, tính cách của con người. Sau khi các em nắm bắt được tác dụng của biện
pháp này, tôi giới thiệu cho các em cách nhân hoá sự vật.
* Gọi tên sự vật
Chúng ta có thể gọi tên sự vật như khi gọi tên người: Cô trăng, chị gió, bác
mặt trời, anh gà trống, chị Mái Mơ, bác mèo mướp, chị chuối tiêu.
* Gắn suy nghĩ, tính cách, hoạt động của người vào sự vật
- Hoa quỳnh trầm tư.
- Cô gà mái đảm đang dẫn đàn con đi kiếm mồi.
- Chị chim sâu chăm chỉ lách chách chuyền cành.
- Hồng nhung lộng lẫy trong chiếc áo đỏ thắm mịn màng.
- Cúc vàng ủ rũ nhìn các bạn đi hội xuân. Nó không còn bộ quần áo nào lành lặn
cả.
- Hễ kiếm được miếng mồi nào chị Mái Mơ cũng lục tục gọi bầy con đến
nhường cho chúng.
- Chị dang đôi cánh ấm áp ủ bầy con nhỏ.
- Từ ngày nuôi lũ con, bộ lông chị gà cứ xơ xác hẳn đi.
- Chị gà rất giàu kinh nghiệm, chị chẳng bao giờ dẫn đàn con đến gần rãnh
nước.
Bằng cách luyện tập này thì việc vận dụng biện pháp nhân hoá vào bài
làm của các em tiến bộ rõ rệt. Câu trả lời này, tôi sẽ minh hoạ bằng bài văn của
các em ở phần sau.
Trên đây là các bước “dạo đầu” giúp các em có một vốn văn học nhất
định phục vụ cho việc viết bài. Học sinh sử dụng các “viên gạch” đó xây nền các
“ngôi nhà” như thế nào mới quan trọng. Muốn có bài văn hay cần gì trong tiết
dạy?
16
2.3.6 Dạy viết văn
Mục tiêu lớn nhất của việc dạy văn là chất lượng của bài viết. Một bài viết
hay là một bài văn được kết hợp hài hoà nhiều yếu tố: Nội dung, nghệ thuật,
cảm xúc. Nhiệm vụ của người giáo viên là làm sao để bài văn của học sinh cần
có tất cả các yếu tố đó. Muốn vậy trong mỗi tiết làm văn ta tập trung giải quyết 3
nhiệm vụ.
2.3.6.1 Xây dựng nội dung
Phong phú về nội dung là yêu cầu đầu tiên của một bài viết tốt. Giải quyết
nhiệm vụ này tương đối khó nên giáo viên cần hướng dẫn kĩ. Khi dạy, giáo viên
ảnh và sử dụng các biện pháp so sánh và nhân hóa. Bởi vậy nó cũng rất gần gũi
quen thuộc với các em vì các em đã có được cả một quá trình học tập và rèn
luyện. Trong quá trình tập diễn đạt nội dung, có thể gợi ý bằng các câu hỏi:
- Ta có thể tả màu sắc hoa hồng nhung bằng từ nào? (đỏ thẫm, đỏ thắm).
- Gốc hồng làm nhiệm vụ gì?
“Tuy nó sần sùi màu nâu và khô cằn”. Em có thể dùng biện pháp so sánh hay
nhân hoá để làm nổi bật nét đẹp trong hình thức xấu xí của nó được không? (gốc
cây như người mẹ giản dị trong bộ áo nâu xám. Nhường sắc xanh tươi cho lá,
cho hoa).
- Những chiếc gai có thể nhân hóa được không? (Nhân hoá như những người
lính).
- Tàu lá chuối có thể so sánh với cái gì? ( Cái quạt khổng lồ, tấm lụa màu xanh
lục).
- Những quả chuối cong cong giống cái gì? (Vầng trăng khuyết).
Bằng cách gợi mở, dẫn dắt như vậy học sinh sẽ nêu ra những ý kiến của
mình. Sau khi nghe phần trình bày của các em, tôi sẽ rút ra một số từ ngữ, hình
ảnh, câu văn hay để cả lớp có thể học tập và đưa vào bài của mình.
2.3.6.3 Đưa cảm xúc vào bài văn
Một bài văn hấp dẫn, gây ấn tượng với người đọc không thể thiếu “cảm
xúc” của người viết. Cảm xúc không chỉ có ở phần kết luận. Nó phải được thấm
đậm trong từng câu, từng lời của bài văn. Đối với học sinh nhỏ thì điều này thật
là trừu tượng.
18
Bởi vậy ta không nên đòi hỏi các em một cách chung chung. Các em lồng
được tình cảm của mình vào từng ý văn, giáo viên nên gợi ý cụ thể như sau:
- Hoa hồng đẹp đến khó tả được. Khi ngắm nhìn hoa em cảm thấy như thế nào?
(Hoa đẹp lộng lẫy say đắm lòng người).
tài: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt phân môn Tập làm văn”
đã thực sự có tiến triển. Những kinh nghiệm mà tôi đúc rút được là rất sát với
thực tế không những ở trường, lớp tôi mà ở một số trường Tiểu học khác cũng
có thể áp dụng được.
3.4 Kinh nghiệm thực tiễn khi áp dụng
Từ thực trạng dạy và học văn ở trường Tiểu học. Tôi đã nghiên cứu tìm một
số biện pháp khắc phục khó khăn của giáo viên và học sinh. Theo tôi muốn học
sinh học tốt phân môn Tập làm văn lớp 4 mỗi giáo viên cần:
- Thấm nhuần đổi mới phương pháp dạy học. Giáo viên là người tổ chức hướng
dẫn giúp học sinh tự giác tích cực trong quá trình học.
- Giáo viên cần coi trọng việc rèn kĩ năng làm văn cho học sinh, chú ý đến luyện
tập, thực hành.
- Đặc biệt chú ý bồi dưỡng vốn văn học, phát triển vốn từ ngữ, tích lũy vốn ngôn
ngữ và cách sử dụng các biện pháp tu từ vào viết văn, tạo nên những bài văn
giàu hình ảnh.
- Tôn trọng cách nghĩ, cách biểu cảm riêng của mỗi học sinh, không áp đặt, bắt
buộc học sinh làm theo văn mẫu. Tôn trọng những cảm xúc đẹp của học sinh.
- Nhận thức đúng về tác dụng của việc chữa lỗi. Việc chấm chữa phải được thực
hiện nghiêm túc, có hệ thống.
4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ
4.1 Kết luận
Đề tài : "Phương pháp giúp học sinh học tốt môn tập làm văn lớp 4” đã có
ý nghĩa rất quan trọng đối với tôi, nó giúp tôi có kinh nghiệm trong giảng dạy
những kiến thức về tập làm văn. Từ đó sẽ giúp cho học sinh dễ hiểu và làm bài
được tốt hơn .
20
4.2 Đề xuất, kiến nghị
Dạy các dạng bài tập “Tập làm văn ” là nguồn cung cấp vốn từ, lối diễn đạt
giúp đỡ và đóng góp chân thành của các cấp lãnh đạo, quý thầy cô trong Ban
giám hiệu nhà trường và bạn bè đồng nghiệp để tôi giảng dạy ngày một tốt hơn,
góp một phần công sức nhỏ bé của mình nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Phước nguyên, ngày 20 tháng 02 năm 2016
Người viết
Trần Thị Kim Loan
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dạy Tập đọc ở Tiểu học - Nhà xuất bản Giáo dục - Năm 2000
2. Luyện thực hành tiếng Việt ở Tiểu học - Nhà xuất bản Đà Nẵng- Năm 2003
3. Sách giáo viên Tiếng Việt 4 - Tập I + II - Nhà xuất bản Giáo dục- Năm 2005
4. Sách Tiếng Việt 4 tập I + II - Nhà xuất bản Giáo dục - Năm 2005
5. Tạp chí giáo dục Tiểu học - Nhà xuất bản Giáo dục - Năm 2005
23