TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
======
NGUYỄN THỊ YẾN
RÈN KĨ NĂNG TẠO LẬP VĂN BẢN CHO
HỌC SINH LỚP 4, 5 QUA PHÂN MÔN
TẬP LÀM VĂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. LÊ THỊ LAN ANH
HÀ NỘI – 2016
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này, tôi không thể tránh
khỏi những lúng túng, bỡ ngỡ. Nhƣng dƣới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của
TS. Lê Thị Lan Anh, tôi đã từng bƣớc tiến hành và hoàn thành khóa luận với
đề tài: Rèn kĩ năng tạo lập văn bản cho học sinh lớp 4, 5 qua phân môn Tập
làm văn.
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Lê Thị Lan Anh và các
thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, cùng toàn thể các thầy cô giáo
trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
1.1.2. Phân loại kĩ năng .............................................................................. 7
1.1.3. Quy trình hình thành kĩ năng ............................................................ 8
1.2. Kĩ năng tạo lập văn bản........................................................................... 9
1.2.1. Văn bản ............................................................................................. 9
1.2.2. Kĩ năng tạo lập văn bản .................................................................. 12
1.3. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 4, 5 ........................................... 13
1.3.1. Đặc điểm sinh lí của học sinh lớp 4, 5............................................ 13
1.3.2. Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4, 5 ............................................ 14
CHƢƠNG 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN ................................................................ 18
2.1. Phân môn Tập làm văn ở trƣờng Tiểu học ........................................... 18
2.1.1. Khái niệm Tập làm văn ................................................................... 18
2.1.2. Vị trí của phân môn Tập làm văn ở trường Tiểu học ..................... 18
2.1.3. Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn ở trường Tiểu học .............. 18
2.1.4. Quy trình dạy Tập làm văn ở lớp 4, 5 ............................................. 19
2.2. Chƣơng trình môn Tập làm văn lớp 4, 5............................................... 21
2.2.1. Chương trình Tập làm văn lớp 4 .................................................... 21
2.2.2. Chương trình Tập làm văn lớp 5 .................................................... 22
2.3. Thực trạng việc dạy và học Tập làm văn ở trƣờng tiểu học ................. 23
2.3.1. Về phía giáo viên ............................................................................ 23
2.3.2. Về phía học sinh .............................................................................. 24
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG TẠO LẬP VĂN
BẢN CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 QUA PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN ....... 26
3.1. Hƣớng dẫn học sinh viết đƣợc bài văn hay và đúng ............................. 26
3.1.1. Giáo viên cần giúp học sinh nắm vững lí thuyết sơ giản về văn
bản
......................................................................................................... 26
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ................................................................. 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 67
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục đào tạo vẫn luôn đƣợc coi là quốc sách hàng đầu, quy định sự
phát triển của đất nƣớc. Ngành giáo dục đã có những biến đổi to lớn cả về nội
dung và phƣơng pháp dạy học để phù hợp với sự phát triển của xã hội, đƣa
đất nƣớc hội nhập thế giới. Mục tiêu giáo dục trong thời đại mới đƣợc xác
định: không chỉ dừng lại ở chỗ giúp học sinh tiếp thu kho tàng kiến thức, năng
lực mà còn giúp học sinh có khả năng vận dụng một cách linh hoạt những
kiến thức, kĩ năng đó vào thực tiễn cuộc sống. Trong đó, cấp Tiểu học đƣợc
coi là cấp học nền tảng, đặt những viên gạch đầu tiên cho sự hình thành, phát
triển nhân cách và trí tuệ con ngƣời.
Ở cấp học này, Tiếng Việt là một môn chính chiếm nhiều thời lƣợng và
xuyên suốt chƣơng trình cả cấp học. Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh kĩ
năng sử dụng tiếng Việt và một số kiến thức cơ bản về ngôn ngữ tiếng Việt.
Tập làm văn là kết tinh “sản phẩm” của các phân môn Tiếng Việt. Nó đòi hỏi
ở ngƣời học khả năng tổng hợp các kiến thức trong nhà trƣờng, kiến thức
cuộc sống một cách linh hoạt. Nó thể hiện sự sáng tạo trong tạo lập văn bản
và thƣờng in đậm dấu ấn cá nhân.
Tập làm văn là một phân môn trong chƣơng trình Tiểu học, cùng với
Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu thực hiện mục tiêu phát triển bốn kĩ năng:
nghe, nói, đọc, viết góp phần hình thành nhân cách và năng lực trong sự phát
triển toàn diện của mỗi cá nhân học sinh. Tuy nhiên, thực tế dạy và học cho
thấy, học sinh ít yêu thích phân môn Tập làm văn, chất lƣợng bài viết của các
em còn chƣa cao, năng lực tạo lập văn bản của các em còn hạn chế. Vì vậy,
chúng ta cần tìm hiểu những giải pháp nhằm rèn luyện kĩ năng tạo lập văn bản
cho học sinh và khơi dậy đƣợc sự sáng tạo, trí tƣởng tƣợng tinh tế của các em.
loại văn bản đúng quy cách, đúng yêu cầu văn chƣơng học đƣờng.
2
Cuốn giáo trình Phương pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học của tác giả
Lê Phƣơng Nga - Đặng Kim Nga, Nhà xuất bản Giáo dục, trong chủ đề 7 đã
trình bày về phƣơng pháp dạy học Tập làm văn. Trong đó nêu rõ vị trí, nhiệm
vụ của phân môn Tập làm văn, cơ sở khoa học của việc dạy học Tập làm văn,
quy trình dạy các kiểu bài Tập làm văn.
Tác giả Nguyễn Trí trong cuốn Dạy Tập làm văn ở trường Tiểu học
(2002) đã nêu những nét khái quát về văn miêu tả. Đồng thời tác giả cũng đƣa
ra phƣơng pháp dạy văn miêu tả ở Tiểu học và một số kinh nghiệm dạy học
sinh viết bài tập làm văn tốt.
Trong cuốn Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông (2003), tác giả Đỗ
Ngọc Thống (chủ biên) và tác giả Phạm Minh Diệu đã phân tích những nét
khái quát về văn miêu tả, những đặc điểm và yêu cầu của văn miêu tả. Tác giả
tập trung giới thiệu văn miêu tả trong nhà trƣờng phổ thông theo yêu cầu và
chƣơng trình sách giáo khoa mới. Từ đó, chỉ ra phƣơng hƣớng học và làm tốt
văn miêu tả.
Ngoài những nghiên cứu lí luận về làm văn, chúng ta còn kể đến cơ sở
thực tiễn các bài văn hay của học sinh. Đó là những bài văn hay của học sinh
Tiểu học đƣợc tuyển chọn qua các kì thi học sinh giỏi các cấp, bài dự thi qua
tạp chí, báo… và đƣợc in thành những cuốn sách tham khảo cho các em học
sinh nhƣ: Những bài làm văn mẫu lớp 4, Những bài văn hay 5, Những bài văn
hay Tiểu học văn tuyển lớp 5, Những bài văn đoạt giải Quốc qia cấp Tiểu
học, 162 bài văn chọn lọc lớp 4, 162 bài văn chọn lọc lớp 5,…
Một số cuốn khóa luận của các anh chị cựu sinh viên trong nhà trƣờng
Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã từng nghiên cứu về vấn đề Tập làm văn:
- Đinh Hồng Quỳnh, Thực trạng kĩ năng viết bài Tập làm văn của học
nhiệm vụ sau:
5.1. Tìm hiểu những cơ sở lí luận của việc rèn kĩ năng tạo lập văn bản
cho học sinh lớp 4, 5 qua phân môn Tập làm văn.
4
5.2. Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của việc rèn kĩ năng tạo lập văn bản cho
học sinh lớp 4, 5 qua phân môn Tập làm văn.
5.3. Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng tạo lập văn bản cho học sinh
lớp 4, 5.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng một số biện pháp
sau:
6.1. Phƣơng pháp phân tích
6.2. Phƣơng pháp thống kê
6.3. Phƣơng pháp chuyên gia
6.4. Phƣơng pháp tổng hợp
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Nội dung đề tài tập trung giải quyết một
số vấn đề sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Cơ sở thực tiễn
Chương 3: Một số biện pháp rèn kĩ năng tạo lập văn bản cho học sinh
lớp 4, 5 qua phân môn Tập làm văn.
5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
thành kĩ năng. Cho nên kĩ năng cũng đƣợc hiểu là sự thể hiện kiến thức trong
hành động. Ngƣợc lại, khi kĩ năng đƣợc hình thành và phát triển sẽ làm sâu
sắc hơn về kiến thức. Đồng thời để hình thành kĩ năng bao giờ con ngƣời
cũng cần triển khai hành động ở dạng khái quát nhất, đầy đủ nhất và luyện tập
trong những tình huống khác nhau đến mức có thể nắm đƣợc quy tắc, quy luật
chung của hành động cũng nhƣ có thể triển khai nó ở dạng xa hơn dạng ban
đầu. Từ đây có thể rút ra những dấu hiệu bản chất của một hành động đạt đến
mức kĩ năng gồm:
- Cá nhân phải có tri thức về hành động.
- Thực hiện hành động theo đúng yêu cầu.
- Đạt đƣợc kết quả phù hợp với mục đích, yêu cầu.
- Có thể thực hiện hành động có hiệu quả trong những điều kiện khác
nhau.
Thực tế cho thấy ở Tiểu học giáo viên thƣờng cố gắng truyền đạt cho
học sinh nhiều tri thức. Khi nắm đƣợc tri thức là khi học sinh hiểu biết và ghi
nhớ đƣợc những khái niệm khoa học. Sau đó khi vận dụng tri thức vào thực
tiễn là khi các em có kĩ năng. Tuy nhiên, kĩ năng vẫn là hành động ý chí đòi
hỏi phải động não, suy xét, tính toán thì mới hoàn thành đƣợc.
1.1.2. Phân loại kĩ năng
Mỗi hành động khác nhau đòi hỏi phải có kĩ năng tƣơng ứng khác nhau.
Căn cứ vào tính chất của mỗi loại hoạt động ta có thể chia thành các kĩ năng:
- Kĩ năng hoạt động trí tuệ.
- Kĩ năng hoạt động lao động sản xuất.
- Kĩ năng hoạt động tổ chức.
Mặt khác, đối với học sinh trong quá trình học tập các em ngày càng
nắm đƣợc nhiều kĩ năng. Xét về mặt nội dung có thể phân loại kĩ năng nhƣ
sau:
7
Bước 2: Quan sát mẫu và làm thử mẫu.
Bước 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu.
Theo các tác giả, việc nhận thức mục đích và cách thức điều kiện hành
động là quan trọng nhất. Nhƣng nếu chỉ dừng lại ở bƣớc này thì chƣa có kĩ
năng vì nó chỉ thể hiện ở mặt lí thuyết, tri thức về hành động chứ chƣa có mặt
kĩ thuật, thao tác thực tiễn của hành động để đạt mục đích đề ra. Giai đoạn
làm thử theo mẫu cũng không kém phần quan trọng. Ở giai đoạn này, con
ngƣời một mặt thực hiện các thao tác theo mẫu để hình thành kĩ năng, một
mặt con ngƣời đối chiếu với tri thức về hành động và điều chỉnh các thao tác
hành động nhằm đạt kết quả, giảm bớt những sai sót trong quá trình hành
động. Sau khi làm thử để nắm vững các cách thức hành động, ngƣời ta phải
tiến hành luyện tập để hoàn thiện kĩ năng. Ở giai đoạn này các tri thức về
hành động đƣợc củng cố nhiều hơn, các tri thức hành động cũng đƣợc ôn
luyện có hệ thống làm ngƣời ta nắm chắc hành động hơn. Đến đây có thể nói
kĩ năng đƣợc hình thành. Tuy nhiên kĩ năng lúc này vẫn chƣa ổn định. Kĩ
năng chỉ ổn định khi ngƣời ta hành động có kết quả trong những điều kiện
khác nhau. Tâm lí học hiện đại đã khẳng định “Chỉ trong hoạt động thì kĩ
năng mới hình thành và phát triển”.
1.2. Kĩ năng tạo lập văn bản
1.2.1. Văn bản
1.2.1.1. Khái niệm văn bản
Trong nhà trƣờng, khái niệm văn bản là một khái niệm hết sức quan
trọng. Văn bản là đối tƣợng của việc dạy đọc - hiểu và cũng là đối tƣợng của
dạy tạo lập văn bản. Phải nắm vững đối tƣợng cần giải mã và tạo lập thì ngƣời
dạy, ngƣời học mới xác định đƣợc cách thức tìm hiểu và tạo lập nó. Mục đích
của làm văn là giúp học sinh có những hiểu biết về một số kiểu văn bản thông
dụng và quan trọng hơn là biết tạo ra văn bản ấy.
10
1.2.1.2. Đặc trưng của văn bản
Văn bản có các đặc trƣng sau:
a) Tính trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức
- Tính trọn vẹn về nội dung: Văn bản dù ngắn hay dài cũng trình bày
đƣợc một nội dung trọn vẹn, khiến cho ngƣời khác hiểu sự việc, một tƣ tƣởng
hay cảm xúc nào đó. Mỗi văn bản phải diễn đạt đƣợc một nội dung trọn vẹn,
một chủ đề.
- Tính hoàn chỉnh về hình thức: Văn bản phải có một thể thống nhất,
trọn vẹn, khép kín mà không cần phải thêm một từ hoặc một câu ở trƣớc hoặc
sau văn bản để cho văn bản đƣợc hoàn chỉnh.
b) Tính khả ngân
Ngƣời ta có thể chia văn bản thành những đơn vị nhỏ hơn:
- Có thể chia theo ngữ cảnh thành:
+ Lời tác giả
+ Lời nhân vật
- Có thể chia theo cấu trúc văn bản:
+ Mở đầu
+ Nội dung
+ Kết thúc
- Có thể phân chia theo quy mô:
+ Các phần
+ Các chƣơng
+ Mục
+ Đoạn
c) Tính liên kết và mạch lạc
Đây là đặc trƣng cần thiết, quan trọng nhất của văn bản, góp phần làm
ngƣời tạo lập văn bản tiến hành thiết lập hệ thống các ý, sắp xếp chúng theo
bố cục hợp lí, đảm bảo liên kết nội dung, mạch lạc văn bản.
12
c) Viết thành văn bản hoàn chỉnh
Đây là khâu trực tiếp tạo ra “sản phẩm”. Ngƣời tạo lập văn bản dùng
lời văn của mình diễn đạt các ý thành câu, đoạn, phần hoàn chỉnh. Ở bƣớc
này, các phƣơng tiện liên kết hình thức đƣợc huy động để triển khai chủ đề,
thực hiện liên kết nội dung, đảm bảo mạch lạc cho văn bản. Việc viết thành
văn cần đạt đƣợc tất cả các yêu cầu: đúng chính tả, đúng ngữ pháp, dùng từ
chính xác, sát bố cục, có tính liên kết, mạch lạc, kể chuyện hấp dẫn, lời văn
trong sáng.
d) Kiểm tra lại văn bản
Đây là khâu cuối cùng của quá trình tạo lập văn bản. “Sản phẩm” phải
đƣợc kiểm tra lại, điều chỉnh những nội dung, cách diễn đạt chƣa hợp lí, sửa
các lỗi về dùng từ, đặt câu, viết đoạn, chuyển ý.
1.3. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 4, 5
1.3.1. Đặc điểm sinh lí của học sinh lớp 4, 5
Học sinh lớp 4, 5 có độ tuổi từ 11, 12 tuổi sự phát triển cơ thể ở lứa tuổi
này đang diễn ra bình thƣờng:
Hệ xƣơng: còn nhiều mô sụn, xƣơng sống, xƣơng hông, xƣơng chân,
xƣơng tay đang trong thời kì phát triển mạnh (thời kì cốt hóa) nên dễ bị cong
vẹo, gãy dập,… Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em, cha mẹ
và thầy cô cần phải chú ý quan tâm, hƣớng các em tới hoạt động vui chơi lành
mạnh, an toàn.
Hệ cơ: đang trong thời kì phát triển mạnh nên các em rất thích các trò
chơi vận động nhƣ chạy, nhảy, nô đùa,… Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đƣa
các em vào các trò chơi vận động từ mức đơn giản đến phức tạp và đảm bảo
điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này, chú ý không chủ định chiếm
ƣu thế hơn chú ý có chủ định. Ở cuối cấp Tiểu học, trẻ dần hình thành kĩ năng
tổ chức, điều khiển chú ý của mình. Chú ý có chủ định phát triển dần và
chiếm ƣu thế. Ở trẻ có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập nhƣ học
14
thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài,… Khối lƣợng chú
ý tăng lên, học sinh biết hƣớng chú ý vào nội dung cơ bản của tài liệu học tập
và bắt đầu có khả năng phân phối chú ý.Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu
xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lƣợng đƣợc khoảng thời
gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong
khoảng thời gian quy định.
Các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi
sự chú ý về thời gian. Chú ý áp dụng linh hoạt theo từng nhóm tuổi và chú ý
đến tính cá thể của trẻ. Điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hƣởng trực tiếp
đến kết quả giáo dục trẻ.
1.3.2.3. Trí nhớ
Trí nhớ trực quan phát triển tốt hơn trí nhớ trừu tƣợng, trí nhớ trong
thời gian ngắn phát triển tốt hơn trí nhớ trong thời gian dài, trí nhớ không chủ
định và có chủ định phát triển mạnh.
Giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ đƣợc tăng
cƣờng. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi
nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ mức độ tích cực tập
trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lí, tình
cảm hay hứng thú của các em…
Các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản
mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các
từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản, dễ hiểu, dễ nắm
tính và lí tính của trẻ. Nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tƣ duy, tƣởng
tƣợng của trẻ phát triển dễ dàng và đƣợc biểu hiện qua ngôn ngữ nói và ngôn
ngữ viết của trẻ.
Ngôn ngữ của trẻ Tiểu học phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và
từ vựng. Vốn từ của các em tăng lên đáng kể từ kiến thức ở các môn học
trong nhà trƣờng và phạm vi tiếp xúc đƣợc mở rộng. Khả năng hiểu nghĩa của
16
từ cũng phát triển: từ chỗ hiểu một cách cụ thể, cảm tính đến hiểu khái quát,
trừu tƣợng nghĩa của từ. Tuy nhiên, trẻ thƣờng hiểu nghĩa của từ gắn với nội
dung cụ thể của bài khóa. Việc hiểu nghĩa bóng còn khó khăn với trẻ. Các em
thƣờng sử dụng chúng một cách tùy tiện khi chƣa hiểu nội dung. Ngoài ra, ở
lứa tuổi này, học sinh đã nắm đƣợc một số quy tắc ngữ pháp cơ bản khi nói và
viết nhƣng việc vận dụng vào ngôn ngữ nói và viết chƣa thuần thục, còn
phạm nhiều lỗi nhất là khi viết. Từ chỗ hiểu nghĩa của từ chƣa chính xác, nắm
ngữ pháp chƣa chắc, nên khi viết các em dùng từ còn sai, viết câu chƣa đúng,
không biết chấm câu.
17
CHƢƠNG 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1. Phân môn Tập làm văn ở trƣờng Tiểu học
2.1.1. Khái niệm Tập làm văn
“Văn” trong Tập làm văn cần hiểu là những lời chúng ta nói hoặc viết
ra khi giao tiếp. Nhƣ vậy, “văn” ở đây chính là ngôn bản. Vì vậy, Tập làm văn
chính là tập sản sinh, tạo lập ngôn bản. Dạy học Tập làm văn là dạy cho học
sinh tạo lập, sản sinh ngôn bản.
đến khả năng nhào nặn các chất liệu trong đời sống thực để xây dựng nhân
vật, cốt truyện. Khả năng tƣ duy lôgic của học sinh cũng đƣợc phát triển trong
quá trình phân tích đề, lập dàn ý, viết đoạn,… Quá trình sản sinh văn bản
cũng giúp cho học sinh có kĩ năng phân tích, tổng hợp, phân loại, lựa chọn.
Trên thực tế, khi giao tiếp phải có thái độ đúng đắn đối với đối tƣợng
giao tiếp. Phân môn Tập làm văn khi dạy các nghi thức lời nói cũng đồng thời
dạy cách cƣ xử đối với mọi ngƣời nhƣ sự lễ phép, lịch sự trong nói năng. Để
viết văn cần có hiểu biết và tình cảm đối với đối tƣợng viết, vì vậy phân môn
Tập làm văn đã tạo cho học sinh sự hiểu biết và tình cảm yêu mến, gắn bó với
thiên nhiên, với con ngƣời và vạn vật xung quanh: từ một cơn mƣa, một buổi
sáng đẹp trời, một em bé bị ngã, một ngƣời phụ nữ đang gặp khó khăn đến
một chú gà trống, một đồ vật đã từng gắn bó… Từ đây tâm hồn và nhân cách
của các em đƣợc hình thành và phát triển.
2.1.4. Quy trình dạy Tập làm văn ở lớp 4, 5
2.1.4.1. Quy trình dạy bài lí thuyết
A. Kiểm tra bài cũ
B. Dạy bài mới
1. Giới thiệu bài
2. Hình thành khái niệm
2.1.
Phân tích ngữ liệu
19