skkn một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt phân môn tập làm văn - Pdf 45

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MỎ CÀY NAM
TRƯỜNG TIỂU HỌC CẨM SƠN 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 HỌC
TỐT PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN

Đề tài thuộc lĩnh vực chuyên môn: Dạy và học
Họ và tên: Lê Văn Trung
Nhiệm vụ: Giáo viên dạy lớp 3
Sinh hoạt tổ chuyên môn: Khối 3

Tháng 3 năm 2012

-1-


PHẦN MỞ ĐẦU
I. Bối cảnh chọn đề tài
Quá trình giáo dục hiện nay, nội dung và phương pháp của nó phải tạo ra sự
phát triển tự nhiên của trẻ em. Vì lợi ích của trẻ em, giáo dục không lấy người lớn
làm chuẩn mực để đánh giá, không lấy người dạy làm trung tâm, không lấy lí
thuyết suông làm nội dung, không lấy sự giảng giải làm phương pháp chủ yếu.
Người thầy tổ chức và hướng dẫn, trò hoạt động và phát triển, thầy giữ vai trò chủ
đạo, tổ chức cho trẻ hoạt động, trò phải tự làm ra sản phẩm giáo dục.
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã đạt được những thành
tựu rực rỡ. Loài người đang bước sang nền văn minh thông tin. Với việc sử dụng
các loại máy tính, tự động hóa, công nghệ sinh học, năng lượng sạch,… Máy móc
đã thay thế cho cơ bắp, trí nhớ làm giảm nhẹ sự tiêu tốn sức lực của con người. Sự

hướng dẫn tốt nhất để giảng dạy, làm sao cho các em nắm được các kiến thức trong
chương trình. Giúp các em học tập làm văn tốt hơn, làm cơ sở để các em học tốt ở
các lớp trên. Từ những lí do đó, tôi quyết định chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp
học sinh lớp 3 học tốt phân môn tập làm văn”.
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu đề tài này là chương trình tập làm văn lớp 3 đang thực
hiện của Bộ Giáo dục Đào tạo. Nhằm trang bị cho học sinh một số kĩ năng phục vụ
vào đời sống hàng ngày, như: điền vào các giấy tờ in sẵn, viết thư, làm đơn, giới
thiệu hoạt động của tổ, lớp và trường, ghi chép sổ tay.
Tiếp tục rèn luyện kĩ năng kể chuyện và miêu tả: kể một sự việc đơn giản, tả
sơ lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi.
Rèn luyện kĩ năng nghe thông qua các bài tập nghe – kể và các hoạt động
học tập trên lớp.
Đề tài này được nghiên cứu trên nhiều đối tượng của học sinh lớp 3, tôi và
giáo viên của tổ chuyên môn khối 3 trường tôi dạy đã thực hiện đạt được nhiều kết
quả tích cực.
-3-


Đề tài này còn dành cho giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở bậc Tiểu học
nghiên cứu, ứng dụng nhằm giúp cho giáo viên dạy ngày càng tiến bộ hơn, học
sinh ngày càng học tốt hơn phân môn tập làm văn.
IV. Mục đích nghiên cứu
Đề tài này nhằm để đánh giá đúng với khả năng học tập của học sinh, người
thầy không để học sinh bị hụt hẫng, mà phải giúp các em tự tin học tập làm văn
ngày một tốt hơn.
Giúp học sinh học tốt phân môn tập làm văn, không có nghĩa là làm bài mẫu
cho học sinh, mà là giúp các em nắm vững kiến thức, có đủ khả năng để đáp ứng
yêu cầu mà chương trình đưa ra, các em tự viết được một bài tập làm văn hay. Đó
cũng là thể hiện đạo đức của nhà giáo, lương tâm, trách nhiệm của người thầy.

Ngoài các kĩ năng chung của việc viết một văn bản, để giúp học sinh lớp 3 viết
hoặc nói được một bài tập làm văn hay, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh các kĩ
năng đặc thù như kĩ năng quan sát, kĩ năng xây dựng cốt chuyện, kỹ năng giao tiếp,
kĩ năng đặt câu, kĩ năng dùng từ, kĩ năng liên kết câu trong một đoạn,… Bên cạnh
đó việc rèn luyện tâm hồn, cảm xúc, việc tăng vốn sống, vốn hiểu biết trực tiếp đời
sống xung quanh,… cũng là yêu cầu cần phải quan tâm thích đáng nếu giáo viên
muốn học sinh thật sự nói hoặc viết được các bài tập làm văn hay.
Đề tài này còn giúp học sinh nhận xét kết quả bài làm của bạn, tự đánh giá
kết quả bài làm của bản thân trong quá trình luyện tập.
Để thực hiện thành công đề tài này, ngoài việc hướng dẫn trong tiết học,
giáo viên nên yêu cầu, hướng dẫn học sinh thực hiện những hoạt động nối tiếp
nhằm củng cố kết quả thực hành luyện tập ở lớp như: thực hành giao tiếp ngoài lớp
học, sử dụng kĩ năng đã học vào thực tế cuộc sống,…

-5-


PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận :
Trong bậc học tiểu học, bốn kĩ năng quan trọng cơ bản nhất mà bộ môn
Tiếng Việt phải rèn cho học sinh đạt được là: nghe, nói, đọc, viết. Trong đó kĩ năng
viết là kĩ năng quan trọng nhất và cũng khó rèn luyện cho học sinh nhất. Để rèn kĩ
năng viết cho học sinh, người giáo viên phải dạy tốt các phân môn như chính tả,
luyện từ và câu, tập viết và tập làm văn. Để viết đẹp và viết đúng, người thầy phải
chú trọng rèn kĩ năng cho học sinh khi dạy tập viết và chính tả. Còn muốn dạy cho
học sinh viết đúng và hay thì chúng ta phải đặc biệt chú ý dạy tốt hai phân môn là
luyện từ và câu và tập làm văn. Trong hai phân môn này, nhiều giáo viên cho rằng
tập làm văn là môn khó dạy nhất, khó rèn kĩ năng cho học sinh nhất vì đòi hỏi học
sinh phải có năng khiếu mới viết văn hay được. Nội dung bồi dưỡng làm văn nhằm
trau dồi vốn sống. vốn văn chương, nâng cao năng lực cảm nhận và diễn tả ở học

Một số em ham chơi không chuẩn bị bài, vào lớp không tập trung nghe giảng nên
không nắm được kiến thức cơ bản để viết được một bài tập làm văn hay. Các em
này chủ yếu dựa vào câu hỏi gợi ý để viết bài, hoặc kể lại câu chuyện nên bài văn
chưa mạch lạc, các ý chưa liên kết được với nhau.
Lớp thuộc điểm trường lẻ, vì không đủ phòng nên học một buổi nên không
có thời gian dạy buổi hai để phụ đạo cho những học sinh yếu.
Học sinh vùng sâu, ít được đi tham quan, lâu lâu mới được xem biểu diễn
nghệ thuật, không được tham gia các ngày hội,… vốn sống của các em còn hạn chế
nên các em gặp khó khăn khi làm bài tập làm văn.
Sau nhiều năm công tác, tôi nhận thấy giáo viên và học sinh ở trường tôi dạy
còn có một số hạn chế sau:
Về giáo viên
Chưa sáng tạo trong việc tổ chức các hình thức khai thác kiến thức môn học,
giúp học sinh lĩnh hội được cách học tập làm văn theo kiểu bài.
Chưa giúp học sinh thấy được mối liên kết giữa các kiểu bài , sự hỗ trợ lẫn
nhau của các dạng bài được học để viết một bài tập làm văn hay.
-7-


Hướng dẫn cho học sinh rèn luyện thiếu sự sáng tạo, chưa biết tạo cơ hội
cho học sinh giao tiếp nhằm phát huy trí tưởng tượng, óc sáng tạo của các em.
Về học sinh:
Học sinh thường lệ thuộc vào gợi ý của giáo viên, thiếu sự sáng tạo. Bài làm
của các em thiếu nét riêng, ít cảm xúc và chưa vận dụng tốt các ngữ liệu mẫu ở
sách giáo khoa để thực hành. Khâu đọc đề và xác định yêu cầu của đề, học sinh
thường bỏ qua nên bài làm chưa đi đúng yêu cầu trọng tâm, cách diễn đạt còn
vụng, câu liệt kê lủng củng, không có sự vận dụng từ các bài tập rèn kĩ năng của
luyện từ và câu vào bài viết. Vì thế trong các kì thi, kết quả của các em còn hạn
chế, chưa đạt được như mong muốn .
Tôi có thể đánh giá các tồn tại nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân sau:

Văn kể hoặc tả miệng ở lớp 3, được xây dựng với những đề bài cụ thể và
những kĩ năng thực hành đặt ra cho từng đề bài cụ thể đó. Ở các tiết học chính
khoá, giáo viên đã dạy cho học sinh một số kĩ năng kể chuyện như cốt chuyện,
nhân vật trong câu chuyện,... Thông qua một số dạng đề bài như : Kể lại chuyện đã
nghe, đã học, kể lại chuyện được chứng kiến tham gia, kể chuyện dựa vào cốt
chuyện có sẵn,... học sinh được rèn kĩ năng kể chuyện khá cụ thể cho từng kiểu,
từng dạng. Tuy nhiên thời gian dành cho luyện tập của từng dạng không nhiều. Các
dạng bài này còn mờ nhạt trong học sinh, đặc biệt là học sinh trung bình và yếu.
Trong các lớp tôi phụ trách, thực hiện biện pháp giúp học sinh rèn kĩ năng nói và
tổng hợp được nhiều yêu cầu của kể chuyện vào bài viết mà ít mất thời gian đầu tư.
Dựa vào gợi ý của đề bài giúp học sinh phát triển năng lực nói theo hình thức độc
thoại và mang phong cách khẩu ngữ. Học sinh ở lớp nhận xét, tranh luận với bạn.
Bài nói có những đặc điểm riêng về nhiều mặt so với bài viết: Từ cách triển
khai ý, tới cách lựa chọn từ ngữ, lựa chọn kiểu câu, từ cách sử dụng các yếu tố phi
ngôn ngữ để phụ trợ đến các thủ thuật nhằm thu hút người nghe. Bài tập làm văn
nói, không phải là một bài tập làm văn viết nói lên. Tiết tập làm văn miệng không
phải là tiết đọc chậm hoặc đọc thuộc lòng bài viết đã chuẩn bị sẵn. Vì thế, giáo
viên không nên hướng dẫn bài mẫu cho các em.
-9-


Tuy nhiên cũng không tuyệt đối hóa ranh giới giữa bài nói và bài viết. Việc
làm hai bài văn này đều sử dụng một hệ thống các kĩ năng như nhau trong gia đoạn
chuẩn bị, giai đoạn hiện thực hóa. Đặc biệt là sự khác nhau trong việc lựa chọn từ,
kiểu câu do sự chi phối giữa hai phong cách ngôn ngữ khác nhau.
Dạng bài tập làm văn nói rất có ích cho học sinh khi các em bước vào cuộc
sống hay khi tiếp tục học lên các lớp trên. Khả năng độc thoại theo một đề bài là
khả năng mỗi người thường gặp trong đời sống, trong học tập. Nếu có khả năng
độc thoại tốt, học sinh sẽ tự tin và mạnh dạn phát biểu ý kiến trong học tập.
Các tiết tập làm văn nói ở lớp 3 với các loại bài thường dừng ở mức độ: Học

Nội dung kể có đầy đủ theo yêu cầu không?
Các câu kể có ý gắn kết với nhau không?
Giọng kể có mạch lạc không?
Phần nào bạn kể hay em cần học hỏi?
Phần nào cần bổ sung, sửa chữa cho bài của bạn?
Mỗi học sinh có thể nhận xét một vài phần lời kể của bạn, chủ yếu là các em
nhận ra cái đúng, cái sai, cái hay, cái hạn chế của bạn mình để giúp cho bạn làm
bài tốt hơn. Đồng thời còn giúp cho học sinh cả lớp nhận ra và soi rọi lại bài của
mình để kể cho tốt hơn.
Lúc đầu bản thân tôi cũng như học sinh gặp rất nghiều khó khăn, nhưng nhờ
sự kiên trì bền bỉ, từng bước thầy trò chúng tôi đã thành công về các bài văn nói ở
lớp 3, tạo tiền đề cho các em học tốt bài tập làm văn viết.
Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng viết
Tập làm văn viết nhằm rèn luyện cho học sinh khả năng viết bài văn theo đề
bài đã cho và thuộc nhiều phong cách khác nhau: phong cách nghệ thuật, phong
cách hành chánh,… Bài tập làm văn viết là kết tinh nhiều mặt của năng lực sử
dụng tiếng Việt của học sinh qua bốn kì thi ở lớp 3.
Tiết tập làm văn viết là phát triển cho học sinh phong cách bút ngữ. Bài văn
là kết quả học tập của phân môn tập làm văn, phản ánh trình độ sử dụng tiếng Việt,
trình độ tri thức và hiểu biết đời sống của học sinh.
- 11 -


Vì thế, bài tập làm văn viết là sản phẩm để đánh giá năng lực học tập môn
Tiếng Việt của học sinh qua các kì thi.
Trong văn bản bút ngữ, các câu thường đầy đủ và phức tạp hơn khẩu ngữ,
các yếu tố phi ngôn ngữ không còn vai trò phụ trợ. Ở lớp 3, học sinh mới được làm
quen với bút ngữ nên cần phải có phương pháp dạy thích hợp và có hiệu quả. Đừng
bắt các em phải đọc, phải ghi những bài văn mẫu quá dài, quá khó. Chúng ta cũng
cần phải tận dụng cơ hội làm bài của tất cả các môn học còn lại để giúp học sinh

hướng khắc phục những hạn chế đó để học sinh tự điều chỉnh bài làm của mình.
Ngoài việc yêu cầu về kiến thức, giáo viên cũng cần phải chú ý tới kĩ năng
làm bài của học sinh, đặc biệt là cách trình bày, chữ viết và lỗi chính tả.
Loại bài viết thư
Giáo viên cần nắm vững đặc điểm học sinh ở địa phương, để có biện pháp
dạy thích hợp. Dùng đồ dùng trực quan, vật thật như lá thư, phong bì thư, tem,…
để giới thiệu và hướng dẫn học sinh thực hành, vì học sinh chưa quen viết thư, giáo
viên nên sử dụng bảng phụ ghi hệ thống câu hỏi gợi ý, dẫn dắt học sinh tập viết
từng câu, từng đoạn. Cần quan tâm hướng dẫn thật rõ ràng để cả lớp nắm được
cách thực hành viết thư. Để từ đó các em có thể viết đúng bức thư theo yêu cầu của
từng loại đề.
Ví dụ: Viết một bức thư cho bạn ở một tỉnh miền Nam (hoặc miền Trung,
miền Bắc) để làm quen và hẹn bạn cùng thi đua học tốt.
Gợi ý:
a) Lí do viết thư (Em biết về bạn qua báo chí, đài phát thanh, truyền hình,…)
b) Nội dung bức thư (em tự giới thiệu, hỏi thăm bạn, hẹn bạn cùng thi đua
học tốt,…).
Giáo viên cho học sinh đọc đề bài và phân tích yêu cầu của đề, đọc và nắm
vững phần gợi ý.
Giáo viên phát một số tờ báo của thiếu nhi cho học sinh tìm bạn để gửi thư,
ghi tên và địa chỉ của bạn ra giấy nháp (Đối với học sinh chưa tìm được bạn nào để
gửi thư).
- 13 -


Giáo viên đính bảng phụ ghi phần gợi ý cho học sinh còn lúng túng như sau:
Em sẽ viết thư cho ai? (Bạn đó ở tỉnh khác, miền khác nơi em đang ở).
Dòng đầu thư em viết như thế nào? (Nơi viết, ngày… tháng… năm…)
Em viết lời xưng hô với bạn như thế nào cho đúng? (Bạn … thân mến)
Nêu lí do nhờ đâu mà mình biết bạn? (qua báo,đài,…)

thống hóa những chi tiết và cảm xúc đã quan sát được.
Đối với dạng bài này tôi đã dạy theo phương pháp sau đây thấy có hiệu quả:
Hướng dẫn học sinh tập tìm hiểu đề bài bằng các câu hỏi:
Đề yêu cầu kể lại chuyện gì hay việc gì?
Phần chính cần kể lại những tình tiết nào, việc nào?
Nên bắt đầu và kết thúc ra sao?
Cho học sinh đọc lại câu chuyện định kể, nhớ lại các việc đã tham gia hoặc
chứng kiến. Hướng dẫn học sinh hồi tưởng lại những gì đã biết xung quanh câu
chuyện, hoặc sự việc, lựa chọn các chi tiết chính cần kể, sắp kể chúng.
Hướng dẫn học sinh viết lại câu chuyện, sự việc dựa vào các câu hỏi gợi ý.
Đối với học sinh trung bình, yếu giáo viên chỉ yêu cầu các em dựa vào từng câu
hỏi để kể từng đoạn là được rồi. Đối với học sinh khá, giỏi thì giáo viên yêu cầu
các em liên kết các câu thành đoạn, các em có năng khiếu thì có thể liên kết các
đoạn thành bài tập làm văn hoàn chỉnh.
Ví dụ: Viết lại những điều em vừa kể về những trò vui trong ngày hội thành
một đoạn văn (khoảng 5 câu).
Sau khi cho học sinh đọc kĩ và phân tích đề bài, giáo viên cho học sinh thảo
luận theo gợi ý:
Em phải viết theo gợi ý nào ở bài tập 1?
Ngày hội hôm đó em xem được những trò vui nào?
Em thích nhất là trò vui nào?
Hãy tả kĩ một vài trò vui trong ngày hôm đó.
Khi học sinh thảo luận xong, giáo viên cho các em làm bài. Sau đó, các em
đọc theo nhóm đôi để sửa chữa bổ sung cho nhau.
- 15 -


Giáo viên gọi một số em đọc bài của mình để cả lớp nhận xét, sửa chữa.
Gợi ý nhận xét
Bạn viết có đúng theo yêu cầu của đề bài không?

quả học tập phân môn này có chiều hướng phát triển. Qua các kì kiểm tra, kết qủa
về điểm của bài tập làm văn viết đã tiến bộ rõ rệt. Nhiều em đã vận dụng khá tốt
những kiến thức được học vào bài viết, bài nói của mình. Góp phần nâng cao chất
lượng môn Tiếng Việt của lớp tôi. Cụ thể như sau:
Năm học 2011 – 2012, môn Tiếng Việt có kết quả như sau:
Các kì

Điểm

Điểm

Điểm

Điểm

Điểm

kiểm tra

1-2

3-4

5-6

7-8

9 - 10

SL


43,5

5

21,7

5

21,7

Giữa kì I

0

0

0

0

2

8,8

5

21,7

16


0

0

0

0

1

4,3

22

95,7

Cuối kì II

0

0

0

0

0

0

thực hiện mục tiêu đào tạo con người mới có đầy đủ đức, trí, thể, mỹ, lao.
Giáo viên nên dùng hình thức giúp đỡ, động viên, sửa chữa mỗi khi học sinh
nói sai, viết chưa đúng theo yêu cầu của đề bài. Khen ngợi, tuyên dương mỗi khi
các em có tiến bộ như trả lời đúng, nói câu hay, viết bài có cảm xúc.
Phải luôn tin tưởng ở các em, trân trọng từng sự tiến bộ, cố gắng của các em.
Bản thân giáo viên phải tâm huyết, nhiệt tình. Luôn lấy tình thương để đối xử với
học sinh. Không đe nẹt, không nặng lời làm cho các em chán nản, thực hiện đúng
theo lời Bác Hồ đã dạy:
“Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”.
- 18 -


III. Khả năng ứng dụng và triển khai:
Tất cả giáo viên dạy lớp 3 đều có thể ứng dụng tốt sáng kiến kinh nghiệm
này, chỉ cần có tâm huyết với nghề, xem mình là bạn, là anh, là chị, là những người
thân gần gũi với học sinh. Thương yêu, tin tưởng, hết lòng “Vì học sinh thân yêu”.
Mỗi chúng ta hãy chung tay góp sức đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người tự
chủ, năng động, sáng tạo,… để khi lớn lên, các em trở thành những người chủ tài
năng của nước Việt Nam thân yêu.
Ngay từ bây giờ, mỗi chúng ta phải xây dựng cho được mối quan hệ thân
thiện trong môi trường giáo dục, làm cho học sinh tự tin trong học tập, tự chủ trong
giao tiếp để các em luôn thấy: “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”.
Muốn thành công trong công tác giảng dạy, người thầy phải luôn học hỏi
không ngừng. Với tư cách một giáo viên dạy lớp, tôi nhận thấy rằng việc nghiên
cứu nội dung chương trình, chọn phương pháp phù hợp là nhiệm vụ quan trọng,
không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực
chủ động của học sinh, thể hiện tốt vai trò chủ đạo định hướng của người dạy trong
công cuộc thực hiện đổi mới phương pháp hiện nay. Trên đây là một số kinh
nghiệm của tôi trong công tác dạy phân môn tập làm văn. Chắc chắn sự thể hiện

III. Khả năng ứng dụng, triển khai
IV. Những kiến nghị, đề suất

Tài liệu tham khảo

- 20 -




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status