MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4 GIẢI BÀI TOÁN VỀ TÌM HAI SỐ KHI BIẾT TỔNG ( HIỆU) VÀ TỈ SỐ CỦA HAI SỐ ĐÓ - Pdf 26

BÁO CÁO SÁNG KIẾN
ĐỀ NGHỊ TẶNG THƯỞNG DANH HIỆU CHIẾN SĨ
THI ĐUA CẤP TỈNH

Ñề tài :
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
GIÚP HỌC SINH LỚP 4 GIẢI BÀI TOÁN VỀ "TÌM HAI SỐ KHI
BIẾT TỔNG ( HIỆU) VÀ TỈ SỐ CỦA HAI SỐ ĐÓ"

Họ tên: Nguyễn Thị Bích Hiền
Đơn vị: Trường Tiểu học 1 xã Viên An, Ngọc Hiển, Cà Mau.
I. PHẦN MỞ ĐẦU :
1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
Bậc tiểu học là bậc học rất quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình
thành và phát triển nhân cách của con người, đặt nền móng vững chắc cho giáo dục
phổ thông, giáo dục quốc dân. Để đạt được mục tiêu trên, nhà trường tiểu học đã
duy trì dạy học toán, giúp học sinh học tốt môn học, học có phương pháp là mục tiêu
hàng đầu được đặt ra trong mọi tiết học. Người giáo viên cần giúp học sinh phân
tích bài toán nhằm nhận biết được đặc điểm, bản chất bài toán bằng sơ đồ đoạn
thẳng có nhiều ưu điểm, phương pháp này giúp học sinh lập kế hoạch giải một cách
dễ dàng, giúp sự phát triển kĩ năng kĩ xảo, năng lực tư duy và khả năng giải toán của
các em.
Từ những lí do trên, tôi đã viết sáng kiến Một số biện pháp giúp học sinh
lớp 4 giải bài toán về Tìm hai số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số của hai số đó" để tìm
1
hiểu và nghiên cứu nhằm giúp các em trở thành những con người phát triển toàn
diện có ích cho đất nước.
II. NỘI DUNG THỰC HIỆN SÁNG KIẾN :
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến:
Để giải quyết được một bài toán học sinh cần phải thực hiện được các thao tác
phân tích được mối liên hệ và phụ thuộc trong bài toán. Muốn làm được việc này

* Về phía giáo viên:
Giáo viên còn rơi vào tình trạng giảng nhiều làm cho các em tiếp thu bài một
cách thụ động và giải quyết vấn đề một cách máy móc. Mặt khác, hình thức tổ chức
dạy học còn đơn điệu nghèo nàn, giáo viên chưa thực sự là người tổ chức hướng dẫn
giờ học để học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức, với những hình thức tổ chức như
thế đã ảnh hưởng đến quá trình tiếp thu kiến thức mới của các em, dẫn đến các em
làm còn chậm, còn sai, giải chưa đúng theo yêu cầu của toán học.
3. Những biện pháp giải quyết vấn đề
Từ việc nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn, tôi nhận thấy thực tế
nhiều học sinh rất lúng túng trong việc xác định dạng toán, phân tích bài toán để lựa
chọn cách giải cho phù hợp. Để khắc phục nhược điểm của học sinh trong thực tế,
tôi đã lựa chọn phương pháp này các em có thể giải quyết được một số bài tập có
trong chương trình. Sau đây là một số ví dụ minh họa:
3
a. Dạng toán Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó.
* Bài toán : Minh và Khôi có 25 quyển vở. Số vở của Minh bằng 2/3 số vở
của Khôi. Hỏi mỗi bạn có bao nhiêu quyển vở ?
Giáo viên hướng dẫn cách giải như sau:
- Bước 1 : Đọc kĩ đề toán và vẽ sơ đồ đoạn thẳng.
? quyển
Minh : 25 quyển
Khôi :
? quyển
- Bước 2 : Nhìn sơ đồ để tìm mối quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết.
Tìm phần tương ứng với 25 quyển.
Tìm số vở của Minh và Khôi.
- Bước 3: Giải bài toán:
Theo sơ đồ, tổng số phần bằng nhau là:
2 + 3 = 5 (phần)
Số vở của Minh là:

* Cách khắc phục:
- Yêu cầu học sinh đọc kĩ đề toán.
- Tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng.
- Dựa vào sơ đồ đoạn thẳng để phân tích bài toán.
Từ đó rút ra các bước giải dạng toán Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai
số đó.
- Đọc kĩ bài toán và tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng.
5
- Tìm số phần đoạn thẳng bằng nhau.
- Tìm giá trị ứng với một phần đoạn thẳng.
- Tìm số bé, số lớn.
b. Dạng toán Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó.
* Bài toán : Một hình chữ nhật có chiều dài hơn chiều rộng 12 m. Tìm chiều
dài, chiều rộng của hình chữ nhật đó, biết rằng chiều dài bằng 7/4 chiều rộng.
GV hướng dẫn HS theo các bước :
- Bước 1: Đọc kĩ đề bài toán và tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng.
? m
Chiều dài :
Chiều rộng: 12 m
? m
- Bước 2: Tìm mối quan hệ giữa cái chưa biết và cái đã biết dựa vào sơ đồ đoạn
thẳng.
Tìm số phần tượng ứng với 12m.
Tìm giá trị một phần.
Tìm chiều dài, chiều rộng hình chữ nhật.
- Bước 3: Giải:
Theo sơ đồ, ta có hiệu số phần bằng nhau là:
7 – 4 = 3 ( phần )
Chiều dài của hình chữ nhật là:
12 : 3 x 7 = 28 (m )

7
Phân biệt được hai dạng toán Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó
với dạng toán Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó.
Từ đó rút ra các bước khi giải dạng toán Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của
hai số đó.
Vẽ sơ đồ đoạn thẳng.
Tìm giá trị tương ứng với một phần đoạn thẳng.
Tìm số bé, số lớn.
* Khi trình bày bài giải có thể gộp bước 2 và bước 3
III. HIỆU QUẢ THỰC HIỆN:
1. Kết quả, hiệu quả mang lại:
Qua thực tế giảng dạy ở các tiết học toán, tôi nhận thấy:
Ở những tiết học đầu tiên học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài
toán còn hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán dẫn tới thường nhầm
lẫn giữa các dạng toán, lựa chọn phép tính còn sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài
toán để tìm lời giải thích hợp với các phép tính. Bên cạnh đó, Kĩ năng tính nhẩm với
các phép tính (hàng ngang) và kĩ năng thực hành diễn đạt bằng lời còn hạn chế. Một
số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên có nhiều HS
giải sai, cụ thể là :
Tổng số HS là : 40 em
Trong đó điểm : Giỏi 7 em - tỉ lệ 17,50 %
Khá 8 em - tỉ lệ 20%
TB 17 em - tỉ lệ 42,50%
Yếu 8 em - tỉ lệ 20 %
8
Sau khi áp dụng phương pháp này các em đã nắm chắc được từng dạng bài,
biết cách tóm tắt, biết cách phân tích đề, lập kế hoạch giải, giải thành thạo, nhanh và
chính xác. Vì thế nên kết quả môn toán của các em có nhiều tiến bộ, lớp đã đạt kết
quả khả quan, cụ thể là :
Tổng số HS là : 40 em

chương trình toán học ở Tiểu học. Thông qua việc dạy toán và khả năng tư duy logic
của các em được phát triển, học sinh được chủ động, sáng tạo tìm ra mối quan hệ
giữa các dữ kiện để đặt lời giải đúng, đồng thời thông qua giải toán mà các em bước
đầu được làm quen với cách làm việc khoa học đó là làm việc theo kế hoạch. Giúp
học sinh luyện tập củng cố vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống
hàng ngày, đó là cơ sở làm nền tảng cho việc học toán sau này.
Muốn cho việc giải toán có hiệu quả thì GV phải biết vận dụng các kĩ năng,
nghệ thuật giải toán để tạo ra sự hứng thú cho các em, gợi mở kiến thức bằng các
câu hỏi nên vấn đề phù hợp với đối tượng học sinh để các em giải quyết vấn đề đó.
Đồng thời GV phải hiểu rõ bản chất của dạng toán, đồng thời phải trau dồi chuyên
môn, thể hiện tinh thần, trách nhiệm và lòng yêu nghề mến trẻ.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã đúc kết trong quá trình giảng dạy
Toán về Tìm hai số khi biết tổng ( hiệu ) và tỉ số của hai số đó. Kinh nghiệm này đã
10
được Ban giám hiệu nhà trường, các đồng nghiệp đóng góp xây dựng và hoàn thiện.
Tôi đã và đang áp dụng trong thực tế giảng dạy và đã đạt kết quả rất khả quan.
Viên An, ngày 22 tháng 3 năm 2013
Ý kiến xác nhận Người viết
của Thủ trưởng đơn vị. Phạm Thị Quyên Nguyễn Thị Bích Hiền
XÁC NHẬN CỦA CẤP TRÌNH KHEN

11
12
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status