MỤC LỤC
I. Mở đầu .
1. Lí do chọn đề tài.
Trang 1
2.Mục đích nghiên cứu.
Trang 2
3. Đối tượng nghiên cứu.
Trang 2
4. Phương pháp nghiên cứu.
Trang 2
II. Nội dung của sáng kiến.
1. Cơ sở lí luận
Trang 2
2.Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
Trang 3
3. Các giải pháp và biện pháp nâng cao chất lượng học
Trang 4
có kế hoạch và tác phong khoa học.
Chính vì vậy, môn Toán chiếm một thời lượng lớn trong chương trình dạy
học ở tiểu học. Thông qua môn học, học sinh có những kiến thức cơ bản ban đầu
về số tự nhiên, số thập phân, các đại lượng cơ bản và một số yếu tố hình học đơn
giản. Hình thành và rèn luyện kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có
nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống.
Trong chương trình môn Toán lớp 4, dạy giải các dạng toán điển hình có vị
trí đặc biệt quan trọng. Một phần lớn thời gian học của học sinh dành cho việc
giải các bài toán ấy. Biết giải thành thạo các bài toán là một trong những tiêu
chuẩn chủ yếu để đánh giá trình độ học toán của mỗi học sinh. Do đó, đòi hỏi
giáo viên phải lựa chọn phương pháp, hình thức giảng dạy sao cho đạt hiệu quả
cao nhất. Tiêu biểu trong số các dạng toán điển hình ấy là dạng toán về tìm số
trung bình cộng. Đây cũng là một trong những dạng toán khó, trừu tượng, mỗi
bài toán là một bức tranh nhỏ của cuộc sống, học sinh phải biết rút ra từ bức
tranh ấy cái bản chất toán học của nó để lựa chọn cách giải thích hợp. Trên thực
tế, nhiều giáo viên còn đang băn khoăn không biết nên dạy như thế nào để đạt
hiệu quả. Làm thế nào để sau mỗi tiết học học sinh đều nắm được nội dung bài
học và biết vận dụng nó một cách sáng tạo đang là vấn đề đáng quan tâm.
Bản thân tôi là một giáo viên thường xuyên dạy khối 4 - 5, qua khảo sát
chất lượng học sinh, qua kinh nghiệm dạy giải toán tìm số trung bình cộng, tôi
nhận thấy rằng chất lượng còn nhiều khiêm tốn. Để nâng cao chất lượng dạy học
2
bản thân tôi luôn tự đặt ra cho mình một câu hỏi: Làm thế nào để nâng cao chất
lượng giải toán về tìm số trung bình cộng? Tôi thiết nghĩ: Phương pháp, cách
thức dạy học phù hợp nhất định sẽ thành công, đó sẽ là chìa khóa để mở ra tất cả
những gì còn băn khoăn chưa tháo gỡ. Chính vì lý do đó tôi đã chọn đề tài:
“Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 giải bài toán về Tìm trung bình cộng”
để nghiên cứu, áp dụng vào công tác dạy học ở nhà trường
Trường Tiểu học tôi đang giảng dạy đóng trên địa bàn vùng nông thôn
của huyện còn nhiều hạn chế về sự quan tâm chăm sóc. Tuy vậy, nhờ sự nỗ lực
cố gắng của Ban giám hiệu và đội ngũ giáo viên nên chất lượng giáo dục của
nhà trường luôn là lá cờ đầu của huyện nhà. Mỗi giáo viên luôn tập trung đổi
mới phương pháp dạy học, luôn nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao, không
ngừng tự học, tự bồi dưõng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Trong năm học, nhà trường thường tổ chức dự giờ giáo viên, các giáo viên
trong khối tự đi dự giờ lẫn nhau để học hỏi kinh nghiệm và trao đổi về phương
pháp dạy học tích cực. Ngoài ra các khối lớp còn tiến hành khảo sát chất lượng
học sinh (qua kiểm tra định kỳ, thanh tra định kì). Bản thân tôi là một giáo viên
chuyên giảng dạy ở khối 4-5, tôi thấy rằng chất lượng giải toán về tìm số trung
bình cộng cho học sinh lớp 4 chưa cao. Dạng toán tìm số trung bình cộng là một
trong những dạng toán điển hình được dạy từ lớp 4 khi các em bước sang giai
đoạn mới, kiến thức toán học có tính khái quát, tính hệ thống cao hơn so với giai
đoạn đầu (lớp 1, 2, 3). Do vậy giáo viên cần lựa chọn phương pháp, hình thức
dạy học phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. Nhưng trên thực tế, giáo
viên mới chỉ dạy dàn trải cho hết yêu cầu sách giáo khoa, chưa hướng học sinh
đi đến bản chất của dạng toán, giờ dạy chưa chú ý đến các đối tượng học sinh
trong lớp. Ở các tiết thực hành của buổi 2, giáo viên ôn tập còn hình thức, chưa
mang tính hệ thống, các bài tập đưa ra cho học sinh chưa có sự phân loại, chọn
lọc. Phương pháp giảng dạy (đối với những bài khó dành cho học sinh năng
khiếu) thiếu sáng tạo, học sinh phần lớn “bắt chước” cô. Chính vì vậy, một số
học sinh có thể làm bài được ngay tại chỗ những sau một thời gian ngắn lại quên
ngay, cũng có một số học sinh không biết cách làm hoặc làm sai. Điều đó dẫn
đến chất lượng về giải toán tìm số trung bình còn thấp. Bản thân giáo viên dạy
cũng chưa tìm ra hướng giải quyết nên khi dạy vẫn tỏ ra lúng túng, xử lý các
tình huống chưa triệt để. Đứng trước thực trạng đó, bản thân tôi luôn xác định
phải biết giải quyết, tháo gỡ những vướng mắc trong chuyên môn thì mới dạy tốt
.Vì vậy, tôi đã quyết định chọn đề tài này nhằm cải tiến phương pháp dạy giải
toán tìm số trung bình cộng góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán
(Đối với loại bài đơn giản dành cho đối tượng học sinh đại trà)
Muốn dạy các loại bài về trung bình cộng sao cho đạt hiệu quả, trước hết
giáo viên phải thống kê các loại bài tập thường gặp, sau đó sắp xếp hệ thống bài
tập theo mức độ từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Các loại bài về trung
bình cộng đơn giản được phân loại như sau:
Loại 1: Tìm trung bình cộng của các số dạng đơn.
Muốn giải được dạng toán tìm số trung bình cộng của nhiều số trước hết
GV cần yêu cầu học sinh nắm vững quy tắc về tìm số trung bình cộng một cách
ngắn gọn dưới dạng công thức để học sinh dễ nhớ đặc biệt là đối với đối tượng
học sinh yếu (Trung bình cộng = Tổng các số hạng : số các số hạng). Với công
thức này, học sinh có thể dễ dàng áp dụng để tìm số trung bình cộng. Bên cạnh
đó, giáo viên cũng cần sắp xếp hệ thống bài tập một cách hợp lý theo mức độ từ
dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.
Ví dụ:
Bài 1: Tìm số trung bình cộng của các số sau: 26 và 12
Ta có: Số trung bình cộng của 2 số là (26 + 12): 2 = 19
Bài 2: Tìm số trung bình cộng của các số sau: 14, 38, 214 và 134
Để giải bài toán trên học sinh chỉ cần áp dụng công thức trên:
Số trung bình cộng = (14 + 38 + 214 + 134) : 4 = 100
Bài 3: Có 3 bao gạo, bao thứ nhất nặng 24 kg, bao thứ hai nặng 46 kg, bao
thứ 3 nặng 20 kg. Hỏi trung bình mỗi bao gạo nặng bao nhiêu kilôgam?
5
Áp dụng công thức và chỉ cần thêm vào câu lời giải cho bài toán:
Trung bình mỗi bao gạo nặng là:
(24 + 46 + 20) : 3 = 30 (kg)
Loại 2: Tìm trung bình cộng của các số dạng phức.
Tìm số trung bình cộng dạng phức chủ yếu được đưa vào toán giải. Đối
với loại bài này học sinh vẫn thường nhầm lẫn về tổng các số và số các số hạng.
Có thể giải theo 3 bước:
Bước 1: Tìm tổng số gạo đã bán: 20 x 2 + 10 x3 = 70 (tạ)
Bước 2: Tìm tổng số ngày đã bán: 2 + 3 = 5 (ngày)
Bước 3: Tìm trung bình mỗi ngày bán được ? tạ gạo:
70 : 5 = 14 (tạ)
Hoặc: Trung bình mỗi ngày cửa hàng bán được số gạo là:
(20 x2 + 10 x 3) : (2 + 3) = 14 (tạ)
Số gạo bán Số gạo bán Tổng số ngày
2 ngày đầu 3 ngày sau
đã bán
Bài 3: Một tổ sản xuất, 10 ngày đầu, mỗi ngày làm được 129 sản phẩm. Trong
12 ngày tiếp theo, mỗi ngày hơn trung bình số sản phẩm của 10 ngày đầu là 11
sản phẩm. Hỏi trung bình mỗi ngày tổ sản xuất làm được bao nhiêu sản phẩm?
So với bài 2 thì bài toán này có thêm một bước trung gian nữa, đó là tìm
trong 12 ngày tiếp theo mỗi ngày làm được bao nhiêu sản phẩm.
Bước 1: Trong 12 ngày tiếp theo, mỗi ngày làm được:
129 + 11 = 140 (sản phẩm).
Bước 2: Tìm tổng số sản phẩm đã làm được:
10 x 129 + 12 x 140 = 2970 (sản phẩm)
Bước 3: Tìm số ngày đã làm: 10 + 12 = 22 (ngày)
Bước 3: Tìm trung bình mỗi ngày làm được ? sản phẩm:
2970 : 22 = 135 (sản phẩm)
* Như vậy, từ những ví dụ trên học sinh đã có thể nắm vững được kiến thức
cơ bản và cách giải những loại bài điển hình thường gặp về tìm số trung bình
cộng. Mỗi bài ở mỗi ví dụ đã được nâng cao dần, có thêm dữ liệu cho bài toán
và điều cơ bản là giáo viên phải biết điểm khác, điểm mới của bài sau so với bài
trước và yêu cầu học sinh so sánh, chỉ rõ. Chẳng hạn, ở loại bài 1: học sinh chỉ
cần thay số vào công thức. Ở loại bài 2: bài 1 học sinh phải tính thêm một bước
trung gian là tìm số số hạng (tức số xe), bài 2 phải qua 2 bước trung gian là tìm
tổng (tức tổng số gạo đã bán) và tìm số số hạng (tức tổng số ngày), đến bài 3 thì
Bàì 4: Trung bình cộng của số bi đỏ, bi xanh, bi vàng là 12 viên. Số bi đỏ
nhiều hơn tổng số bi xanh và bi vàng là 8 viên. Nếu bớt 6 viên bi xanh thì số bi
xanh bằng số bi vàng. Hãy tìm số bi mỗi loại?
Trước hết tìm tổng số bi 3 loại: 12 x 3 = 36 (viên).
Dựa vào dạng toán “Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu” để tìm ra số bi đỏ là
(36 + 8) : 2 = 22 (viên); tổng số bi xanh và bi vàng là 22 – 8 = 14 (viên). Từ đó
tính được số bi xanh là (14 +6) : 2 = 10 (viên); số bi vàng là 10 – 6 = 4 (viên).
* Như vậy, khi học sinh đã nắm vững cách tìm số trung bình cộng và hiểu
rõ bản chất của nó, giáo viên (đặc biệt là giáo viên dạy đội tuyển học sinh giỏi
4,5) có thể liên kết vận dụng nó một cách linh hoạt trong dạy các dạng toán điển
8
hình khác như: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số, tìm hai số khi biết
tổng và tỉ số, ...Thông qua đó, học sinh không chỉ được củng cố dạng toán tìm số
trung bình cộng mà có thể củng cố một lúc nhiều dạng toán khác nhau.
1. Dạy giải toán Trung bình cộng dựa vào tính chất của dãy số:
(Dạy loại bài dành cho học sinh năng khiếu)
Loại: Tìm trung bình cộng của dãy số cách đều có số số hạng lẻ.
Tính chất: Nếu dãy số cách đều có số số hạng lẻ thì số ở chính giữa là số
trung bình cộng của dãy số.
Với tính chất nêu trên học sinh có thể áp dụng cho việc tìm trung bình
cộng của dãy số cách đều có số hạng là lẻ một cách nhanh, gọn mà cũng rất dễ
hiểu. Giáo viên cần lưu ý cho học sinh phân biệt “số hạng lẻ’ với “số số hạng lẻ”
Trước hết giáo viên nên lấy những ví dụ thật đơn giản để khẳng định lại
tính chất đó là hoàn toàn có căn cứ và như vậy sẽ giúp học sinh ghi nhớ một
cách bền vững.
Ví dụ:
Bài 1: Tìm trung bình cộng của các số sau: 1, 2, 3, 4, 5.
Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh làm theo 2 cách:
giữa, tức là số hạng thứ 8.
Số trung bình cộng của dãy số trên là:
(8 – 1) x 2 + 2 = 16
*Sau khi học sinh đã thực hiện thành thạo cách tính trung bình cộng của
dãy số cách đều có số số hạng lẻ, giáo viên cũng nên áp dụng để dạy các bài
toán ngược, tức là viết dãy số có số số hạng lẻ khi biết trung bình cộng của
dãy số đó.
Ví dụ: Tìm 7 số chẵn liên tiếp biết trung bình cộng của chúng là 1886.
Đối với bài này thông thường học sinh cũng có thể thực hiện theo dạng
toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu (tìm tổng các số, vẽ sơ đồ tìm hiệu 2 số đầu
dãy và cuối dãy, tìm số đầu rồi các số liên tiếp). Cách làm này sẽ mất nhiều thời
gian việc tìm hiệu cũng rất dễ bị sai. Nếu vận dụng tính chất trên, cách làm sẽ
trở nên đơn giản hơn, học sinh chỉ cần tìm số hạng thứ 4 là số 1886 (vì dãy số
cách đều có số số hạng lẻ nên trung bình cộng của dãy số là số ở chính giữa), từ
đó bớt 2 đơn vị ta có thể tìm được số hạng thứ 3, 2, 1; thêm 2 đơn vị ta có thể
tìm được số hạng thứ 5, 6, 7.
Loại 2: Tìm trung bình cộng của dãy số cách đều có số số hạng chẵn.
Tính chất: Nếu dãy số cách đều có số số hạng chẵn thì trung bình cộng
của dãy số bằng
1
cặp số cách đều 2 đầu dãy số.
2
Với tính chất này giáo viên cũng lưu ý cho học sinh chỉ áp dụng với
trường hợp dãy số cách đều có số số hạng chẵn. Giáo viên cũng cần phân biệt
10
Bước 1: Tìm số hạng thứ 22:
(22 – 1) x 2 + 1 = 43
Bước 2: Tìm số trung bình cộng:
(1 + 43) : 2 = 22
* Sau khi học sinh đã thực hiện thành thạo cách tính trung bình cộng của
dãy số cách đều có số số hạng chẵn, giáo viên cũng nên áp dụng để dạy các
bài toán ngược, tức là viết dãy số có số số hạng chẵn khi biết trung bình cộng
của dãy số đó.
Ví dụ: Tìm 10 số lẻ liên tiếp biết trung bình cộng của chúng là 2316.
Ta thấy, dãy số trên có 10 số hạng nên 2316 bằng
1
tổng của số thứ 6 và
2
số thứ 5 (cặp số ở chính giữa). Giáo viên nên đặt ra câu hỏi: Vì sao không chọn
11
cặp số cách đều là số đầu và số cuối? Vì như vậy sẽ phải tính hiệu của số đầu và
số cuối, nếu chọn cặp số chính giữa thì hiệu hai số đương nhiên sẽ là 2 (hai số lẻ
liên tiếp). Như vậy đối với loại bài này (có số số hạng chẵn), giáo viên cần lưu ý
học sinh chọn cặp số cách đều là cặp số chính giữa dãy số để rút ngắn khoảng
cách và rõ ràng việc tìm hiệu cũng đơn giản hơn.
Ta có thể giải bài toán như sau:
Tổng của số thứ 5 và số thứ 6 là: 2316 x 2 = 4632
Số thứ 5 là: (4632 – 2) : 2 = 2315
Từ đó bớt dần 2 đơn vị để được các số thứ 4, 3, 2, 1; tăng dần 2 đơn vị để
được các số 6, 7, 8, 9, 10.
Lưu ý: Ở loại bài tìm trung bình cộng của dãy số cách đều có số số hạng
Bài 1: Một lần Nam, Hùng và Dũng đi câu cá. Dũng câu được 15 con cá,
Hùng câu được 11 con cá. Còn Nam câu được số cá đúng bằng trung bình cộng
số cá của cả 3 người. Đố bạn biết Nam câu được mấy con cá?
Biểu thị tổng số cá 3 người câu được là một đoạn thẳng, chia đoạn thẳng
đó thành 3 phần bằng nhau (chia cho 3 người) thì 1 phần chính là trung bình
cộng của 3 người.
Ta có thể vẽ sơ đồ như sau:
TBC
|
|
Hùng + Dũng
|
|
Nam
Nhìn vào sơ đồ trên ta thấy Số cá Nam câu được tương ứng 1 phần, số cá
của Hùng và Dũng câu được tương ứng 2 phần.
Vậy số cá của Nam câu được là:
(15 + 11) : 2 = 13 (con)
Bài 2: Hoa gấp được 15 cái thuyền, Lan gấp được 12 cái thuyền, Minh
gấp được kém Lan 3 cái thuyền, Hà gấp được số thuyền bằng trung bình cộng
của 4 bạn. Hỏi Hà gấp được bao nhiêu cái thuyền?
Ta vẽ sơ đồ như sau:
TBC
Hoa + Lan + Minh
|
|
|
|
Lan
Nhìn vào sơ đồ trên ta thấy số cây Lan trồng là 1 phần và 3 cây. Số phần đoạn
thẳng còn lại là số cây của Lý, Huệ và Hồng trồng được. Muốn tìm số cây của
Lan trồng được thì phải tìm 1 phần tương ứng với bao nhiêu cây.
Vậy bài toán được giải như sau:
Bước 1: Tìm số cây Lý, Huệ, Hồng trồng được:
12 + 15 + 18 = 45 (cây)
Bước 2: Tìm số cây Lan trồng được:
(45 + 3) : 3 + 3 = 19 (cây)
Khi dạy giải bài toán giáo viên lưu ý học sinh có thể tính gộp như bước 2
hoặc cũng có thể tách bước 2 thành 2 bước:
Bước 1: Tìm 1 phần tương ứng bao nhiêu cây? (45 + 3) : 3 = 16 (cây)
(HS hiểu 45 + 3 tương ứng với 3 phần bằng nhau)
Bước 2: Tìm số cây Lan trồng được: 16 + 3 = 19 (cây)
Loại 3: Số cần tìm kém số trung bình cộng của các số.
Ví dụ: Bốn bạn Cần, Kiệm, Liêm, Chính góp tiền mua chung nhau cầu
lông và vợt cầu lông. Cần góp 11 000 đồng, Kiệm góp 10 000 đồng, Liêm góp
kém mức trung bình cộng của hai bạn trước là 2 000 đồng. Chính góp kém mức
trung bình của cả 4 người là 2500 đồng. Hỏi Chính góp bao nhiêu tiền?
14
Trong bài toán này học sinh phải tìm được số tiền Liêm, Chính góp là bao
nhiêu? Song giáo viên cũng cần lưu ý cho học sinh khi tìm số tiền Liêm góp thì
không phải vẽ sơ đồ bởi vì Liêm góp kém mức trung bình của Cần và Kiệm mà
đã biết số tiền Cần và Kiệm góp. Còn muốn tìm số tiền Chính góp thì phải dựa
trên sơ đồ đoạn thẳng vì Chính góp kém trung bình cộng của cả 4 người.
Các bước giải như sau:
|
|
|
| |
ST1
54
126 - 54 ST3
ST2
Nhìn sơ đồ trên ta thấy trung bình cộng của 3 số lớn hơn số thứ 3 là:
126 – 54 = 72
15
Số thứ 3 là: 72 : (10 – 1) = 8
Trung bình cộng của 3 số là: 8 x 10 = 80
Số thứ 2 là: 80 + 126 = 206
Số thứ 1 là: 80 – 54 = 26
* Từ những ví dụ trên cho thấy việc giải toán trung bình cộng dựa trên sơ
đồ đoạn thẳng là cách rất tốt để diễn tả một cách trực quan các điều kiện của bài
toán, nó giúp ta tước bỏ được những cái không bản chất để tập trung vào bản
chất toán học của đề toán. Nhờ đó mà ta có thể nhìn bao quát được toàn bộ bài
toán. Từ đó, dễ dàng tìm ra được sự liên hệ giữa các đại lượng trong đó. Điều
này sẽ giúp nội dung của bài toán được bộc lộ rõ rệt hơn trước mắt học sinh, gợi
ý con đường suy nghĩ để đi đến cách giải một cách cụ thể.
4. Dạy giải toán tìm số trung bình cộng bằng kiến thức đại số:
( Dùng để dạy cho đối tượng học sinh năng khiếu)
Ngoài những cách giải trên, dạng toán trung bình cộng còn có thể giải
bằng cách vận dụng các yếu tố đại số. Cách giải này giúp học sinh phát triển khả
năng suy luận, tư duy lôgic.
Ví dụ:
Cộng (1), (2) và (3) ta có: 2 x G + 2 x V + 2 x N = 5 + 9 + 10 = 24 kg
2 x (G + V + N) = 24 kg
G+V+N
= 24 : 2 = 12 kg
Vậy trung bình mỗi con nặng là:
12 : 3 = 4 kg
* Tìm số trung bình cộng bằng cách giải đại số là cách giải hay nhằm phát
triển tư duy cho học sinh có năng khiếu về môn Toán. Với cách giải này thì
những ngôn ngữ viết đều được thể hiện ngắn gọn dưới dạng phép tính, biểu thức
có chứa chữ giúp cho học sinh có cách nhìn bao quát, tổng thể hơn. Cách giải
này thường áp dụng cho học sinh khá, giỏi và rất hữu ích cho việc học toán ở
các lớp trên.
II. KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM:
Sau khi chỉ đạo thử nghiệm các biện pháp trên vào trong giảng dạy dạng
toán tìm số trung bình cộng cho học sinh đại trà cũng như học sinh giỏi lớp 4.
Chất lượng giải toán về trung bình cộng bước đầu đã có những thành công đáng
kể. Kết quả khảo sát chất lượng giải toán tìm số trung bình cộng của học sinh
khối 4, năm học 2016 – 2017 đạt được như sau:
Số
học sinh
62
Hoàn thành tốt
SL
%
24
38.7
Hoàn thành
SL
Tôi hi vọng sáng kiến nhỏ này có thể đóng góp một phần nhỏ bé giúp cán
bộ quản lý cũng như giáo viên có thể áp dụng vào giảng dạy ở đơn vị mình
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường tiểu học. Kinh nghiệm này
cũng có khả năng áp dụng cho các trường tiểu học ở các vùng miền khác nhau.
Tuy nhiên nó còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của từng địa phương mà hiệu
quả đạt được cao hay thấp.
2. KIẾN NGHỊ:
Để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, cùng với sự nỗ lực chung của
tập thể cán bộ giáo viên trong nhà trường cần có sự quan tâm hỗ trợ đúng mức
của toàn xã hội, trong đó vai trò tổ chức chỉ đạo của các nhà quản lý là một yếu
tố quan trọng. Để cán bộ quản lý cũng như giáo viên có khả năng áp dụng thành
công kinh nghiệm trên vào công tác chuyên môn trong nhà trường, tôi có một số
đề xuất như sau:
- Đối với Ngành: Cần có thêm chính sách hỗ trợ cho giáo viên, cung cấp
thêm những tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học.
18
-
Đối với chính quyền các cấp: Cần ưu tiên đầu tư cho giáo dục về cơ sở
vật chất, trang thiết bị dạy học, hỗ trợ nhà trường trong công tác xã hội hóa giáo
dục.
Đối với giáo viên trực tiếp đứng lớp: Cần nghiên cứu kỹ bài dạy, tập
trung đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng các hình thức dạy học phù hợp để
nâng cao chất lượng giáo dục.
Với thời gian và khả năng có hạn nên tôi chỉ nêu lên một số biện pháp dạy
giải toán trung bình cộng sao cho đạt hiệu quả nhằm đóng góp một phần nhỏ vào