THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1.Tên sáng kiến:“Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 giải bài toán có
lời văn theo mô hình trường học mới”
2.Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:Giáo viên dạy lớp 2 và học sinh lớp 2 ở các
trường Tiểu học.
3.Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Bích Hương
Nữ
Ngày tháng/năm sinh: 14/02/1979
Trình độ chuyên môn: Cao đẳng sư phạm
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Long Xuyên.
Điện thoại: 0936676527
4.Đơn vị áp dụng sáng kiến : Trường Tiểu học Long Xuyên - huyện Kinh
Môn - tỉnh Hải Dương
5.Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Có phòng học riêng,có
đầy đủ bảng, bàn ghế,trang thiết bị dạy học như: sách giáo khoa, sách giáo
viên,sách tham khảo,… Học sinh phải say mê,chịu khó tìm tòi,sáng tạo,có ý
thức học tập, biết hợp tác trong nhóm ,tổ…
6.Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: .Năm học 2016 - 2017.
TÁC GIẢ
(ký, ghi rõ họ tên)
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP
DỤNG
SÁNG KIẾN
Nguyễn Thị Bích Hương
XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD&ĐT
- Điều tra thực trạng kết quả đạt được của học sinh khối 2 về kĩ năng giải
toán có lời văn.
- Tích cực đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với
mỗi tiết dạy trong từng hoạt động với các nội dung cụ thể:
+ Hướng dẫn học sinh hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc giải
toán có lời văn. Tăng cường cho học sinh hoạt động thực hành,vận dụng kiến
thức làm tốt các bài tập.
+ Đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Qua quá trình giảng dạy và thực hiện giải pháp này với lớp 2 tôi chủ
nhiệm, tôi thấy các em đã làm quen với phương pháp học mới và đã đi vào nề
nếp học tập. Trong tiết học tôi thấy nhẹ nhàng hơn, tất cả các đối tượng học
sinh trong lớp đã biết trình bày hoàn chỉnh bài toàn có lời văn. Nhiều em học
khá giỏi có câu trả lời sáng tạo phù hợp với yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng.
4. Kết quả đạt được.
- Năm học 2016 -2017 tôi đã và đang thực hiện , áp dụng thành công kinh
nghiệm này tại trường nơi tôi công tác. Tôi cũng đã chia sẻ với các đồng
nghiệp trong khối cùng thực hiện và bước đầu cũng đã gặt hái được những
thành công nhất định.
5. Đề xuất , kiến nghị
- Giáo viên cần nắm vững nội dung chương trình của môn học và chuẩn kiến
thức kĩ năng. Tích cực nghiên cứu đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức
dạy học phù hợp với đối tượng hoc sinh.
- Các nhà trường, phòng giáo dục đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường chuyên đề
, hội thảo, hội giảng, báo cáo kinh nghiệm hay đẻ giáo viên có điều kiện học
tập nâng cao trình độ,chuyên môn nghiệp vụ.
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
yêu cầu trình bày, kĩ năng suy luận và phân tích đề còn hạn chế. Với lí do trên
tôi đã chọn đề tài:
" Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 giải bài toán có lời văn theo Mô
hình trường học mới"
2.Cơ sở lí luận
- Người giáo viên muốn dạy tốt phải nắm vững chương trình, nắm vững
đặc trưng của môn toán, chuấn bị tốt các phương tiện, các đồ dùng cần thiết
cho tiết học. Luôn chọn cho mình phương pháp dạy phù hợp nhất cho từng
bài toán. Và bên cạnh đó người giáo viên phải nắm vững phương pháp dạy
học mới theo mô hình trường học mới Việt Nam.
- Các em học sinh muốn học tốt thì trước hết phải tập trung học tập, phải
suy nghĩ kĩ và đọc đề toán nhiều lần. Tuy nhiên trong thực tế ý thức học tập
ở học sinh lớp 2 còn thấp, không chịu đọc đề vì các em còn nhỏ, đặc điểm
tâm sinh lý chưa ổn định, còn ham chơi. Việc dạy học theo mô hình trường
học mới học sinh phải ngồi học theo nhóm nên các em các em dễ quay cóp
khi làm bài nên từ đó suy tính ỷ lại không chịu tập trung suy nghĩ.
- Những bài toán có lời văn ở lớp 2 là những bài toán thực tế, nội dung bài
toán thông qua những câu nói về những quan hệ tương đương và phụ thuộc,
có liên quan đến cuộc sống hằng ngày. Cái khó ở đây là làm thế nào để lược
bỏ những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán.Hay
nói một cách khác làm sao phải chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố
toán học chứa đựng trong bài văn và tìm ra được những câu lời giải, phép
tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài toán.
3. Thực trạng của vấn đề.
Qua một năm giảng dạy lớp 2 theo mô hình trườn học mới, tôi nhận thấy
học sinh khi giải toán có lời văn thường rất chậm so với các dạng bài tập
khác. Các em rất lúng túng khi viết câu lời giải tuy rằng các em biết ghi
phép tính đúng. Nhiều em nêu câu lời giải không phù hợp với yêu cầu đề
Lớp 2B có 28 học sinh, trong đó có 14 em nữ.
Chất lượng đầu năm:
Toán: Giỏi: 10 em =35,7 % ; K: 12 em = 42,9% ;
TB: 5 em = 17,8.%; Y: 3 em = 10,7%
Tuy 100% các em có đầy đủ bố mẹ, có một em thuộc diện gia đình nghèo
và đa số các em là con gia đình nông dân, cha mẹ ít quan tâm đến việc học
hành của con em mình. Thực sự đây là lớp mà GV chủ nhiệm nào khi gặp
cũng cần có sự quan tâm và lo lắng.
.Nhìn chung phụ huynh chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học
Toán nói chung và việc giải toán có lời văn nói riêng của học sinh nên phụ
huynh chưa có sự đầu tư đúng mức. Đầu năm học, đối với chương trình môn
toán lớp 2. Nhìn chung các em đều thực hiện được các phép tính cộng, trừ
có nhớ trong phạm vi 100, nắm được tên gọi, thành phần và kết quả phép
cộng, trừ, hay tìm x trong bài toán, nhưng ở phần giải toán có lời văn thì lớp
2B có 59,3% học sinh giải và trình bày được, 10% các em biết tóm tắt bài
toán, ghi đúng lời giải nhưng thực hiện phép tính thì sai. 30,7% các em chưa
biết ghi lời giải của bài toán, chưa có em nào có sáng tạo hay có lời giải hay
hơn, gọn hơn. Đặc biệt là những em trung bình, yếu, việc đọc, viết đã chậm
thì giải toán có lời văn lại càng khó khăn hơn rất nhiều .
3.2 Về phía giáo viên:
Trong quá trình dạy học theo mô hình trường học mới người giáo viên chưa
có sự chú ý đúng mức tới việc làm thế nào để học sinh nắm vững được lượng
kiến thức, đặc biệt là dạng giải toán có lời văn. Nguyên nhân là do giáo viên
mới tiếp cận với chương trình dạy học theo kiểu mới này. Thời gian dành
nghiên cứu, tìm tòi những phương pháp dạy học mới này còn hạn chế. Bên
cạnh đó việc ý thức về tầm quan trọng của việc giải toán có lời văn của các
em chưa đầy đủ. Từ đó dẫn đến tình trạng học sinh lên lớp 3 vẫn còn nhiều
em chưa ghi được lời giải và phép tính đúng cho một bài toán.
học mới VN.
- Cơ sở vật chất tốt, đầy đủ. Trường lớp sạch sẽ, thân thiện.
- Bản thân tôi nhiệt tình, có tay nghề vững vàng và được tham gia đầy đủ
các lớp tập huấn về phương pháp, nội dung dạy học theo Mô hình trường tiểu
học mới VN.
- Tài liệu học tập của học sinh được cấp phát đầy đủ, có màu sắc, tranh ảnh
đẹp thuận tiện cho dạy và học. Hoạt động học tập rõ ràng nên thu hút được sự
hứng thú học tập của học sinh.
- Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học của con em. Phối hợp tốt giữa
gia đình, nhà trường và xã hội để giáo dục học sinh.
- Các em ngoan, chăm học, lễ phép, vâng lời.
- Ở lớp 1 bước đầu các em đã làm quen với dạng toán có lời văn.
5.2. Khó khăn
- Qua khảo sát đầu năm và quá trình giảng dạy lớp 2 theo Mô hình trường
học mới, tôi thấy học sinh còn hạn chế về kĩ năng giải toán có lời văn như
sau:
- Các em từ lớp 1 lên lớp 2 chưa nắm chắc các bước giải toán có lời văn,
chưa biết lựa chọn phép tính để giải bài toán.
- Một số em chưa biết tóm tắt bài toán.
6 Các giải pháp,biện pháp thực hiện.,
6.1. Giúp các em nắm được các bước giải toán có lời văn, biết lựa chọn
phép tính để giải
6.1.1. Ôn lại các bước giải bài toán có lời văn
Do ở lớp 1các em mới bước đầu làm quen với dạng toán có lời văn, vì vậy
khi học đến lớp 2 và bài đầu tiên của dạng toán có lời văn, tôi đã hướng dẫn
các em ôn lại kiến thức đã học, nêu được các bước giải một bài toán có lời
văn các em đã học.
Tôi cho học sinh thảo luận nhóm, làm vào phiếu bài tập.
Tôi đọc câu hỏi cho các em thảo luận và trình bày trong nhóm, thống nhất
kết quả.
Một bài giải của bài toán có lời văn, được trình bày đúng quy định gồm có
mấy phần? (Gồm có 3 phần: Câu lời giải, phép tính (với đơn vị viết trong
ngoặc và ở sau kết quả), đáp số (với đơn vị viết bình thường, không có ngoặc
đơn)).
Sau khi các em được ôn lại các bước giải toán có lời văn, tôi yêu cầu mỗi
nhóm thảo luận và thống nhất viết lại 3 phần trong một bài giải toán có lời
văn, rồi dán lên góc học tập để giúp các em nhớ cách làm bài.
Phần 1: Câu lời giải
Phần 2: Phép tính
Phần 3: Đáp số
6.1.2. Một số dạng toán thường học
6.1.2.1. Dạng toán "nhiều hơn"
Theo tài liệu hướng dẫn học Toán 2, tập 1A, bài 6: "Bài toán về nhiều hơn",
nhiệm vụ 4 trang 28 là: Bạn Hòa có 4 bông hoa, bạn Bình có nhiều hơn bạn
Hòa 2 bông hoa. Hỏi bạn Bình có mấy bông hoa? Khi dạy bài này tôi thấy
học sinh chỉ áp dụng được một phương pháp đó là làm theo mẫu có sẵn trong
tài liệu. Học sinh khó phát triển kĩ năng phân tích đề và tóm tắt bài toán. Vì
vậy tôi đã thay đổi hình thức học tập bằng các bước cụ thể sau:
- Học sinh làm việc trrong nhóm.
Bước 1: Đọc đề và tìm hiểu đề bài toán
- Đây là một bước rất quan trọng tôi đã nhắc nhở học sinh đọc đề bài toán
trong sách tài liệu, hướng dẫn học Toán 2 đọc nhiều lần trong nhóm để hiểu.
Tôi cho các nhóm thảo luận. Trong khi học sinh thảo luận tôi đến từng nhóm
hướng dẫn thêm, tuyên dương khen thưởng cá nhân, nhóm làm tốt bằng hình
thức trao hoa tạo hứng thú học tập cho học sinh.
Học sinh đọc đề bài, tìm hiểu đề, sau đó tự nêu cho nhau nghe theo hệ
thống câu hỏi sau:
+ Bài toán cho biết những gì? (bạn Hòa có 4 bông hoa, bạn Bình có nhiều
Hỏi Bình: .....bông hoa?
? bông hoa
- Mỗi em tự chọn cách tóm tắt của mình, làm vào giấy nháp và sau đó trình
bày bài của mình cho nhóm nghe. Kết hợp, tôi đi kiểm tra, hướng dẫn thêm
cho các em và nghiệm thu kết quả.
Bước 3: Tìm lời giải đúng và cách ghi
Việc đặt lời giải đúng trong phần bài giải tôi để học sinh tự diễn giải, yêu
cầu viết ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, đúng ý, tôi lưu ý cho học sinh khi viết lời
giải, đầu câu viết hoa cuối câu có dấu hai chấm.
Học sinh tự suy luận từ câu hỏi của bài toán đến dữ kiện đã cho để tìm lời
giải của bài toán, tôi gợi ý cho học sinh căn cứ vào câu hỏi cuối bài (Hỏi bạn
Bình có mấy bông hoa?) hoặc dòng tóm tắt cuối cùng (hỏi Bình:.... Bông
hoa?). Học sinh sẽ sửa lại câu hỏi thành câu lời giải hoàn chỉnh, lấy các từ
"Bạn Bình có ... bông hoa" trong câu hỏi của bài toán. Bỏ từ "mấy" sau đó
thêm chữ "số" vào vị trí chữ "mấy" và bỏ dấu "?" cuối câu hỏi thay vào đó
chữ " là", thêm dấu ":" ở cuối câu. Từ đó ta được lời giải của bài toán, đó là:
"Bạn Bình có số bông hoa là:"
Tôi khuyến khích các em đặt nhiều lời giải khác nhau mà vẫn phù hợp
với yêu cầu đề bài. Qua đó giúp các em tự tìm tòi, sáng tạo và rèn luyện óc
suy nghĩ linh hoạt, độc lập.
Chẳng hạn như:
- Bạn Bình có số bông hoa là:
- Số bông hoa của bạn Bình là:
- Số bông hoa bạn Bình có là:
Bước 4: Tìm phép tính đúng và đáp số
Đây là bước suy luận để tìm cách giải bài toán đúng và kết quả. Học sinh
có thể ghi sai phép tính hoặc không ghi tên đơn vị trong ngoặc đơn, viết đáp
số sai. Vì vậy tôi đã định hướng các em tìm từ trọng tâm trong bài, đó là từ