SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT
Mã số: …………………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMCó đính kèm:
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
Người thực hiện: Trần Thị Hương
Lĩnh vực/ Môn nghiên cứu:
Giáo dục khuyết tật:
Phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Việt
Năm học: 2013 - 2014
SƠ LƯỢC VỀ LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Trần Thị Hương
2. Ngày, tháng, năm sinh: 01/01/1984
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: Tổ 8, P. Trảng Dài, Tp. Biên Hòa, Đồng Nai.
5. Điện thoại: 0613.954171 (CQ) Di động: 0915427673
6. Fax: Email:
7. Chức vụ: Giáo viên.
8. Nhiệm vụ được giao:
Giảng dạy môn: Toán, Tiếng Việt (lớp 1B khiếm thị);
Giáo viên chủ nhiệm lớp 1B và 2 khiếm thị
9. Đơn vị công tác: Trung tâm Nuôi dạy trẻ khuyết tật Đồng Nai
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân Khoa học.
- Năm nhận bằng: 2006
- Chuyên ngành đào tạo: Giáo dục đặc biệt.
thể bị sai lệch. Các dụng cụ hỗ trợ cho học sinh khiếm thị rất ít và cũng rất đắt, làm
cho việc hiểu ngôn ngữ nói và viết cũng hạn chế. Chính vì vậy mà việc viết sai lỗi
chính tả rất phổ biến ở các em khiếm thị.
Qua nhiều năm dạy học sinh khiếm thị, tôi thấy rằng hầu hết các em, đặc biệt là
các em học lớp 1 đều viết sai chính tả. Do các em không nhìn thấy hoặc nhìn kém làm
cho các em đọc sai, không hiểu nghĩa của từ, vốn từ ít nên dẫn đến viết sai. Ngoài ra
do hạn chế về phương tiện và trang thiết bị dành riêng cho các em cũng làm cho học
sinh khó hình dung ra các kiến thức liên quan đến tri giác nhìn, đến khi trình bày trên
giấy các em không viết đúng từ, câu, nội dung theo yêu cầu. Vì vậy, tôi đã mạnh dạn
thực hiện đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh khiếm thị lớp 1B viết đúng chính
tả”. Đề tài này phần nào giúp các em giải quyết vấn đề viết đúng chính tả của một
vần, một tiếng, một từ. Từ những việc nhỏ đó sẽ giúp các em có thêm kinh nghiệm
khi viết một câu, một đoạn văn chính xác hơn ở các lớp học cao hơn.
Trong đề tài này, tôi không đi sâu vào việc viết đúng chính tả theo phân môn
chính tả. Tôi cũng không đánh giá học sinh phải viết đúng độ cao độ rộng của con chữ
vì học sinh khiếm thị không thể đạt được yêu cầu đó.Tôi chỉ đi sâu vào việc làm cách
nào giúp các em có thể viết đúng vần, tiếng, từ khi học tất cả các môn.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Một số thuật ngữ
Học sinh khiếm thị:
Những người bị mất hoặc giảm thị lực cho đến mức không thể học và sinh hoạt
như những người bình thường kể cả khi được hỗ trợ bằng kính thì được cho là khiếm
thị. Học sinh khiếm thịđược chia làm hai đối tượng khác nhau là mù và nhìn kém.
Những em mù là không còn khả năng nhìn thấy hoặc chỉ phân biệt sáng tối. Những
em nhìn kém là những em còn khả năng nhìn thấy nhưng mức độ nhìn không được rõ
ràng hoặc phải nhìn ở khoảng cách rất gần cho dù được hỗ trợ về kính.
Chính tả:
Thuật ngữ chính tả hiểu theo nghĩa gốc là “phép viết đúng” hoặc “lối viết hợp
với chuẩn”. Cụ thể, chính tả là hệ thống các qui tắc về cách viết thống nhất cho các từ
của một ngôn ngữ, cách viết hoa tên riêng, cách phiên âm tên riêng nước ngoài. Nói
trình lớp 1 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, tuy nhiên môn Tiếng Việt của Trung
tâm chỉ học đến bài 28 theo sách giáo khoa Tiếng Việt 1, tập1. Trong khoảng 10 tuần
đầu tiên của lớp 1A các em sẽ được học làm quen với chữ cái, đây là thời gian bù đắp
cho việc các em không được học mẫu giáo. Thời gian này rất quan trọng, vì có những
em phải viết chữ nổi – chữ Braille – hệthống chữ nổi được xây dựng trên cơ sở về sự
thay đổi số lượng, vị trí của 6 chấm nổi. (Vị trí 6 chấm nổi chia thành 2 hàng dọc và 3
hàng ngang, các chấm nổi cách đều nhau. Các chấm này được viết tay bằng bảng và
dùi viết chuyên dụng.) Sau đó là các bài học chính thức được kéo dãn nội dung để các
em có thể luyện tập về đọc và viết cho thành thạo hơn.
Năm thứ hai là lớp 1B, học hết chương trình còn lại của lớp 1 theo Bộ Giáo dục
và Đào tạo. Năm này học sinh sẽ được rèn thêm về kỹ năng đọc viết để có nền tảng
vững chắc khi học lên các lớp cao hơn. Chính ở năm này cần phải có những yêu cầu
cao hơn về vấn đề viết đúng chính tả. Nếu ở năm này chúng ta không rèn cho các em
thì khi học lên các lớp trên các em sẽ có những thói quen viết sai chính tả rất khó bỏ.
Cho dù học ở trình độ nào các em cũng phải được rèn luyện nhưng nếu được rèn càng
sớm càng tốt. Do ở chương trình lớp 1B các em sẽ học đến các vần, cho nên để viết
đúng chính tả thì các em phải phân biệt các vần dễ lẫn, nhất là do ảnh hưởng của
phương ngữ nên việc đọc sai dẫn đến viết sai là không thể tránh khỏi.
Theo quan sát thì hầu hết các em đều mắc các lỗi viết chính tả như nhầm lẫn
các tiếng có vần chứa âm cuối là n – ng, n – nh, n – m, i – y, t – c; các tiếng có vần
chứa âm đầu là i – iê, o – ô – ơ, a – ă – â; nhầm lẫn các dấu thanh như dấu hỏi thành
dấu ngã, hoặc dấu nặng thành dấu hỏi; nhầm lẫn các phụ âm đầu trong tiếng như c –
k, ng – ngh, n – l, g – gh, Những lỗi này là do các em phát âm sai dẫn đến viết sai và
do không hiểu cấu tạo của tiếng dẫn đến viết sai, do không phân biệt được nghĩa của
các tiếng cũng dẫn đến viết sai.
Trong khi đó, hiện nay chưa có một chương trình hay sách riêng về hướng dẫn
viết đúng chính tả cho các em khiếm thị, nhất là quy tắc viết chữ Braille một cách
chính thống. Việc các giáo viên có thể làm cho các em là hướng dẫn, tìm các biện
pháp tốt nhất để giúp các em tự mình vượt qua số phận.
Khi các em đọc sai, viết sai sẽ dẫn đến hiểu sai giá trị của ngôn ngữ lời nói và
Ví dụ 2: Âm /q/, bản thân nó khi viết không đứng một mình mà luôn đi cùng
con chữ “u” và tạo ra âm /qu/. Do vậy học sinh phải nhớ cấu tạo, cách phát âm của âm
này để khi viết sẽ không bị thiếu.
Âm này rất dễ nhầm với âm /c/ hoặc /k/ nếu không nhớ cách phát âm.
Như viết tiếng “quả”, nếu học sinh đọc đúng là /qu/ - /a/ - /hỏi/ thì sẽ viết đúng,
nếu học sinh đọc sai thành /c/ - /a/ - /hỏi/ thì sẽ thành “cả”.
2. Rèn thói quen phân tích cấu tạo của vần, tiếng, từ.
Khi dạy học sinh học về các vần, tiếng thì giáo viên nên tạo cho học sinh thói
quen phân tích cấu tạo của vần, tiếng ngay từ những bài đầu tiên. Điều này sẽ giúp
các em ghi nhớ cách viết vần, cách viết tiếng và không nhầm lẫn với các vần khác
hoặc các dấu thanh. Trước khi viết cũng yêu cầu học sinh phải phân tích tiếng mình
sắp viết: âm gì đứng trước, vần gì đứng sau, có thanh gì. Việc lặp lại này giúp học
sinh ghi nhớ sâu hơn từ cần viết, giúp học sinh cảnh giác với các âm vần có cách phát
âm gần giống nhau để không bị nhầm lẫn khi viết, hoặc các tiếng do phương ngữ làm
cho nói không chuẩn dẫn đến viết sai. Sau này khi các em viết thành thạo, thì các em
có thể nhẩm trong đầu mình tiếng này gồm có âm nào, vần nào, dấu thanh nào, nó
gồm những con chữ nào, sắp xếp theo thứ tự viết thế nào. Bởi học sinh khiếm thị có
khả năng nghe và nhớ rất tốt cho nên nếu chúng ta hình thành cho các em thói quen
phân tích thì các em sẽ ghi nhớ và tạo được một thói quen vững chắc.
Ví dụ 1:
Khi học đến bài 85/ SGK TV1, tập 2, học sinh học vần ăp – âp.
Trong bài này học sinh phải tự phân tích được vần ăp gồm âm /ă/ đứng trước
âm /p/ đứng sau; vần ăp có trong tiếng “bắp”; tiếng “bắp” gồm âm /b/ đứng trước, vần
/ăp/ đứng sau và có thanh sắc; để khi viết bài, học sinh không cần nhìn sách cũng có
thể viết được tiếng “bắp” gồm con chữ “b” trước, đến con chữ “ă”, đến con chữ “p”,
cuối cùng là dấu sắc trên đầu con chữ “ă” (Trong chữ Braille thì con chữ “b”, đến dấu
sắc, đến con chữ “ă”, cuối cùng là con chữ “p”)
Ví dụ 2:
Bài 89/ SGK TV1, tập 2, vần iêp – ươp.
Do ảnh hưởng của phương ngữ, nên khi đọc tiếng “mướp” các em thường theo
4. Hiểu nghĩa của từ
Khi các em đã có một vốn từ nhất định thì các em phải hiểu chính xác nghĩa
của từ đó. Hiểu đúng nghĩa của từ sẽ giúp các em sử dụng đúng từ khi viết. Nếu hiểu
sai các em sẽ viết sai từ, sai nội dung cần trình bày hoặc diễn đạt. Để có thể hiểu được
nghĩa của từ thì các em cần được hỗ trợ thêm các phương tiện khác như mô hình, vật
thật, tranh ảnh, các tình huống, sự vật, sự việc cụ thể.
Ví dụ: Chủ điểm Nhà trường, bài “Cây bàng”/ SGK trang 127, TV1, tập 2
Trong bài này khi đọc “bàng” thì do phương ngữ các em đọc thành “bàn”, khi
viết vào vở các em cũng viết thành “bàn”. Để các em phân biệt được “bàng” và “bàn”
thì chúng ta phải giải thích nghĩa của hai từ này cho các em hiểu. “Bàng” là tên một
loại cây, “bàn” là một đồ dùng, nên khi nói đến cây thì chúng ta phải viết là “cây
bàng” chứ không thể viết là “cây bàn”, chỉ có thể viết là “cái bàn” mà thôi. Để học
sinh hiểu sâu sắc hơn thì chúng ta có thể dẫn các em đi quan sát cây bàng có trong sân
trường, sau đó so sánh với cái bàn học mà các em đang sử dụng. Chắc chắn việc này
sẽ giúp các em có khái niệm và ghi nhớ sâu sắc khái niệm đó, nó sẽ trở thành kinh
nghiệm để lần sau khi gặp lại các em không bao giờ viết sai nữa.
Hình 3+4: Học sinh mù quan sát cây bàng và quan sát cái bàn.
5. Luyện viết nhiều lần
Cho các em viết lại những vần, tiếng, từ thường viết sai nhằm rèn cho các em kĩ
năng viết chính tả. Khi viết nhiều lần, các em sẽ ghi nhớ được cấu trúc của các tiếng,
từ có những con chữ nào ghép với nhau. Từ đó các em sẽ hạn chế việc viết sai chính
tả.
Ví dụ:
Học sinh rất hay viết sai “số chín” thành “số chính”, cho các em viết lại nhiều
lần sẽ giúp các em ghi nhớ được tiếng “chín” là vần “in” chứ không phải là vần “inh”.
Khi được luyện tập nhiều lần các em sẽ có kĩ năng và kinh nghiệm khi gặp lại các từ
hay viết sai chính tả.
Hình 5+6: Học sinh nhìn kém luyện viết từ “rước đuốc”.
Trên đây chỉ là một số biện pháp được sử dụng phổ biến để giúp các em khiếm
rất nhiều. Thành công này một phần do các em luyện viết chăm chỉ, một phần các em
hiểu được nghĩa của các từ mình hay viết sai. Vẫn còn em viết chưa chính xác hoàn
toàn, đây là do khả năng tiếp thu kém và chưa nắm được các kĩ thuật viết chữ Braille.
Em này cần được bồi dưỡng và phụ đạo nhiều ở gia đình thì sẽ có thể tiến kịp cùng
các bạn.
- Sai cấu tạo tiếng: Tức là học sinh viết sai phụ âm đầu như c thành k, d thành
gi, l thành n, như viết con thành kon, hoặc kẻ thành cẻ; chén thành trén; quả thành
cả; Hoặc viết thiếu một con chữ trong tiếng như: buồng thành bùng, lương thành
lơng, Lỗi này là do học sinh chưa thuộc hết được các âm trong chữ cái Tiếng Việt,
một phần do phương ngữ, một phần là do học sinh nhìn kém hạn chế tầm nhìn dẫn
đến nhìn sai, nhìn thiếu, nhìn nhầm chữ. Khi học một thời gian dài, được mở rộng vốn
từ, hiểu nghĩa của từ, luyện viết thường xuyên thì các em đã khắc phục được các lỗi
trên.
Thông qua những kết quả trên cho thấy việc giúp học sinh khiếm thị viết đúng
chính tả là rất quan trọng. Chúng ta phải luôn đổi mới phương pháp và linh động cho
phù hợp với trình độ, lứa tuổi, khiếm khuyết của các em. Có như vậy mới đem lại
những hiệu quả tối ưu trong dạy và học.
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Hiện nay, chúng ta đang cố gắng nâng cao chất lượng dạy và học nhất là trong
việc giáo dục trẻ khuyết tật có thể hòa nhập với xã hội sau này.Việc giúp các em
khiếm thị viết đúng chính tả là rất quan trọng. Ngoài việc giúp các em có vốn kiến
thức để phục vụ cuộc sống, viết đúng còn là một phương tiện giao tiếp với xã hội.
Để đạt được điều này trước hết là có sự quan tâm của Ban Giám đốc về cơ sở
vật chất, sự chỉ đạo sâu sát của tổ chuyên môn. Hơn hết là tinh thần trách nhiệm cao
của người giáo viên, có tâm với nghề, tận tụy yêu thương trẻ khuyết tật cũng như
không ngại khó khăn trong việc áp dụng các phương pháp làm thế nào cho trẻ khiếm
thị có thể tiếp thu bài học một cách hiệu quả nhất. Quan trọng nhất là bản thân các em
có sự nỗ lực phấn đấu, vượt qua chính mình để hòa nhập với cuộc sống.
Để việc giáo dục trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khiếm thị nói riêng đạt kết quả
cao, tôi có một số đề xuất, khuyến nghị như sau:
dụng. Chữ nổi không phải được viết như chữ bình thường bằng giấy trắng và bút viết,
mà nó là các chấm được làm nổi lên bề mặt giấy. Để có thể tạo ra những chấm nổi thì
khi viết chúng ta phải tạo ra các chấm lõm, quy trình viết sẽ ngược với viết chữ sáng.
Chúng ta bắt đầu viết từ phải qua trái, hết dòng thì xuống dòng, viết hết các dòng có
trong bảng viết thì chúng ta tháo giấy và lắp giấy khác vào viết tiếp. Khi viết, ta sử
dụng dùi ấn nhẹ trên bề mặt giấy tương ứng với các chấm lõm trong bảng viết sẽ tạo
ra những chấm lõm trên giấy, khi lật ra đằng sau thì sẽ thấy có chấm nổi lên.
Như vậy khi đọc thì chúng ta đọc từ trái qua phải, khi viết thì viết từ phải qua
trái. Khi cầm một trang chữ Braille ta thấy có một mặt là các chấm nổi, mặt bên kia là
những chấm lõm. Viết là tạo ra những chấm lõm, do vậy mà các chữ viết sẽ phải
ngược với các chấm nổi thì chúng ta mới viết đúng. Ví dụ để viết được chữ a, vị trí
chấm nổi khi đọc là trên cùng bên trái, thì khi viết chúng ta phải tạo ra chấm lõm ở vị
trí trên cùng bên phải của ô Braille để khi lật ngược lại chúng ta mới có chữ a đúng.
Vị trí chấm nổi
khi đọc 1 ô Braille
1 4
2 5
3 6
Vị trí chấm lõm
khi viết 1 ô Braille
4 1
5 2
6 3
Như vậy, để viết đúng chính tả bằng chữ Braille học sinh cũng phải nắm được
quy tắc đọc và viết loại chữ này. Lỗi các em viết loại chữ này hay gặp là viết thiếu
hoặc thừa chấm trong 1 ô chữ dẫn đến sai con chữ, viết thiếu một con chữ trong 1
tiếng dẫn đến sai từ.
Người thực hiện
Trần Thị Hương
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trong tổ/Phòng /Ban Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT Trong ngành
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong
phạm vi rộng:
Trong tổ/Phòng /Ban Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT Trong ngành
Xếp loại chung: Xuất sắc Khá Đạt Không xếp loại
NGƯỜI THỰC HIỆN SKKN XÁC NHẬN CỦA TỔ THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
CHUYÊN MÔN