skkn một số biện pháp giúp học sinh học tốt tiết tập làm văn - Pdf 24

Nhận xét đánh giá của HĐGK:
Tác dụng của sáng kiến :

Hiệu quả:

Xếp loại :
ngày tháng năm
CT/HĐKHGD

Nhận xét đánh giá của HĐGK huyện :
Tác dụng của sáng kiến:

Tính thực tiễn,sư phạm ,khoa học:

Hiệu quả :…

Xếp loại :
ngày tháng năm
CT/HĐKHGD
Nhận xét đánh giá của HĐGK tỉnh :
Tác dụng của sáng kiến:

Tính thực tiễn,sư phạm ,khoa học:

Hiệu quả :…

Xếp loại :
ngày tháng năm
CT/HĐKHGD
A-PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

3 . LỊCH SỬ ĐỀ TÀI:
-Học sinh chú trọng bài viết mà chưa tích cực với bài làm nói nên ảnh hưởng khả
năng phát ngôn trong giao tiếp, nên bản thân tôi nghiên cứu áp dụng vào năm học 2007-
2008
- Đầu năm học tôi kiểm tra phân loại đối tượng học sinh, sau đó lập kế hoạch thực
hiện cho từng dạng đề bài tập làm văn
- Theo dõi hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài theo đề tài luyện tập, theo hai hình
thức nói và viết
- Giáo viên trong khối lớp cho rằng học sinh không hăng hái học môn tập làm văn.
Vì vậy tôi quyết định tìm hiểu và nghiên cứu đề tài: “ Một số biện pháp giúp học sinh
học tốt tiết tập làm văn”
4 . PHẠM VI ĐỀ TÀI :
Để giúp học sinh học tốt môn tập làm văn, nhằm bồi dưỡng tâm hồn cảm xúc và
nâng cao vốn hiểu biết của các em. Đề tài này được nghiên cứu, áp dụng dạy tập làm văn
ở lớp tôi ( 5
1
)trường tiểu học
B. PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU :
I/ Thực trang đề tài :
- Các em phần đông là học sinh vùng sâu của xã, cuộc sống gia đình của các em
còn gặp nhiều khó khăn, ngồi giơ øhọc các em còn phụ giúp gia đình nên công
việc chuẩn bị bài còn sơ sài , nội dung chưa đảm bảo vì nhiều nguyên nhân :
+ Học sinh chưa biết phân tích đề và làm dàn bài theo từng thể loại
+ Học sinh chưa biết dùng dàn bài chung để lập dàn bài chi tiết cho từng đề bài
+ Đối với học sinh yếu, chưa biết tìm ý, chọn ý
+ Học sinh trình bày một đoạn văn còn lúng túng, không diễn đạt được; Khi
viết thì câu văn còn rườm rà, chưa xếp ý cho đúng
- Các tiết tập làm văn ở những tuần đầu luyện tập tả cảnh được thống kê chất
lượng như sau :
Lớp học có32 em: + chuẩn bị bài :15 em

nằm trong một mối liên kết biến hóa uyển chuyển theo cách điều khiển độc đáo của
người thầy. Làm được như vậy học sinh sẽ thích thú tiếp thu tốt, rèn luyện tốt, tiếp thu
được nhiều mặt, rèn luyện nhiều mặt các thao tác hổ trợ cho nhau tạo nên động tác tổng
hợp đối với học sinh
Ví dụ: học văn miêu tả người
Từ một bài văn cho sẵn: Hạng A Cháng- Đọc và phân tích- Tìm hiểu cấu tạo bài
văn- Đưa ra cấu tạo chung bài văn tả người - Cho lập dàn ý một người trong gia đình
em- sau đó tả bài em bé tập nói , tập đi là tả hoạt động của em bé- ở bài này thì phần giới
thiệu hình dạng được lướt nhanh qua đến lúc tả hoạt động thì chậm lại để nêu từng chi
tiết hoạt động
+ Lúc tập nói : bé nói gì ? dáng điệu ra sao ?
+ Lúc tập đi : dáng điệu, cử chỉ, động tác nào đáng yêu nhất
+ Thái độ cử chỉ với người xung quanh
+ Khi tiếp xúc với người quen, người lạ, em có biểu hiện gì ở nét mặt
c/ Xác định hệ thống điểm tựa khi tìm hiểu đề- thể loại, kiểu bài:
- Tập làm văn là một phân môn có tính chất tổng hợp. Để có thể rèn luyện tốt kỉ
năng nói, viết nó phải được kế thừa thành quả của các phân môn khác. Nó phải
dùng” bột” của các phân môn khác để “ gột” nên “ hồ”. Trong quá trình gột nên
hồ đó mà rèn luyện kĩ năng, rèn tư duy, trao đổi tình cảm …
- Trong cấu trúc của từng loại bài, phương pháp giảng dạy đều chứa sẳn chất bột
đó hay nói cách khác học sinh dựa vào đấy mà suy nghĩ, sáng tạo.
Ví dụ: Trong tập đọc bài: “ Nghìn năm văn hiến” có đưa ra số liệu cụ thể, học sinh
đã biết thì đó là điểm tựa học tiếp theo sau là học sinh học tập làm văn về báo cáo
thống kê số liệu học sinh trong lớp, trong tổ mình.
- Học tập đọc còn giúp các em cảm thụ sâu sắc nội dung của các bài tập đọc. Qua
đó học sinh có ý tưởng để ứng dụng vào bài tập làm văn, viết đoạn văn ngắn; Ở
phân môn luyện từ vàø câu còn giúp các em có được vốn từ mới, đặt câu đúng
ngữ pháp. Chính vì vậy mà các môn khác là điểm tựa khi tìm hiểu bài, nên giáo
viên cũng phải quan tâm hướng dẫn kĩ để học sinh học tốt môn tập làm văn.
d/ Giúp học sinh nắm vững dàn bài chung cho từng thể loại, kiểu bài đi đến lập dàn

Từ gợi ý đó học sinh đặt được một đoạn:( đây là bài của em Quí trong lớp):
“ Trăng hôm nay tròn và sáng, soi rọi cả mặt đất sáng lên. Vài ngọn gió thổi làm
xáo động không gian yên tĩnh, sương đêm đọng lại trên lá cây, ánh trăng chiếu lên những
giọt sương ấy làm nó lấp lánh như pha lê…
Vài con đom đóm mấp máy ánh sáng của mình trong đêm như những vì sao ẩn
hiện bay xuống mặt đất chơi đùa cùng em. Aùnh trăng chiếu vào vòm cây, bóng cây in
trên tường tạo nên những hình thù ma quái linh động khi có những ngọn gió thổi qua ‘’
- Học sinh biết tìm từ hay thích hợp cho chi tiết, làm cho học sinh luôn động não
trong tiết học, suy nghĩ nhiều nhưng không căng thẳng, óc ghi nhớ khả năng
liên tưởng. Nhưng giáo viên cũng cần lưu ý rèn luyện học sinh các tư duy lô
gích, tư duy trù tượng. Từ đó giúp học sinh thông minh biết cách làm , cách
nhìn, cách nghĩ của riêng mình trong một bài.
Ngồi những việc làm trên, giáo viên cũng cần quan tâm đến cách đánh giá nhận
xét, nêu gương cho học sinh, cần khuyến khích, khen ngợi các em có những đoạn
văn hay, những từ ngữ tạo ra câu văn sinh động, học sinh biết dùng biện pháp nhân
hố hay so sánh để các em có cách diễn đạt ý riêng cho bài văn mình. Giáo viên
cũng cần chỉ ra những điểm sai cần sửa để học sinh khắc phục trong các bài văn
khác.
Đối với học sinh yếu cũng nên khen ngợi kịp thời, động viên tinh thần học tập của
em, có thế học sinh sẽ tự tin, giúp việc luyện tập học văn sẽ không còn sợ sệt hay
chán nãn
III/ Kết quả chuyển biến:
- Qua một thời gian nghiên cứu và áp dụng đề tài cho lớp chủ nhiệm, đã đạt được
kết quả phấn khởi
+ Học sinh biết phân tích để tìm ra trọng tâm của đề bài
+ Học sinh biết dựa vào bài văn cho sẳn để rút ra dàn bài chung, rồi đi đến dàn
bài chi tiết, chuẩn bị trước để viết một đoạn văn
+ Học sinh biết diễn đạt bài văn của mình, nhận xét bài bạn, biết sửa chữa bổ
sung cho đoạn văn của mình hay hơn ( nhưng việc đặt câu cũng còn hạn chế ở
một số em)

sát, học nhóm,thảo luận… giúp học sinh tự tin khi nói và viết
- Khi nhận xét đánh giá bài của học sinh, giáo viên cần:
+ Tôn trọng ý của học sinh sao cho đảm bảo nội dung thể hiện, phù hợp với yêu
cầu của đề
+ Cần biểu dương ưu điểm nhằm động viên các em
- Giáo viên cần nắm vững đặc điểm từng thể loại và tổ chức dạy hợp lý để rèn
luyện các em nói – viết một vấn đề trọn vẹn.
2/ Phạm vi , đối tượng áp dụng :
- Phạm vi nghiên cứu : học sinh lớp 5 của trường tiểu học
- Thời gian thực hiện : tháng 10 năm 2007 đến tháng 4 năm 2008
MỤC LỤC
I/ Lý do chọn đề tài :
1/ Đặt vấn đề
2/ Mục đích đề tài
3/ Lịch sử đề tài
4/ Phạm vi đề tài
II/ Nội dung công việc đã làm :
1/ Thực trang đề tài
2/ Nội dung cần giải quyết
3/ Biện pháp cần giải quyết
4/ Kết quả chuyển biến của đối tượng
III/ Kết Luận:
1/ Tóm lượt các giải pháp
2/ Phạm vị, đối tượng áp dụng
3/ Kiến nghị với các cấp về điều kiện áp dụng ( nếu có )
IV/ Phụ lục:
1/ Sách giáo khoa, sách giáo viên lớp 5
2/ Tài liệu về phân môn tập làm văn
3/ Tạp chí giáo dục
class="bi x0 y0 w1 h1"


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status