SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH KHIẾM
THÍNH HỌC KÍ HIỆU NGÔN NGỮ QUA PHÂN
MÔN TẬP ĐỌC LỚP 3 TẠI TRUNG TÂM NUÔI
DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT TỈNH ĐỒNG NAI
1 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH KHIẾM THÍNH HỌC KÍ HIỆU
NGÔN NGỮ QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 3 TẠI TRUNG TÂM NUÔI
DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT TỈNH ĐỒNG NAI
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
rõ.
- Trong ngành y, điếc có nghĩa là suy giảm hoặc mất toàn bộ hay một phần sức
nghe.
- Trong Giáo dục đặc biệt, trẻ điếc hay trẻ khiếm thính là trẻ có khó khăn về nghe
và nói, trẻ không nghe được nên không thể tiếp nhận thông tin hoặc nắm thông tin
không trọn vẹn, không chính xác. Do đó sẽ ảnh hưởng đến việc tiếp nhận thông tin,
ảnh hưởng đến việc học tập và giao tiếp xã hội.
Mức độ điếc:
Mức độ nhẹ 20 – 40 dB (Điếc mức độ I)
Mức độ vừa 40 – 70 dB (Điếc mức độ II)
Mức độ nặng 70 – 90 dB (Điếc mức độ III)
Mức độ sâu trên 90 dB (Điếc mức độ IV)
b) Ảnh hưởng của sự phá hủy cơ quan phân tích thính giác đến hoạt động của
trẻ.
- Thính giác là một cơ quan vô cùng quan trọng đối với một con người, nó giúp
ta tri thức được thế giới xung quanh, cho các hoạt động thực tiễn và để phát triển
hài hòa về tâm lý và tình cảm.
- Trẻ bị mất khả năng tiếp nhận thế giới âm thanh phải sống trong môi trường
yên lặng, dẫn đến rối loạn các chức năng tâm lý, trẻ trở nên cục cằn, thô lỗ, thiếu tự
tin và lúc nào cũng cảm thấy thiếu an toàn khi tiếp xúc với cộng đồng.
- Nói đến chức năng của thính giác, chúng ta chú ý đến đặc điểm thì nhu cầu
nghe và nói của những trẻ có khó khăn về nghe.
- Thực tiễn cho ta thấy những trẻ không nghe được không nói được nhu cầu nghe
và nói của những trẻ này càng lớn. Đó là những vấn đề đặt ra cho chúng ta làm như
thế nào để trẻ điếc có thể giao tiếp với cộng đồng.
c) Tầm quan trọng của việc học đọc: Đọc là nền tảng trong việc lĩnh hội tri
thức của học sinh.
- Trong tất cả môi trường ta phải đọc.
- Đọc là sự hỗ trợ trí nhớ về ngôn ngữ.
- Đọc làm tăng lên những tần số của sự dùng ngôn ngữ.
a) Nội dung:
Để giúp học sinh khiếm thính học ngôn ngữ tốt hơn qua phân môn Tập đọc
giáo viên cần kết hợp một số đường hướng dạy ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính.
- Đường hướng tự nhiên: Trò chuyện, thông qua giao tiếp môi trường, ngôn ngữ
toàn diện, dựa trên kinh nghiệm hoặc khái niệm.
- Đường hướng cấu trúc: Trực quan – trực tiếp, diễn giải, luyện tập, hình thức, văn
phạm, phân tích.
- Đường hướng nghe nói: Tận dụng sức nghe, lời nói, dạy nói, có thể có cử chỉ
điệu bộ, dấu tự nhiên, quan sát.
- Đường hướng tổng hợp: Điệu bộ - cử chỉ, dấu hiệu tự nhiên, dấu hiệu quy ước,
văn phạm, hình miệng, phát âm.
- Đường hướng song ngữ: Ngôn ngữ thứ nhất, ngôn ngữ thứ hai.
- Đường hướng thủ ngữ: Điệu bộ - cử chỉ, dấu hiệu tự nhiên, dấu hiệu quy ước, chữ
cái ngón tay, dấu hiệu dựa trên ngữ âm học.
4
- Đường hướng dùng lời: Điệu bộ - cử chỉ, dấu hiệu tự nhiên, lời nói.
- Đường hướng hỗn hợp: Kiểu kết hợp các đường hướng.
Phương pháp trực quan làm mẫu: Là phương pháp đặc thù cho học sinh khiếm
thính. Khi giáo viên dùng hình ảnh hoặc làm mẫu thì học sinh dễ dàng nắm bắt
những cử chỉ nét mặt, điệu bộ và kí hiệu (học sinh tiếp nhận qua thị giác).
Phương pháp dùng từ (giảng giải, chỉ dẫn ) hướng đến ý thức của trẻ. Đối với
trẻ, lời nói cụ thể và có hình ảnh của giáo viên là một trong những phương tiện
nhận thức đặc biệt gần gũi, dễ hiểu.
Phương pháp hợp tác nhóm:
- Gv có thể cho 2 học sinh thảo luận đọc nhóm đôi, một bạn đọc một bạn dò bài
cho bạn kia và ngược lại. Nếu bạn đọc sai thì bạn kia có thể giúp bạn sửa sai ( hoặc
giáo viên sẽ giúp trẻ sửa sai).
Phương pháp đóng vai:
- Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ.
Một mái nhà chung
Một mái nhà chung
Cách 2:
Đọc theo cấu trúc đặc điểm của người điếc.
Ví dụ: Bạn tên kí hiệu gì?
Tiếng Việt: Tên kí hiệu của bạn là gì?
Ví dụ: Một mái nhà chung
Đọc: Mái nhà chung một
Mái nhà chung một
Vì vậy: Trong quá trình dạy học sinh tôi thấy rằng việc đọc theo cấu trúc
của người điếc áp dụng đọc vào bài thơ thì học sinh dễ đọc hơn do câu thơ ngắn
còn khi áp dụng vào bài văn khi học sinh đọc không biết cách đổi động từ, bổ ngữ,
* Gv đọc mẫu: Gv đọc mẫu bài Tập đọc trước một lần bằng giao tiếp tổng hợp, học
sinh chú ý.
- Gv yêu cầu học sinh đọc từng câu thơ, mỗi em đọc từng dòng thơ lần lượt đến hết
bài. Gv chú ý sửa sai cho học sinh.
Ví dụ: Một mái nhà chung
Mái nhà của chim/…
- Gv yêu cầu học sinh đọc khổ thơ. Lần lượt từng học sinh đọc từng khổ thơ. Chú ý
ngắt nghỉ câu cho đúng.
Ví dụ: Mái nhà của chim/
Lợp nghìn lá biếc/
Mái nhà của cá/
Sóng xanh rập rình//…
- Gv yêu cầu học sinh đọc toàn bài thơ.
- Gv chú ý chỉnh sửa cho học sinh.
- Hs đọc thầm bài một lượt.
- GV cho học sinh đọc nhóm, học sinh thi đọc nhóm.
+ Giải thích từ ngữ cho học sinh.
- Gv cho học sinh gạch từ khó.
- Học sinh thực hiện gạch từ khó.
- Gv yêu cầu học sinh đọc từ khó bằng ngôn ngữ kí hiệu, sau đó giải thích từ có
tranh ảnh minh hoạ cho từ đó.
7
Ví dụ: Mái nhà của chim Mái nhà của dím
Lợp nghìn lá biếc Sâu trong lòng đất 8
* Đọc cá nhân. * Đọc nhóm đôi.
+ Giải thích từ ngữ cho học sinh.
- Giáo viên nên dạy cho trẻ cách dịch nguyên câu, đọc nguyên câu.
- Cho trẻ đóng vai, xây dựng tình huống để trẻ giải quyết, giúp trẻ hiểu nghĩa của
từ hoặc câu đó (trong bài Tập đọc có vai giáo viên cho các em đóng theo vai các
nhân vật trong bài đọc).
- Cho trẻ nhận ra lỗi sai và yêu cầu trẻ sửa sai.
Ví dụ: Khi trẻ đọc xong giáo viên hỏi trẻ lại từ mà giáo viên thấy nghi ngờ và yêu
cầu trẻ đọc lại từ đó.
- Khuyến khích trẻ khi trẻ làm tốt.
Tóm lại: Muốn học sinh nắm bài nhanh và đạt hiệu quả tốt khi sử dụng ngôn
ngữ kí hiệu thì người giáo viên cần phải linh hoạt trong quá trình giảng dạy, làm
sao thu hút được học sinh tham gia, thay đổi mọi hình thức để cho tiết dạy sinh
động và đạt kết quả tốt.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Sau đây là bảng thống kê mà tôi đã làm trước khi thực hiện biện pháp sử
dụng ngôn ngữ kí hiệu dạy phân môn Tập đọc lớp 3. Bảng dưới đây cho thấy được
khả năng hiện tại của học sinh.
Tổng học sinh: 8/3 Không đeo máy: 7/2 Đọc hiểu câu: 2/2
Đeo máy: 1/1 Đọc hiểu từng từ: 6/1
Bảng khảo sát đầu năm:
Học sinh
Đeo máy
Không đeo
máy
Đọc hiểu câu
Đọc hiểu từng từ
8/3 nữ
1/1
7/2
2/2
6/1
7/2
5/2
3/1
%
12.5%
87.5%
62.5%
37.5%
Từ bảng số liệu trên ta thấy được khi sử dụng biện pháp trên đã mang lại hiệu
quả khá tốt. Khả năng hiểu của học sinh có sự tiến bộ rõ rệt, khả năng nắm bắt
ngôn ngữ kí hiệu tốt hơn. Học sinh đã nắm bài tốt hơn các em đọc hiểu câu chiếm
62.5% so với đầu năm khi chưa áp dụng biện pháp. Giáo dục cho trẻ khiếm thính
học là một công việc không đơn giản, muốn đạt được những kết quả như mong
muốn cần phải có những phương tiện, phương pháp phù hợp và đúng đắn với từng
đối tượng học sinh, đặc biệt là sự nỗ lực của học sinh. Bên cạnh đó, giáo viên phải
linh hoạt trong quá trình dạy học luôn tìm tòi, sáng tạo làm sao đem lại cho học
sinh những giờ học thật thú vị và hấp dẫn, tạo không khí vui tươi thoải mái nhưng
mang lại hiệu quả cao.
Tuy nhiên đây mới chỉ là cách nhìn chủ quan của tôi trên một đối tượng học
sinh nhất định chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót, hạn chế cần được góp ý bổ sung
khắc phục.
IV. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Để thực hiện tốt tiết dạy tại Trung tâm thông qua việc thực hiện các biện
pháp trên đã phần nào đạt được một số kết quả như đã nêu. Bản thân xin có một số
đề xuất sau:
11
* Đối với giáo viên:
- Giáo viên hướng dẫn cụ thể từng bước khi học sinh đọc.