SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT
Mã số:…………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
GIÚP HỌC SINH KHIẾM THÍNH HỌC TỐT
PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở LỚP 4
Người thực hiện: Lưu Thị Ngần
Lĩnh vực/ Môn nghiên cứu:
Giáo dục khuyết tật: Phân môn Luyện từ và câu
Sản phẩm đính kèm
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học : 2013 – 2014
1
SƠ LƯỢC VỀ LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Lưu Thị Ngần
2. Ngày tháng năm sinh: 24/9/1984
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: 208 tổ 7, ấp 1, Sông Trầu, Trảng Bom, Đồng Nai.
5. Điện Thoại: 0976224421
6. Email: luulydongnoi2005 @ yahoo.com.vn
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Nhiệm vụ được giao: Giảng dạy môn Toán, Tiếng Việt, Đạo đức.
Giáo viên chủ nhiệm lớp 4 khiếm thính.
9. Đơn vị công tác: Trung tâm Nuôi dạy trẻ khuyết tật Đồng Nai.
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao nhất: Cử nhân sư phạm giáo dục đặc
biệt.
- Năm nhận bằng: 2012
đặt câu và sử dụng dấu câu, bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói
và viết thành câu, có ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp. Trong
phân môn "Luyện từ và câu" sẽ giúp các em làm giàu vốn từ, vốn tri thức về tâm
hồn. Trẻ khiếm thính bị mất khả năng tiếp nhận thế giới âm thanh nên cũng mất đi
phương tiện giao tiếp thông thường là ngôn ngữ nói. Ngôn ngữ kí hiệu là phương
tiện thay thế cho ngôn ngữ nói, ngôn ngữ kí hiệu và tư duy có mối quan hệ mật
thiết với nhau. Trong quá trình học tập để hiểu ngôn ngữ kí hiệu của giáo viên thì
trẻ khiếm thính phải có kĩ năng quan sát tốt. Nhờ quan sát tốt, trẻ có thể phân tích
rồi tổng hợp ý nghĩa của các kí hiệu giáo viên vừa diễn đạt. Đối với học sinh
khiếm thính việc học phân môn Luyện từ và câu gặp nhiều khó khăn vì có rất
nhiều từ trừu tượng, khái niệm, hiện tượng,…các em không thể hiểu hết ý nghĩa
của các từ đó. Mặt khác, khả năng tư duy, tưởng tượng cũng hạn chế, ảnh hưởng
đến việc học, học sinh không ham thích môn học. Chính vì vậy, tôi nhận thức rõ
được tầm quan trọng của phân môn nên tôi mạnh dạn chọn đề tài ''Một số biện
pháp giúp học sinh khiếm thính học tốt phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4'', để
giúp các em học tốt hơn.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lí luận
a. Khái niệm trẻ khiếm thính (trẻ có tật về thính giác)
- Trong ngôn ngữ phổ thông, điếc thường được biểu hiện là mất thính giác
hoàn toàn, không nghe được chút nào cả hoặc giảm sút nhiều về thính giác, nghe
không rõ.
- Trong ngành y, điếc có nghĩa là suy giảm hoặc mất toàn bộ hay một phần
sức nghe.
- Trong Giáo dục đặc biệt, trẻ điếc hay trẻ khiếm thính là trẻ có khó khăn về
nghe và nói, trẻ không nghe được nên không thể tiếp nhận thông tin hoặc nắm
3
thông tin không trọn vẹn, không chính xác. Do đó sẽ ảnh hưởng đến việc tiếp
nhận thông tin, ảnh hưởng đến việc học tập và giao tiếp xã hội.
b. Ảnh hưởng của sự phá hủy cơ quan thính giác đến hoạt động của trẻ.
cảm giác tri giác nhìn trở thành nền tảng để hình thành tiếng nói. Thậm chí trẻ
khiếm thính có thể tiếp nhận ngôn ngữ chỉ dựa trên tri giác nhìn. Rất nhiều những
nghiên cứu đã chứng minh rằng cảm giác và tri giác ở trẻ khiếm thính không kém
so với trẻ nghe được, thậm chí còn tích cực và tinh nhạy hơn. Vì vậy, trẻ khiếm
thính thường để ý những chi tiết nhỏ của thế giới xung quanh mà trẻ bình thường
không để ý đến.
2.2. Đặc điểm trí nhớ của trẻ khiếm thính
Ở trẻ khiếm thính việc tiếp nhận từ ngữ bắt đầu muộn hơn nhiều vì mất hẳn
một khoảng thời gian dài ban đầu để tiếp nhận từ ngữ. Thời gian phát hiện tật điếc
4
càng kéo dài thì việc thu nhận ngôn ngữ của trẻ càng bị trì hoãn. Tất nhiên những
từ biểu thị đồ vật và hiện tượng thu nhận bằng những cơ quan cảm thụ khác nhau,
không được ghi nhớ với mức độ nhanh chóng và bền vững như nhau.
Trẻ khiếm thính kém hơn trẻ nghe được trong việc ghi nhớ những từ biểu thị
hiện tượng âm thanh.Việc ghi nhớ những từ thuộc phạm vi những hiện tượng âm
thanh diễn ra nhờ sự hoạt động phức tạp của mỗi loạt cơ quan chức năng của trẻ
điếc: đó là sự hoạt động đồng thời và tác động qua lại của cơ quan thị giác, xúc
giác, vận động và cảm giác - rung.
2.3. Đặc điểm tư duy – tưởng tượng của trẻ khiếm thính
Những đặc điểm tưởng tượng ở trẻ khiếm thính có sự thiếu hụt là do sự hình
thành ngôn ngữ chậm và tư duy trừu tượng hạn chế gây nên. Mặc dù hình tượng
thị giác của trẻ điếc đạt mức độ cao và sống động, nhưng sự hình thành tư duy
bằng khái niệm quá chậm, làm chúng rất khó thoát khỏi cái ý nghĩa cụ thể, nghĩa
đen của từ, điều đó làm khó khăn cho sự hình thành hình tượng mới. Tưởng tượng
tái tạo có một ý nghĩa đặc biệt trong hoạt động nhận thức của trẻ điếc. Nhờ tưởng
tượng tái tạo, thế giới xung quanh được phản ánh trong ý thức của trẻ rộng hơn.
Tầm hiểu biết của trẻ được mở rộng qua giới hạn kinh nghiệm cá nhân, đưa trẻ
tiếp xúc với kho tàng kinh nghiệm của loài người.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP.
1. Biện pháp: Tạo sự gần gũi hứng thú ban đầu cho các em
2. Biện pháp sử dụng từ điển Tiếng Việt
Từ điển là nơi cung cấp thông tin hoặc giải thích một sự vật hay hiện tượng
một cách ngắn gọn và chính xác nhất.
Từ điển là danh sách các từ ngữ được sắp xếp thành các từ vị chuẩn
(lemma). Một từ điển thông thường cung cấp các giải nghĩa các từ ngữ đó hoặc
các từ ngữ tương đương trong một hay nhiều thứ tiếng khác. Ngoài ra còn có thể
thêm thông tin về cách phát âm, các chú ý ngữ pháp, các dạng biến thể của từ,
lịch sử hay từ nguyên, cách sử dụng hay các câu ví dụ, trích dẫn.
Trong quá trình dạy trẻ khiếm thính việc sử dụng từ điển rất cần thiết và
quan trọng. Nó giúp cho học sinh nắm được nghĩa của từ một cách nhanh và
chính xác nhất.
Ví dụ: Mở rộng vốn từ: Dũng cảm (tuần 25)
- Tìm những từ cùng nghĩa với từ dũng cảm trong các từ sau: Gan dạ, thân
thiết, hòa thuận, gan lì, bạo gan,…
- Giáo viên cho học sinh sử dụng từ điển để tra ý nghĩa của các từ trên và
chọn cho phù hợp.
Gan dạ: Không sợ nguy hiểm.
Gan góc: Kiên cường, không lùi bước.
Gan lì: Gan đến mức trơ ra, không còn biết sợ là gì.
Thân thiết: Thân cận và mật thiết.
Hòa thuận: Thuận thỏa yên vui, anh em hòa thuận hai thân vui vầy.
Anh dũng: Mạnh mẽ, dũng cảm, người tài giỏi.
Anh hùng: Bậc tài trí hơn người.
Quả cảm: Gan dạ, rắn rỏi.
Can đảm: Dám làm không sợ.
Tháo vát: Giỏi xoay xở, người tháo vát.
Thông minh: sáng dạ, mau hiểu, học ít biết nhiều.
- Giáo viên phát phiếu cho học sinh làm việc theo nhóm.
- Học sinh sử dụng Từ điển tìm nghĩa của các từ.
- Sau thời gian quy định các nhóm dán kết quả làm bài trên bảng.
Mươi mười lăm năm nữa thôi, các em sẽ thấy cũng dưới ánh trăng này, dòng
thác nước đổ xuống làm chạy máy phát điện; ở giữa biển rộng, cờ đỏ sao
vàng phấp phới bay trên những con tàu lớn.
Theo Thép Mới
a. Tìm các từ chỉ hoạt động của anh chiến sĩ hoặc của thiếu nhi.
7
b. Tìm các từ chỉ trạng thái của các sự vật.
+ Phần nhận xét sau khi cho học sinh: đọc kĩ, thảo luận theo cặp tìm các từ chỉ
hoạt động của người, các từ chỉ trạng thái của vật, rồi trình bày kết quả trước lớp.
a. Các từ chỉ hoạt động của người là: nhìn, nghĩ, thấy.
b. Các từ chỉ hoạt động của sự vật là: đổ xuống, bay.
+ Giáo viên sẽ chốt lại: Các từ nêu trên là động từ.
+ Vậy động từ là gì? Học sinh trả lời – giáo viên khẳng định và ghi bảng.
+ Giáo viên chốt: Động từ là từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật.
Ví dụ: Nói tên các hoạt động, trạng thái được các bạn thể hiện bằng cử chỉ,
động tác.
- Giáo viên cho học sinh chia làm 2 đội (đội A và B) có số học sinh bằng
nhau, lần lượt từng học sinh đội A làm động tác cho đội B đoán tên hoạt động.
Sau đó đổi vai đội B làm động tác cho đội A đoán tên.
- Đội nào đoán đúng, nhanh, có động tác đẹp, tự nhiên rõ ràng sẽ thắng
cuộc.
- Học sinh các nhóm làm thực hành. Hình: Học sinh đang thực hành
4. Biện pháp dạy nội dung mở rộng vốn từ
Từ ngữ được mở rộng và hệ thống hoá trong phân môn Luyện từ và câu ở
lớp 4 bao gồm các từ thuần Việt, Hán Việt, thành ngữ, tục ngữ phù hợp với chủ
điểm của từng đơn vị học.
+ Để học sinh hiểu nghĩa và biết dùng từ ngữ, thành ngữ, tục ngữ thuộc các
điểm tích hợp phần nhận xét (cung cấp ngữ liệu) thường rút ra từ những bài tập
đọc mà học sinh đã học. Giáo viên cần giúp học sinh khai thác tối đa ngữ liệu
được cung cấp. Khi dạy các kiến thức về từ, học sinh thường gặp khó khăn trong
việc nhận diện, phân biệt từ phức, từ ghép tổng hợp, từ ghép phân loại, từ láy.
Theo chương trình từ ngữ, ngữ pháp lớp 4 cũ, học sinh chỉ biết đơn giản về cấu
tạo của ba từ loại: từ đơn, từ ghép, từ láy. Việc phân tích từ ghép có nghĩa tổng
hợp, có nghĩa phân loại, từ ghép và từ láy, học sinh phải căn cứ trên nghĩa của
từ. Vì vậy, để giúp học sinh nhận ra hệ thống từ, nhận xét về mặt cấu tạo giáo
viên cần: giúp học sinh thao tác ghép các từ với từng phần trong sơ đồ lần lượt
theo thứ tự tầng bậc.
Ví dụ: Khi dạy bài "Luyện tập về từ ghép, từ láy" (tuần 4)
- Giáo viên hướng dẫn học sinh phân loại từ "bánh trái" (chỉ chung cho các
loại bánh) nên là từ ghép có nghĩa tổng hợp.
- Giáo viên đặt câu hỏi: Hãy kể tên một số loại bánh mà em biết? (bánh
rán, bánh cuốn, bánh mì…)
- Bánh rán, bánh cuốn, bánh mì là chỉ riêng cho một loại bánh nên là từ
ghép có nghĩa phân loại.
- Khi học sinh không phân biệt được từ ghép và từ láy, giáo viên cần giải
nghĩa cho học sinh về từ ghép là từ gồm có hai tiếng có nghĩa trở lên tạo thành,
các tiếng đó bổ sung nghĩa cho nhau tạo nên nghĩa mới.
Ví dụ: Từ dẻo dai, bờ bãi,
+ Trong từ này tiếng dẻo hoặc bờ cũng có nghĩa, tiếng dai hoặc bãi cũng có
nghĩa nên từ đó là từ ghép.
Từ ghép: dẻo + dai = dẻo dai
bờ + bãi = bờ bãi
9
Trong trường hợp từ cứng cáp.
+ Tiếng cứng có nghĩa, nghĩa này hợp với nghĩa của từ.
+ Tiếng cáp không hợp với nghĩa của từ.( không có nghĩa).
Vì vậy: hai tiếng lặp lại âm đầu c nên là từ láy.
nhất ghi tên nước, cột thứ hai ghi tên thủ đô, chỗ nào ghi tên nuớc thì cùng dòng
với nó ghi tên thủ đô hoặc ngược lại. Thứ tự tên nước và tên thủ đô của các tờ
giấy to là khác nhau.
- Cách chơi: Trong từng nhóm, học sinh trao đổi để lựa chọn đúng tên
nước với tên thủ đô hoặc tên thủ đô đúng với tên nước viết trong giấy to. Sau 5
phút, các nhóm ngừng chơi và treo kết quả lên bảng lớp. Mỗi tên nước và thủ đô
viết đúng được 1 điểm. Nhóm có điểm cao là nhóm thắng.
Bước 3: Học sinh thực hiện chơi.
Bước 4:
- Một số học sinh nhắc lại kết quả đúng đã được xác nhận sau cuộc chơi.
- Từng học sinh ghi tên nước và tên thủ đô của 11 nước trong cuộc chơi
10
- Từng học sinh đọc từng câu và nghĩa của từ đã chọn trong câu đó.
- Các nhóm nhận xét bài làm của nhau.
- Giáo viên nhận xét ghi điểm cho các nhóm.
Ví dụ: Tên nước Tên Thủ đô
- Việt Nam - Hà Nội
- Nhật bản - Tôkio
- Lào - Viên chăn
- Hàn Quốc - Seoul
7. Biện pháp luyện tập theo mẫu, trực quan.
Trẻ khiếm thính tiếp nhận thông tin qua kênh nhìn nên giáo viên chủ yếu sử
dụng phương pháp làm mẫu và trực quan để học sinh dễ dàng nắm bắt và hiểu nội
dung bài giảng, hình thành biểu tượng, khái niệm về sự vật hiện tượng, giúp trẻ
phát triển nhận thức, tư duy,… Đây là phương pháp mà học sinh tạo ra các đơn vị
ngôn ngữ, lời nói bằng cách mô phỏng mẫu mà giáo viên đưa ra hoặc mẫu có
trong sách giáo khoa. Lựa chọn và giới thiệu mẫu cho cả lớp cùng thấy. Đưa ra hệ
thống câu hỏi gợi ý để học sinh quan sát, tìm hiểu đặc điểm của mẫu. Học sinh
vận dụng những hiểu biết và kết quả quan sát của mình để mô tả lại bằng cách
viết câu. Học sinh thể hiện bằng bài viết và giáo viên kiểm tra, đánh giá, nhận xét
quan sát học sinh thật kỹ trong mọi hoạt động của học sinh để đưa ra những bảng
khảo sát mà các em đã có về vốn từ, nắm cấu trúc cấu tạo từ, sử dụng từ đúng ngữ
cảnh, câu đúng ngữ pháp, các dấu câu phù hợp nhằm tìm ra được những hoạt
động, biện pháp giảng dạy phù hợp cho học sinh của mình khi học phân môn.
Tổng số học sinh của lớp 4 là 8/2 nữ.
Số liệu khảo sát ban đầu: Bảng số liệu dưới đây cho thấy mức độ khả
năng đạt được của học sinh trước khi tôi thực hiện đề tài.
Vốn từ/ từ
loại
Tiếng/ cấu
tạo từ
Sử dụng từ
đúng ngữ cảnh
Sử dụng câu
đúng ngữ
pháp
Sử dụng
dấu câu
50% 50% 37.5% 25% 37.5%
Đây là bảng số liệu sau khi tôi thực hiện các biện pháp và kết quả đạt được
như sau :
Vốn từ/
từ loại
Tiếng/ cấu
tạo từ
Sử dụng từ
đúng ngữ cảnh
Sử dụng câu
đúng ngữ
pháp
mà học sinh được chiếm lĩnh thuộc hệ thống vấn đề nào trong bài giảng. Mặt khác
tôi biết cách phối hợp nhịp nhàng, khoa học và logic giữa kiến thức về từ và câu.
Để cho việc dạy tốt ở phân môn luyện từ và câu tôi mạnh dạn có những đề xuất:
Đối với giáo viên
- Luôn tìm tòi sáng tạo, kết hợp linh hoạt các biện pháp, phương pháp, hình
thức tổ chức phong phú, lôi cuốn học sinh, phát huy tính sáng tạo, tích cực chủ
động của học sinh. Khuyến khích, động viên học sinh kịp thời.
Đối với học sinh
- Cần sử dụng và tra từ điển thường xuyên.
- Tích cực, tự giác trong học tập.
Đối với gia đình và cộng đồng
- Kết hợp chặt chẽ với giáo viên và nhà trường.
- Quan tâm hỗ trợ đúng mức về mọi mặt cho sự tiến bộ của học sinh.
Trên đây mới chỉ là cách nhìn chủ quan của tôi trên một đối tượng học sinh
nhất định chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót, hạn chế cần được góp ý bổ sung
khắc phục. Rất mong được sự đóng góp của thầy cô và các bạn đồng nghiệp để
giáo dục trẻ khuyết tật ngày càng tốt hơn.
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặc điểm tâm lý của trẻ khiếm thính - Nguyễn Quang Uẩn (2000) - Đại
học Sư phạm Hà nội, tài liệu bài giảng.
2. Bài giảng “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính” - Nguyễn Thanh
Thu Thuỷ.
3.Tài liệu “Thanh thính học trong giáo dục”– Trần Thị Thiệp, Khoa Giáo
dục Đặc biệt, trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
4. “Tâm lý trị liệu” Nguyễn Công Khanh – NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội
5. Trang web: Một số phương pháp giáo dục trẻ khiếm thính.
6. Từ điển Tiếng Việt.
Người thực hiện
13
3. Khả năng áp dụng
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Trong tổ/Phòng /Ban Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT Trong ngành
- Đưa ra giải pháp kiến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện, dễ di vào
cuộc sống: Trong tổ/Phòng /Ban Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT Trong ngành
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả
trong phạm vi rộng:
Trong tổ/Phòng /Ban Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT Trong ngành
Xếp loại chung: Xuất sắc Khá Đạt Không xếp loại
NGƯỜI THỰC HIỆN SKKN XÁC NHẬN CỦA TỔ THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
CHUYÊN MÔN
Lưu Thị Ngần Nguyễn Thị Ba Hoàng Thị Vân Nga
15