SKKN Một số biện pháp góp phần giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 2 - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT
PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 2”
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
Đổi mới giáo dục là một thử thách đối với giáo viên tiểu học,chúng ta cần phải
thay đổi quan niệm,điều chỉnh các phương pháp dạy học cho phù hợp để đạt được hiệu
quả giáo dục cao nhất, thực hiện thành công mục tiêu giáo dục của nội dung sách giáo
khoa mới.Công việc thực sự không đơn giản chút nào.Đối với phân môn Luyện từ và câu
cũng vậy là một phân môn mới đối với các em học sinh lớp 2 đã có một số bậc phụ huynh
nói với tôi rằng “Phân môn Luyện từ khó quá, tôi dạy mãi mà cháu không hiểu”.Là một
giáo viên đã dạy nhiều năm ở lớp 2 khi dạy phân môn Luyện từ và câu tôi cũng nhận thấy
nội dung chương trình phân môn này tương đối khó đối với nhận thức của các em. Bởi vì
các em còn hạn chế về vốn sống,vốn hiểu biết về Tiếng Việt.Làm thế nào để nâng cao
chất lượng phân môn này đó là điều tôi băn khoăn trăn trở.Tôi nghĩ rằng nếu đòi hỏi tất
cả các em học tốt trong ngày một ngày hai là điều không thể thực hiện ngay được. Đúng
như nhà giáo dục J. A. Komes đã từng nói: “Mọi điều đều phải tiến hành theo một trình
tự liên tục sao cho tất cả những điều có hôm nay phải củng cố cái hôm qua và mở ra con
đường cho ngày mai. ” Chính vì những lí do trên tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “
Một số biện pháp góp phần giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu - lớp 2”.
II. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của đề tài:
+ Xác định một số nguyên nhân, học sinh chưa học tốt phân môn Luyện từ và câu
+ Trên cơ sở đã đề xuất một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ và
câu lớp2
III. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài này, tôi đã tập trung vào một số nhiệm
vụ nghiên cứu như sau:
+ Cơ sở lý luận của đề tài.
+ Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân dẫn đến học sinh học chưa tốt phân môn

phát huy năng lực sở trường của mình, biết áp dụng kiến thức mới trong bài học vào thực
tế dời sống xã hội.
Phân môn luyện từ và câu là một phân môn không thể thiếu của chương trình tiểu
học. bởi vậy giáo viên phải tổ chức hướng dẫn học sinh hoạt động dưới sự trợ giúp của
dụng cụ, đồ dùng học tập để từng học sinh hoặc từng nhóm học sinh phát hiện và chiếm
lĩnh nội dung học tập rồi thực hành vận dụng nội dung đó.

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC:
a, Về phía giáo viên
Trong thực tế giảng dạy mà đặc biệt là qua những lần thao giảng ở trường của bản
thân tôi nhận thấy: Các hình thức tổ chức hoạt động học tập trong giờ học LT&C còn
đơn điệu. Một số giáo viên tổ chức dạy theo vở bài tập từ đầu đến cuối. Tức là hướng
dẫn học sinh lần lượt làm các bài tập ở vở theo trình tự và hình thức như nhau. ( chủ
yếu là làm việc cá nhân) .
-Cũng có nhiều giáo viên đã biết thay đổi các hình thức cá nhân, nhóm, lớp cho các
bài tập trong một tiết dạy nhưng nhìn chung việc vận dụng chưa đem lại hiệu quả cao.
- Đối với dạy LTVC nhiều GV chưa tạo cho HS sự chủ động , tích cực trong việc
huy động các kiến thức và kinh nghiệm sử dụng tiếng mẹ đẻ vào việc chiếm lĩnh kiến
thức mới của bài học khiến giờ học trở nên nặng nề.
Sở dĩ có tình trạng trên là do bản thân cũng như một vài đồng chí giáo viên chưa thấy hết
ý nghĩa, tầm quan trọng của giờ học Luyện từ và câu.
b, Về phía học sinh
Các em học sinh lớp 2 đa số có vốn sống còn ít, vốn hiểu biết về Tiếng Việt còn rất
sơ sài, chưa định rõ trong giao tiếp, viết câu còn cụt lủn hoặc câu có thể có đủ ý nhưng
chưa có hình ảnh. Các từ ngữ được dùng về nghĩa còn chưa rõ ràng. Việc trình bày , diễn
đạt ý của các em có mức độ rất sơ lược. Mặt khác, do thực tế học sinh mới được làm
quen với phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2 nên học sinh còn nhiều bỡ ngỡ, chưa có
phương pháp học tập bộ môn một cách khoa học và hợp lý.
CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHÂN MÔN
LUYỆN TỪ VÀ CÂU.

Và nguồn cơ bản của dạy từ cần được xem là kinh nghiệm sống của cá nhân HS và
những quan sát thiên nhiên, con người, xã hội của các em.Việc làm giàu vốn từ, dạy từ
phải gắn với đời sống, gắn với việc làm giàu những biểu tượng tư duy, bằng con đường
quan sát trực tiếp và thông qua những mẫu lời nói. Phải thiết lập được quan hệ đúng đắn
giữa hình ảnh bằng lời (từ ngữ) với những biểu tượng của trẻ em về đối tượng. Mọi quy
luật cấu trúc và hoạt động của từ và câu chỉ được rút ra trên cơ sở nghiên cứu lời nói sinh
động, những kinh nghiệm lời nói và kinh nghiệm sống đã được bổ sung. Các bài tập
Luyện từ và câu phải được xây dựng dựa trên kinh nghiệm ngôn ngữ của HS.Việc dạy
học Luyện từ và câu phải bảo đảm sự thống nhất giữa lí thuyết ngữ pháp và thực hành
ngữ pháp với mục đích phát triển các kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ: việc phân tích từ, câu
không có mục đích tự thân mà là phương tiện để nhận diện các phương tiện ngữ pháp,
nắm chức năng của chúng, từ đó sử dụng chúng trong lời nói. Chương trình hướng đến
gắn lí thuyết với thực hành. Trên quan điểm thực hành, các tác giả SGK đã chọn những
giải pháp ngôn ngữ có nhiều lợi thế nhất trong sử dụng tiếng mẹ đẻ. Đối chiếu nội dung
từng khái niệm ngữ pháp được dạy ở Tiểu học với các khái niệm được trình bày trong các
giáo trình Việt ngữ học, ta thấy rằng nội dung những khái niệm ở Tiểu học như từ, câu
đều được đưa ra ở dạng đơn giản nhất.
Chương trình nặng về thực hành nên bên cạnh hệ thống khái niệm được trình bày một
cách đơn giản lại rất chú trọng dạy hệ thống quy tắc ngữ pháp. Quy tắc ngữ pháp là
những điều phải tuân theo để tạo nên những đơn vị ngữ pháp cụ thể nhằm thực hiện
nhiệm vụ giao tiếp (nói, viết) nào đó. Hệ thống quy tắc ngữ pháp giúp HS chuyển từ nhận
thức sang hành động. Ví dụ, liên quan đến các khái niệm câu có các quy tắc chính tả, dấu
chấm câu,viết hoa chữ cái đầu câu, quy tắc nói, đọc: nói, đọc hết câu phải nghỉ hơi,đọc
đúng giọng điệu phù hợp với các kiểu câu chia theo mục đích nói. Liên quan đến danh từ
riêng có quy tắc viết hoa tên riêng
2. Nguyên tắc tích hợp
Không có vốn từ phong phú, không hiểu nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ thì
không thể đặt câu đúng, đồng thời, nếu không nắm vững quy tắc đặt câu thì dù có vốn từ
phong phú, dù nắm chắc nghĩa của từ vẫn không trình bày được ý kiến của mình một
cách đúng đắn, mạch lạc, rõ ràng. Vì vậy luyện từ và luyện câu không thể tách rời. Bên

tiện tác động lên các giác quan. Thực hiện nguyên tắc trực quan trong việc dạy nghĩa từ
là cần làm sao trong giải nghĩa, việc tiếp nhận của HS không phiến diện mà hình thành
trên cơ sở của sự tác động qua lại của những cảm giác khác nhau: nghe, nhìn, phát âm,
viết. Giai đoạn đầu, khi giới thiệu cho HS một từ mới, một mặt cần phải đồng thời tác
động bằng cả kích thích vật thật và bằng lời. Mặt khác HS cần nghe, nhìn, phát âm và
viết từ mới, đồng thời phải để HS nói thành tiếng hoặc nói thầm điều các em quan sát
được. Giáo viên cần giúp các em biểu thị thành lời, thành từ ngữ tất cả những gì đã quan
sát. Vì vậy, quán triệt nguyên tắc trực quan, ở một khía cạnh nào đó cũng đồng thời đã
tuân thủ nguyên tắc thực hành. Đối tượng nghiên cứu của Luyện từ và câu là từ ngữ, câu,
thành phần câu v.v Do đó, bên cạnh biểu bảng, sơ đồ, vật thật, tranh vẽ như người ta
vẫn thường quan niệm về đồ dùng trực quan trong giờ học, trực quan trong giờ dạy
Luyện từ và câu còn được hiểu là sử dụng những ngữ liệu (lời nói) trực quan - những bài
văn, những câu, những từ.
Ngoài các nguyên tắc chung, trong dạy học Luyện từ và câu còn có những nguyên tắc đặc
thù. Đó là nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống của từ, câu trong dạy học Luyện từ và câu
và nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất giữa nội dung và hình thức ngữ pháp trong dạy
học Luyện từ và câu.
4. Nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống của từ, câu trong dạy học Luyện từ và câu
Những thành tựu nghiên cứu trong Ngôn ngữ học về bản chất nghĩa của từ,cấu tạo
từ, các lớp từ, bản chất cấu tạo của câu, các kiểu câu, liên kết câu là cơ sở để dạy các bài
lí thuyết về từ, câu. Chúng ta cần nắm được và cho học sinh từng bước làm quen với các
khái niệm nghĩa của từ, tính nhiều nghĩa,đồng nghĩa, trái nghĩa, cấu tạo câu, các kiểu câu.
Mặt khác, dựa vào kiến thức từ vựng học, người ta đã xác lập những nguyên tắc để dạy từ
theo quan điểm thực hành, hay nói cách khác, làm giàu vốn từ cho học sinh. Dạy từ nhất
thiết phải tính đến đặc điểm của từ như một đơn vị ngôn ngữ: quan hệ trực tiếp của từ với
thế giới bên ngoài. Việc dạy từ cần phải trình bày như là việc thiết lập quan hệ giữa từ và
các yếu tố của hiện thực, quan hệ giữa từ với một lớp sự vật cùng loại được biểu thị bởi
từ. Đó là hai mặt hình thức và nội dung của tín hiệu từ. Hai mặt này gắn chặt với nhau,
tác động lẫn nhau. Phải làm cho học sinh nắm vững hai mặt này và mối tương quan giữa
chúng. Học sinh vừa phải thiết lập được mối quan hệ của các từ với sự vật, một lớp sự

thống, bởi vì đó là bản chất của khái niệm, lẽ sống còn của nó. Nhưng nội dung ngữ pháp
bao giờ cũng trừu tượng, nhất là đối với học sinh nhỏ. Ví dụ, những cách nói “danh từ chỉ
sự vật, hiện tượng”, “từ có nghĩa, tiếng có thể không có nghĩa”, v.v… rất khó nắm bắt,
nhận dạng. Đây là nguyên nhân gây ra những khó khăn của học sinh nhỏ trong quá trình
hình thành khái niệm. Để nắm bắt khái niệm ngữ pháp, cần có trình độ tư duy lôgic nhất
định. Quá trình hình thành khái niệm cũng đồng thời là quá trình học sinh nắm những
thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá và cụ thể
hoá. Hiệu quả của việc hình thành khái niệm phụ thuộc vào trình độ phát triển của hoạt
động trừu tượng của tư duy. Những học sinh gặp khó khăn trong việc tách ý nghĩa ngữ
pháp của từ ra khỏi ý nghĩa từ vựng của nó, không đối chiếu được từ và tập hợp chúng
trong một nhóm theo những dấu hiệu ngữ pháp bản chất sẽ gặp khó khăn trong việc hình
thành khái niệm và sẽ bị mắc lỗi. Để giảm bớt những khó khăn trên, đầu tiên chỉ để học
sinh nhận ra những dấu hiệu dễ nhận, đập vào trực quan của các em, lần sau sẽ hướng
vào những dấu hiệu mới, dần dần mở ra toàn bộ nội dung khái niệm. Mặt khác, trong dạy
học Luyện từ và câu, lúc nào cũng phải xác lập mối quan hệ giữa ý nghĩa và hình thức
ngữ pháp, phải luôn giúp học sinh nhận ra ý nghĩa và các dấu hiệu hình thức của hiện
tượng ngữ pháp được nghiên cứu và chức năng của nó trong lời nói. Mỗi nội dung ý
nghĩa đều có một hình thức tương ứng, nghĩa là nội dung được cố định lại trong một hình
thức nhất định và hình thức này có thể nắm bắt được. Khái niệm được lĩnh hội trong sự
thống nhất của nội dung và hình thức mới chắc chắn. Ví dụ, làm cho học sinh ý thức
được danh từ là toàn bộ các từ chỉ người, vật, sự vật, có dấu hiệu hình thức trả lời được
cho câu hỏi “Ai”, “Cái gì”, thường làm chủ ngữ trong câu đơn hai thành phần; động từ là
từ chỉ hoạt động, trả lời cho câu hỏi: “Làm gì”, thường làm vị ngữ trong câu đơn hai
thành phần; tính từ là toàn bộ các từ chỉ tính chất của sự vật, trả lời cho câu hỏi “Như thế
nào”; hình thức cấu tạo của từ và ý nghĩa của chúng, hình thức và ý nghĩa của câu, hình
thức và chức năng của các kiểu câu. Cần triệt để sử dụng các câu hỏi để phát hiện ra các
dấu hiệu hình thức của hiện tượng nghiên cứu, ví dụ câu hỏi xác định thành phần câu, câu
hỏi xác định từ loại.
6. Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học
- Việc dạy học đối với mỗi bài học là trách nhiệm của mỗi giáo viên, vì vậy chính giáo

- 1HS đọc yêu cầu.
- HS điền kết quả trên phiếu bài tập. (3 phút )
- GV thu chấm và nhận xét.
- GV giới thiệu thêm một số tranh về sông, suối, hồ.
Kết quả :
a)Sông .
b)Suối.
c)Hồ.
Bài 3 : Đặt câu hỏi cho phần in đậm trong câu sau:
Không được bơi ở đoạn sông này vì có nước xoáy.
- 1HS đọc yêu cầu.
- Gv hướng dẫn cách đặt câu hỏi.
- HS làm bài theo nhóm ( 4 - 6 em ) trong vòng 4 phút.
- Đại diện nhóm trình bày.
- GV nhận xét , chốt câu đúng và ghi bảng.
- HS đọc lại câu đúng.
Kết quả:
Vì sao không được bơi ở đoạn sông này.
Bài 4 : Dựa theo cách giải thích trong truyện Sơn Tinh , Thủy Tinh trả lời các câu
hỏi sau:
a) Vì sao Sơn Tinh lấy được Mị Nương?
b) Vì sao Thủy Tinh dâng nước đánh Sơn Tinh?
c) Vì sao ở nước ta có nạn lụt?
- 1 HS đọc yêu cầu.
- HS thảo luận theo nhóm cặp đôi trong vòng 4 phút .
- Một số nhóm trình bày theo hình thức đố bạn.
- Các nhóm khác nhận xét và bổ sung thêm.
Kết quả:
a) Sơn Tinh lấy được Mị Nương vì đem lễ vật đến trước.
b) Thủy Tinh dâng nước đánh Sơn Tinh vì muốn cướp lại Mị Nương.

- HS làm vào vở bài tập
Ví dụ 3: LTVC : ( tuần 12 )
Bài : MRVT : từ ngữ về tình cảm
Dấu phẩy
Bài 2 : Em chọn từ ngữ nào điền vào chỗ trống để tạo thành câu hoàn chỉnh ?
a) Cháu … ông bà .
b) Con …cha mẹ.
c) Em …anh chị.
- HS làm vào vở bài tập
Ví dụ 1: LTVC : (tuần 2 )
Bài : MRVT : từ ngữ về học tập
Dấu chấm hỏi
Bài 2 :Đặt câu với một từ vừa tìm được ở bài tập 1.
Ví dụ 2 : LTVC : (tuần 5 )
Bài : Tên riêng và cách viết tên riêng
Kiểu câu Ai là gì ?
Bài 3 : Đặt câu theo mẫu:
a) Giới thiệu về trường em.
b) Giới thiệu một môn học em yêu thích.
c) Giới thiệu làng ( xóm,bản, ấp, buôn, sóc, phố) của em.
Đối với những bài tập ở dạng trên tôi tổ chức cho học sinh làm miệng để đỡ mất thời
gian mà lớp học sôi nổi, đồng thời rèn luyện kĩ năng nghe, đánh giá nhận xét bài làm
của bạn.
b, Dạy học theo nhóm nhỏ:
Dạy học nhóm là hình thức xã hội của dạy học, trong đó học sinh của một lớp học
được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn
thành nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của
nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp.
Số lượng học sinh trong nhóm thường khoảng 4-6 học sinh. Nhiệm vụ của các nhóm có
thể giống nhau hoặc mỗi nhóm nhận nhiệm vụ khác nhau, là các phần trong chủ đề

quy định số lượng bài tập cần tiến hành trong giờ học. Có thể lựa chọn, lược bỏ, bổ sung
thêm bài tập của SGK. Khi giao bài tập cho học sinh, cần lưu ý để có sự phân hoá cho
phù hợp đối tượng: Có bài tập chỉ dành riêng cho học sinh khá, giỏi, còn với học sinh yếu
thì phải giảm mức độ yêu cầu của bài tập.
- Khi hướng dẫn học sinh làm bài tập, giáo viên phải nắm chắc trình tự giải bài tập.
Cần phải dự tính trước những khó khăn và những lỗi học sinh mắc phải khi giải bài tập để
sửa chữa kịp thời. Việc thực hiện bài tập cũng có nhiều hình thức: nói, đọc, viết hoặc nối,
tô, vẽ, đánh dấu. Có bài trả lời miệng, có bài viết, có bài gạch, đánh dấu trong Vở bài tập.
Bài tập cũng có thể thực hiện trên lớp hoặc ở nhà. Với những kiểu bài tập mới xuất hiện
lần đầu, giáo viên cần hướng dẫn thật chi tiết, tỉ mỉ. Khi hướng dẫn thực hiện, cần chia ra
thành các mức độ cho phù hợp với các đối tượng học sinh khác nhau, cần giúp những học
sinh yếu kém bằng những câu hỏi gợi mở. Trong quá trình tiến hành giải bài tập cần phải
tăng dần mức độ độc lập làm việc của học sinh. Giai đoạn đầu, bài tập được thực hiện
dưới sự hướng dẫn của thầy giáo, giai đoạn sau, học sinh tự độc lập làm việc là chính.
- Cuối cùng là bước kiểm tra, đánh giá. Đây là một việc làm quan trọng mà nhiều
giáo viên thường bỏ qua hoặc không chú ý đúng mức. Việc kiểm tra, đánh giá vừa kích
thích hứng thú học tập của học sinh, vừa cho học sinh một mẫu sản phẩm tốt nhất, giáo
viên cần dành thời gian thích hợp cho khâu này. Phải có mẫu lời giải đúng và dùng nó đối
chiếu với bài làm của học sinh. Với những bài làm sai, giáo viên không nhận xét chung
chung là sai mà phải dựa vào quy trình làm bài, chia ra từng bước nhỏ hơn để thực hiện,
từ đó chỉ rõ ra chỗ sai của HS một cách chi tiết, cụ thể để học sinh có thể sửa chữa được.
Phải biết cách chuyển từ một lời giải sai sang một lời giải đúng chứ không chỉ nói “Em
làm sai rồi” và chuyển sang gọi em khác. Như vậy khi chữa bài tập, giáo viên không chỉ
biết đánh giá đúng, sai mà phải cắt nghĩa được tại sao như thế là sai, tại sao như thế là
đúng, nghĩa là một lần nữa lặp lại quy trình giải bài tập khi có những học sinh làm chưa
đúng.
Ví dụ: Luyện từ và câu (Tuần 2)
Bài: MRVT: từ ngữ về học tập- Dấu chấm hỏi
Bài tập 3: Sắp xếp lại các từ trong mỗi câu dưới đây để tạo thành một câu mới:
- Bác Hồ rất yêu thiếu nhi.

- Rèn tác phong nhanh nhẹn, luyện trí thông minh và cách ứng xử nhanh.
B. Chuẩn bị:
Bảng phụ hoặc giấy nháp
C. Cách tiến hành
- Trò chơi có từ 2- 4 nhóm, mỗi nhóm có từ 3- 4 học sinh tham gia.
- Sau khi giải nghĩa từ ngữ được dùng để gọi tên chủ đề.
(VD: Đồ dùng học tập là những dụng cụ của cá nhân dùng để học tập; vật nuôi là
những con vật nuôi trong nhà), Giáo viên (người dẫn trò) nêu yêu cầu:
+ Hãy kể ra những từ gọi tên đồ dùng học tập (hoặc những từ nói về tình cảm gia
đình).
+ Từng nhóm ghi lại những từ đó vào bảng phụ (đã được chia theo số lượng nhóm),
hoặc ghi vào giấy nháp để đọc lên. Thời gian viết khoảng 2- 3 phút.
+ Mỗi từ viết đúng được tính 1 điểm; mỗi từ viết sai bị trừ 1 điểm; nhóm nào có số
điểm cao nhất sẽ đứng ở vị trí số 1, các nhóm khác dựa theo số điểm để xếp vào các vị trí
2, 3, 4
Chú ý: Trò chơi này có thể được sử dụng ở các bài luyện từ và câu:
- Trong sách giáo khoa TV 2, tập 1:
+ Kể tên các môn em học ở lớp 2 (tuần 7, T59).
+ Hãy kể tên những việc em đã làm ở nhà giúp cha mẹ (tuần 13, T108).
+ Tìm những từ chỉ đặc điểm của người và vật (tuần 15, T122).
+ Viết tên các con vật trong tranh (tuần 16, T134).
- Trong sách giáo khoa TV 2, tập 2:
+ Nói tên các loài chim trong tranh (tuần 22, T35).
+ Tìm các từ ngữ có tiếng "biển" (tuần 25, T 64).
+ Kể tên các con vật sống ở dưới nước (tuần 26, T74).
+ Kể tên các loài cây (tuần 28, T87)
+ Tìm những từ ngữ chỉ nghề nghiệp (tuần 33 T129);
2. Trò chơi: Thi ghép tiếng thành từ.
A. Mục đích:
- Mở rộng vốn từ bằng cách ghép tiếng.

A. Mục đích:
- Rèn kĩ năng nói, viết câu đúng mẫu: Ai là gì? có sự tương hợp về nghĩa giữa thành
phần chủ ngữ và thành phần vị ngữ.
- Luyện óc so sánh, liên tưởng nhanh, tác phong nhanh nhẹn.
B. Chuẩn bị :
- Giáo viên chuẩn bị một số từ ngữ (danh từ, ngữ danh từ) phù hợp với đối tượng học
sinh lớp 2, phục vụ cho việc dạy các bài tập đặt câu theo mẫu Ai là gì? trong sách giáo
khoa TV2
C. Cách tiến hành :
- Những người chơi chia thành từng cặp (2 người) hoặc thành 2 nhóm (A; B) Người
thứ nhất hoặc học sinh ở nhóm thứ nhất nêu vế đầu.
(VD: Học sinh) ; người thứ 2 (hoặc học sinh ở nhóm thứ 2) nêu vế thứ (VD: Là
người đi học). Sau đó 2 người (hoặc 2 nhóm) đổi lượt cho nhau. Người nào (hoặc nhóm
nào) không nêu được sẽ bị trừ điểm. Hết giờ chơi, ai hoặc nhóm nào được nhiều điểm
hơn sẽ thắng cuộc.
* Chú ý: Các kiểu mẫu câu khác (Ai làm gì? Ai thế nào?) có thể tiến hành tương
tự.
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ
Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn thay đổi phù hợp các hình thức dạy học trong
mỗi bài tập, mỗi tiết dạy. Kết quả thu được là các em tiếp thu bài tốt, phát huy tính tích
cực, chủ động sáng tạo của học sinh , giúp các em học tập một cách tự nhiên, nhẹ nhàng
và hiệu quả. Chất lượng học sinh học môn Tiếng Việt nâng lên rõ rệt. Câu văn của các
em ít có từ dùng sai hơn. Đặc biệt rèn kĩ năng nói, diễn đạt của các em rất mạch lạc,
phong phú, tự nhiên. Nhiều câu văn hay, từ ngữ gây sự bất ngờ thú vị, có sức gợi cảm
lớn. Điều đó chứng tỏ vốn từ của các em được nâng lên, các em biết sử dụng vốn từ một
cách hợp lý hơn, sinh động hơn. Sau mỗi giờ học gây được sự sảng khoái ham thích học
tập.
Để có kết quả, tôi tiến hành khảo sát tại lớp mà tôi được phân công giảng dạy kết
quả điểm phân môn Tiếng Việt (đọc) đạt được như sau:
Năm học TSHS ĐIỂM GIỎI ĐIỂM KHÁ ĐIỂM TB ĐIỂMYẾ

chương trình tiểu học thì bản thân người giáo viên phải yêu thích môn Tiếng việt và đặc
biệt là phân môn Luyện từ và câu.Ngoài ra, người giáo viên cần phải trau dồi thêm kiến
thức, luôn học hỏi, dự giờ chuyên đề của các đồng nghiệp, từ đó lựa chọn nội dung và
phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh.
2, Ý kiến đề xuất:
-Đối với trường: Tăng cường tranh ảnh để phục vụ dạy và học phân môn Luyện từ và
câu
-Đối với PGD:Nên mở chuyên đề phân môn Luyện từ và câu lớp 2 trong Huyện để
chúng tôi học hỏi, rút kinh nghiệm ở trường khác để nâng cao chất lượng dạy học phân
môn Luyện từ và câu ngày càng cao hơn.
3, Kết luận:
Chương trình phân môn Luyện từ và câu lớp 2 thực chất là thông qua các bài tập
thực hành tổng hợp về tiếng Việt giúp học sinh củng cố, bổ sung kiến thức (ngôn ngữ,
đời sống), rèn kĩ năng(nói, viết), qua đó nâng cao năng lực tư duy,giáo dục tư tưởng, tình
cảm và mĩ cảm cho các em. Với nhiệm vụ trọng tâm đó mỗi người giáo viên phải xác
định lựa chọn hình thức và phương pháp dạy học sao cho phù hợp với từng bài, từng nội
dung cụ thể và tình hình thực tế của lớp, của trường để các em tiếp thu một cách tốt nhất.
Đối với việc dạy học phân môn Luyện từ và câu, nếu giáo viên thực hiện tốt các phương
pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh sẽ giúp các em phát huy cao
độ trí tuệ, cảm xúc, sự năng động, sáng tạo trong học tập và trong giao tiếp.
Trên đây là sáng kiến nhỏ mà tôi đã áp dụng để dạy phân môn Luyện từ và câu ở
lớp Hai.
Đề tài của tôi hoàn thiện nhờ sự giúp đỡ đắc lực của Ban giám hiệu và các đồng
nghiệp trường tiểu học Tân Hiệp. Rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đọc.
Xin chân trọng cảm ơn!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status