skkn Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn Luyện từ và câu trường tiểu học Hoàng nam - Pdf 25

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1. Lý do chọn đề tài: 2
2. Mục đích , nhiệm vụ : 2
3. Phạm vi và đối tượng : 3
4 . Phương pháp : 3
NỘI DUNG 4
Chương 1: Cơ sở lý luận 4
1. Cơ sở lý luận: 4
2. Mục tiêu của môn Tiếng việt lớp 2 nói riêng và phân môn Luyện từ và câu nói chung:
4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 6
1. Thực trạng của việc dạy Luyện từ và câu: 6
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP 8
1. Một số phương pháp dạy Luyện từ và câu có hiệu quả 8
1.1 Phương pháp tích cực : 8
1.2 Phương pháp đàm thoại : 8
1.3 Phương pháp trình bày trực quan : 8
1.5 Phương pháp dạy học nêu vấn đề ( hay còn gọi là phương pháp đặt và giải quyết vấn
đề ): 8
1.7 Phương pháp trò chơi : 9
2.1. Biện pháp thứ nhất: Chän ph¬ng ph¸p khi d¹y ph©n m«n LuyÖn tõ vµ c©u 9
2.3. Biện pháp thứ ba: Chú trọng dạy học sinh nắm nghĩa của từ 16
2.4 Biện pháp thứ tư: Hướng dẫn học sinh luyện tập sử dụng từ 18
2.5. Biện pháp thứ năm: Phối kết hợp các hình thức hoạt động khi dạy luyện từ cho học
sinh: 19
2.6. Biện pháp thứ sáu: Tổ chức một số trò chơi về luyện từ 20
3. Thực nghiệm: 22
4. Kết quả: 25
KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 28

này với mong muốn đưa ra một số kinh nghiệm để trao đổi với các bạn đồng
nghiệp qua đề tài:“ Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn
Luyện từ và câu ”.
2. Mục đích , nhiệm vụ :
- Hình thành cho các em phương pháp học bộ môn
- Nắm được các dạng bài và cách làm từng dạng bài.
- Giáo dục học sinh cảm nhận cái hay cái đẹp của thơ văn qua từng bài cụ
thể.
- Nêu được vai trò, nhiệm vụ xây dựng cơ sở lí luận của đề tài.
- Tìm hiểu thực trạng dạy- học Luyện từ và câu lớp 2.
2
- Đề xuất một số biện pháp để thấy rõ việc dạy tốt Luyện từ và câu là góp
phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh.
3. Phạm vi và đối tượng :
Xây dựng một số biện pháp dạy học nhằm nâng cao việc luyện từ cho học sinh
lớp 2B – Trường Tiểu học Hương sơn C.
4 . Phương pháp :
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
- Phương pháp khảo sát thực tế.
- Phương pháp so sánh đối chiếu.
- Phương pháp thực nghiệm.
3
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận
1. Cơ sở lý luận:
Phân môn Luyện từ và câu rất chú trọng việc luyện tập và thực hành.
Qua đó học sinh được mở rộng vốn từ, củng cố vốn từ theo cách vận dụng lý
thuyết trường nghĩa (từ được mở rộng theo trường nghĩa biểu vật, biểu hiện, liên
tưởng…).
Cách xây dựng chương trình thể hiện rõ sự đổi mới, phát huy được tính

Bồi dưỡng cho học sinh dùng từ đúng, nói và viết thành câu, thích học
Tiếng Việt.
Khi đã tìm hiểu và xác định đúng mục đích, yêu cầu của môn học, bài học,
tôi lựa chọn phương pháp dạy phù hợp với nội dung từng bài và phù hợp với
đối tượng học sinh của lớp mình.
5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Thực trạng của việc dạy Luyện từ và câu:
Để có tiết học trên lớp đạt kết quả tốt đã khó nhưng để đạt một tiết
Luyện từ và câu còn khó hơn nhiều. Học sinh lớp 2 mới được làm quen với phân
môn này nên sẽ có rất nhiều yếu tố khiến các em phải quan tâm.
Nếu là tiết học bao gồm cả 2 phần mở rộng vốn từ và luyện dùng từ đặt
câu thì tương đối phức tạp. Giáo viên phải làm chủ nội dung bài giảng, lựa chọn
các phương pháp giảng dạy sao cho thật linh hoạt . Trong đó vấn đề quan trọng
là lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học hiệu quả để phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
Qua kinh nghiệm, tôi nhận thấy việc học và làm bài tập Luyện từ và câu
của học sinh có nhược điểm sau:
- Về Từ : Học sinh tìm còn sai yêu cầu, số lượng ít, hiểu nghĩa từ còn mơ
hồ, phát hiện từ loại chậm
- Về Câu : Đặt câu chưa rõ nghĩa, tìm bộ phận trả lời của câu theo mẫu
còn thừa hoặc thiếu, sử dụng dấu câu chưa thành thạo .
Cụ thể chất lượng khảo sát đầu năm của lớp do tôi chủ nhiệm như sau:
Tổng số học sinh: 35 em
Số học sinh chú ý nghe giảng: 23 em
Số học sinh chưa chú ý nghe giảng: 9 em
Số học sinh chỉ biết cách làm bài tập theo mẫu cơ bản: 10 em
Số học sinh có sáng tạo: 7 em
Số học sinh nhận thức chậm: 5 em
2 Nguyên nhân

yếu thông qua các bài tập thực hành, giúp học sinh phát hiện, lĩnh hội kiến thức
và rèn luyện kỹ năng. Nội dung rèn luyện về từ, câu được xây dựng thông qua 4
loại bài tập cơ bản sau:
• Loại bài tập giúp học sinh mở rộng vốn từ theo chủ đề.
• Loại bài tập giúp học sinh nắm nghĩa các từ.
• Loại bài tập giúp học sinh quản lý, phân loại vốn từ.
• Loại bài tập giúp học sinh luyện tập sử dụng từ.
Nội dung các kiến thức Tiếng Việt được xây dựng theo quan điểm tích
hợp. Các phân môn của môn Tiếng Việt có liên quan chặt chẽ với nhau ,xoay
quanh trục chủ điểm và các bài đọc. Như vậy ,từ việc đi sâu nghiên cứu chương
trình SGK, người giáo viên cần nắm chắc đặc điểm của chương trình để có
phương pháp dạy thích hợp, mang lại hiệu quả cao nhất.
Ví dụ: Đối với các bài tập giúp học sinh mở rộng vốn từ thì nội dung các
từ được mở rộng có liên quan đến các bài học trong tuần theo chủ điểm. Nắm
được điều này, khi dạy các phân môn Tập đọc, Chính tả… giáo viên chú ý đi sâu
phát hiện từ của chủ điểm để kết hợp giảng giải ,giúp học sinh khi mở rộng vốn
từ về chủ điểm sẽ thuận lợi hơn.
7
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP
1. Một số phương pháp dạy Luyện từ và câu có hiệu quả.
1.1 Phương pháp tích cực :
Phương pháp này có những dấu hiệu rất đặc trưng, đó là dạy học thông
qua cách tổ chức các hoạt động cho học sinh. Các em là chủ thể hoạt động học
tập, giáo viên tổ chức chỉ đạo. Từ đó học sinh tự lực khám phá những điều chưa
biết, không thụ động tiếp thu những kiến thức đã sắp đặt trước. Dạy học theo
cách này không chỉ cung cấp tri thức mà còn hướng dẫn học sinh hành động và
luôn chú trọng vào luyện phương pháp tự học.
1.2 Phương pháp đàm thoại :
Giáo viên đặt ra một hệ thống câu hỏi để học sinh lần lượt trả lời, đồng
thời có thể trao đổi qua lại giữa giáo viên và học sinh hay giữa học sinh với nhau

Điểm mạnh của các phương pháp này là giúp học sinh có trách nhiệm
cao hơn với việc học tập của mình và với việc học tập của các bạn trong cùng
lớp. Học sinh cùng học với nhau đem lại kết quả học tập nhiều hơn khi học một
mình. Khuyến khích học sinh yếu bền bỉ và giúp học sinh khá nhận ra lỗ hổng
kiến thức của mình để tự tìm cách lĩnh hội.
Trên đây là một số phương pháp điển hình, ngoài ra còn có rất nhiều
phương pháp có thể sử dụng được trong giờ dạy mà tôi đó ỏp dụng như: Diễn
giải, thảo luận, tổng hợp rút ra kết luận …
2. Một số biện pháp cụ thể:
Sau đây là một số việc làm mà tôi vẫn thường sử dụng trong tiết Luyện từ và
câu:
2.1. Biện pháp thứ nhất: Chän ph¬ng ph¸p khi d¹y ph©n m«n LuyÖn tõ vµ
c©u.
Để tiết dạy thực sự đạt hiệu quả thì mỗi một bước lên lớp tôi
luôn lựa chọn
phương pháp sao cho vừa phù hợp với nội dung bài lại vừa phù
hợp với từng đối tượng học sinh. Cụ thể , tôi đã tiến hành như
sau:
2.1.1. Hoạt động kiểm tra bài cũ.
- Hình thức kiểm tra: cá nhân, 1 số học sinh, cả lớp…
- Phương pháp: Hỏi đáp (giáo viên nêu câu hỏi – học sinh trả lời, 1 học
sinh hỏi – 1 học sinh trả lời).
- Giải bài tập: Tự tìm ví dụ minh họa.
- Trò chơi: Tiếp sức, thi đố chữ, thi tìm từ, (cụm từ, thành ngữ…)
- Giải quyết tình huống.
Ví dụ:
Tuần 8: Điền các từ chỉ hoạt động vào chỗ trống (câu viết bảng phụ).
Giáo viên chọn 2 đội chơi, mỗi đội 4 em tham gia trò chơi tiếp sức, mỗi học sinh
tìm 1 từ sau đó chuyển phấn cho bạn phía sau, liên tiếp đến hết.
* Thầy Hải ….môn Thể dục

và đặc điểm của một số loài chim có trong băng hình. Xếp tên các loài chim đó
vào nhóm thích hợp.
Giáo viên hỏi tiếp: Ở bài tập này các con vừa làm như thế nào? Học sinh
trả lời: Xếp tên các loài chim vào nhóm thích hợp. Đây chính là nội dung thứ
nhất của bài hôm nay :Mở rộng vốn từ về chim chóc
2.1.3. Cung cấp kiến thức mới.
Một số phương pháp hay dùng : Nêu vấn đề ,gợi mở, phát hiện vấn đề,
đàm thoại, trình bày trực quan, Học sinh làm việc độc lập, dạy học theo nhóm,
tổng hợp rút ra kết luận …
Mục đích: nhằm cung cấp cho học sinh kiến thức về từ loại, câu, dấu
câu.
* Về vốn từ: Ngoài những từ được dạy qua các bài tập đọc, những thành
ngữ được cung cấp qua các bài Tập viết, ở tiết Luyện từ và câu học sinh được
học theo hệ thống các từ ngữ qua từng chủ điểm.
- Đơn vị thời gian (ngày, tháng, năm học, …)
- Đơn vị hành chính (xã (phường), huyện (quận)), tỉnh (thành phố), )
- Đồ dùng học tập ( bút, thước, )
- Việc nhà ( nấu cơm, quét nhà, gấp quần áo, )
- Họ hàng (ông, bà , cô, dì, chú , bác, )
- Vật nuôi ( lợn, gà, mèo, )
Ví dụ:
Tuần 10: Tìm những từ chỉ người trong gia đình, họ hàng ở câu chuyện
“Sáng kiến của bé Hà”
Mục đích, yêu cầu: Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ chỉ người trong gia
đình, họ hàng.
Phương pháp: Tích cực – Học sinh tự lực khám phá điều chưa biết.
10
- Học sinh phát biểu ý kiến: Giáo viên ghi nhanh lên bảng.
- Lớp – giáo viên nhận xét, chốt ý kiến đúng (Ông , bà, bố, mẹ, cô, dì,
chú, bác, …)

Long, Ba Vì, …)
- Học sinh tự nêu được kết luận: Tên riêng của sông , núi, thành phố, học
sinh - được viết hoa.
Luyện tập thực hành: học sinh tự viết họ và tên mình, tên một vài bạn
trong lớp, tên sông hồ ở địa phương… Có ý thức viết hoa tên riêng trong các
trường hợp.
* Về kiểu câu: Nhận ra và biết đặt các kiểu câu đơn theo mẫu Ai là gì? Ai
làm gì? Ai thế nào?
Ví dụ:
Tuần 13 (mẫu câu: Ai làm gì?)
Bài tập 3: Chọn và xếp các từ ở 3 nhóm sau thành câu.
Mục đích, yêu cầu: Dùng từ đặt câu, luyện kĩ năng đặt câu theo mẫu.
Phương pháp: Hoạt dộng nhóm, thực hành (làm mẫu, luyện tập),
trò chơi, …
- 1 học sinh phân tích mẫu: Em/ quét dọn nhà cửa.
11
Ai làm gì?
- Hoạt động nhóm: (học sinh trao đổi nhóm đôi) hãy nối các từ ở 3 nhóm
đã cho thành câu đúng theo mẫu Ai làm gì?
- Chữa chéo giữa các nhóm, giáo viên cùng các nhóm khác nhận xét đánh
giá.
Ví dụ: Tuần 16 :Bài tập 2 ( mẫu câu Ai thế nào?): Chọn 1 cặp từ trái
nghĩa ở bài tập 1(Học sinh đã được cung cấp), đặt câu với mỗi từ trong cặp từ
trái nghĩa đó Mục đích, yêu cầu: Biết dùng những từ trái nghĩa là tính từ để đặt
câu đơn giản theo mẫu: Ai thế nào?
Phương pháp: Trò chơi hoạt động nhóm.
- Chia lớp thành nhóm nhỏ (4 – 6 nhóm): Mỗi nhóm được phát 1 bảng
nhóm thì đặt câu với các từ trái nghĩa, nhóm nào đặt nhiều câu đúng yêu cầu sẽ
thắng.
- Các bạn trong nhóm đóng góp ý kiến.

12
2.1.5. Củng cố dặn dò:
Mục đích, yêu cầu: Chốt lại những kiến thức và kỹ năng cần nắm vững ở
bài luyện tập. Nêu yêu cầu luyện tập thực hành ở nhà.
Phương pháp: Trò chơi, sắm vai thể hiện tình huống, thi tìm từ ngữ theo
nội dung bài học
Ví dụ:Tuần 5: Củng cố có 2 phần: Viết hoa tên riêng và mẫu câu Ai là gì?
Giáo viên lồng ghép trò chơi thi đặt các câu theo mẫu Ai là gì? trong đó có giới
thiệu về trường em, giới thiệu bạn bè trong lớp …
Trường em là trường Hương sơn C
Bạn Nam là lớp trưởng lớp em.
Trường Hương sơn C là ngôi trường em yêu.
2.2 Biện pháp thứ hai: Chú trọng dạy học sinh mở rộng vốn từ
Hệ thống từ ngũ cung cấp cho học sinh chủ yếu được dạy dưới dạng các
bài tập thưc hành .Học sinh có kỹ năng nắm nghĩa của từ, mở rộng từ ,sử dụng
từ tất cả chỉ hình thành và phát triển thông qua quá trình luyện tập. Khi dạy
cho học sinh mở rộng vốn từ, tôi chú trọng một số việc sau đây:
2.2.1. Mở rộng vốn từ qua tranh vẽ:
Đối với học sinh, ngay từ khi bước đến trường, các em đã biết một số
lượng từ trong giao tiếp hàng ngày. Mục đích của dạy Tiếng Việt là khai thác
vốn từ có sẵn của các em và mở rộng, hệ thống hóa các từ ngữ ở các chủ điểm
khác nhau. Do vậy loại bài tập mở rộng vốn từ chiếm tỉ lệ khá cao so với các
loại bài tập khác.
Tranh vẽ là loại thiết bị tạo hình, có tác dụng làm chỗ dựa cho việc tìm
từ, mở rộng vốn từ của học sinh, nhất là đối với học sinh lớp 2, mở rộng vốn từ
qua tranh vẽ giúp các em dễ nắm bắt nghĩa của từ và mở rộng từ một cách có hệ
thống.
VD1: Bài LTVC – Tuần 1: Chọn tên gọi cho mỗi người, mỗi vật, mỗi
việc trong các tranh vẽ (học sinh, cô giáo, xe đạp, nhà trường…)
VD2: Bài LTVC – Tuần 13: Dựa vào tranh trả lời các câu hỏi (tìm từ chỉ

• Một quyển truyện.
Như vậy giáo viên hướng dẫn học sinh loại bỏ những từ chưa đúng là “ làm
bài, học bài” và chỉ còn lại từ “đọc, xem ”
VD 8: Bài LTVC – Tuần 6: Tìm các đồ dùng học tập ẩn trong tranh và cho biết
các đồ vật ấy dùng để làm gì?
VD 9: Bài LTVC- Tuần 11: Tìm các vật ẩn trong bức tranh và cho biết
mỗi vật đó dùng để làm gi?
Các vật vẽ trong tranh chưa rõ ràng .Để tìm được từ chỉ các đồ vật đó
đòi hỏi phải quan sát kĩ mới nhận biết được. Khi dạy, ngoài tranh vẽ in trong
SGK, giáo viên phóng to bức tranh này treo trên bảng để học sinh tiện quan sát.
Cũng có trường hợp khi học sinh tìm không đủ số lượng đồ vật có trong tranh,
giáo viên nêu rõ số lượng vật đó để các em tự tìm thêm. Đồng thời giáo viên
cũng cần chuẩn bị một bức tranh như vậy nhưng các đồ vật đã được tô màu khác
nhau để các em nhận diện rõ hơn về các đồ vật và học sinh sẽ khắc sâu hơn về
các từ ngữ này.
2.2.2 Mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa:
* Tìm từ ngữ cùng chủ điểm
VD1: Bài LTVC – Tuần 1: Tìm các từ chỉ:
- Đồ dùng học tập (mẫu: bút…)
- Chỉ hành động của học sinh (mẫu: đọc…)
- Chỉ tính nết của học sinh ( mẫu: chăm chỉ…)
: Bài LTVC – Tuần 14: Tìm từ nói về tình cảm yêu thương giữa anh chị
em.
VD3: Bài LTVC – Tuần 30:
• Tìm từ nói về tình cảm của Bác Hồ với thiếu nhi (mẫu: yêu thương….)
• Tìm từ nói về tình cảm của thiếu nhi với Bác Hồ (mẫu: biết ơn…)
VD4: Bài LTVC – Tuần 14: Kể tên các loài cây mà em biết theo nhóm
14
Cây lương thực,
thực phẩm

Dạng bài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo từ có nghĩa là dựa vào
một yếu tố cấu tạo từ cho sẵn, tìm những từ có cùng yếu tố cấu tạo và cùng kiểu
cấu tạo. Bài tập dạng này có tác dụng rất lớn trong việc giúp học sinh phát triển
mở rộng vốn từ. Trong SGK, dạng bài tập này được đưa ra dưới hình thức cho
sẵn một từ ,sau đó cho ghép thêm vào trước hoặc sau đó một tiếng để tạo thành
từ mới hoặc cho các tiếng, sau đó ghép hai tiếng lại với nhau để tạo thành từ.
VD1: Tìm các từ :
- Có tiếng “ học” ( mẫu: học hành)
- Có tiếng “ tập” ( mẫu: tập đọc)
VD2: Bài LTVC - Tuần 12: Tìm các từ ngữ có tiếng biển ( mẫu: biển cả,
tàu biển )
VD3: Bài LTVC – Tuần 12: Ghép các tiếng sau thành từ có hai tiếng: yêu
thương, quý mến ( mẫu: yêu mến, yêu quý )
Khi dạy dạng bài tập này, ở VD1, tôi hướng dẫn học sinh dựa vào mẫu
cho sẵn trong SGK để tìm các từ có cùng kiểu cấu tạo, đáp ứng yêu cầu của bài
tập. Hay ở VD3 tôi cho học sinh lần lượt ghép tiếng thứ nhất với các tiếng còn
lại để tạo từ và các em sẽ lựa chọn những từ ghép được phù hợp, loại bỏ những
15
từ không có nghĩa hoặc nghĩa không phù hợp. Và với cách ghép như vậy các
em sẽ tìm được hết các từ một cách triệt để.
2.3. Biện pháp thứ ba: Chú trọng dạy học sinh nắm nghĩa của từ
Làm giàu vốn từ, phát triển mở rộng vốn từ cho học sinh quả là cần thiết
song để các từ ngữ đọng lại trong trí nhớ của các em thì không phải là dễ dàng,
nhất là đối với học sinh lớp 2 “ mau nhớ - chóng quên”. Muốn cho các em nhớ
từ , vận dụng từ ngữ một cách chính xác thì các em phải hiểu nghĩa của từ. Dạng
bài tập về nghĩa của từ trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2 chủ yếu có hai
dạng cơ bản:
Dạng 1: Cho từ và nghĩa của từ, xác lập từ tương ứng.
VD1: Bài LTVC – Tuần 25: Tìm từ trong ngoặc đơn hợp với mỗi nghĩa sau:
- Dòng nước chảy tương đối lớn, trên đó thuyền bè đi lại được.

16
Ngoài hai dạng bài tập dạy học sinh hiểu nghĩa từ, tôi thấy việc giải nghĩa
từ cho học sinh còn được tiến hành trong tất cả các giờ học. Có nhiều biện pháp
giải nghĩa từ, dưới đây là một vài biện pháp nữa tôi đang sử dụng để giúp học
sinh hiểu rõ hơn về nghĩa của từ.
Dạng 3. Giải nghĩa bằng phương pháp trực quan:
Đối với học sinh tiểu học con đường tiếp nhận kiến thức đi từ trực quan
cụ thể đến tư duy trừu tượng. Như vậy phương pháp này rất phù hợp với học
sinh lớp 2 và thực tế đã chứng minh khi giảng từ cho học sinh bằng phương
pháp này, các em rất hứng thú và dễ dàng khi nhớ kiến thức. Phải nói rằng trong
SGK mới , các tranh ảnh được in rất rõ nét, màu sắc đẹp rất hợp với các em và
đó là công cụ rất tốt giúp các em học tập. Khi sử dụng phương pháp trực quan để
giải nghĩa từ, tôi tận dụng tối đa việc sử dụng các tranh ảnh có trong SGK để các
em quan sát, từ đó gợi ý và giúp các em hiểu nghĩa của từ.
VD: Bài LTVC – Tuần 29
Bài 1: Hãy kể tên các bộ phận của một cây ăn quả
Tôi đã gắn lên bảng tranh ảnh của một số loại cây ăn quả sưu tầm được để
cho các em quan sát và sau đó hỏi học sinh nêu các từ tìm được chỉ tên các bộ
phận của cây ăn quả như: rễ, gốc, thân, cành, lá Sau đó tôi gọi học sinh lên
bảng chỉ rõ các bộ phận của cây trong tranh.
Bài 2: Tìm những từ có thể dùng để tả các bộ phận của cây.
Tôi cho học sinh thảo luận tự tìm từ sau đó tổng hợp từ các em tìm được và dựa
vào tranh vẽ giải nghĩa cho các em hiểu được một số từ như:
- Cành cây: Xum xuê: chỉ cành lá rậm rạp tươi tốt (học sinh quan sát tranh vẽ
cây ăn quả có tán rậm rạp)
- Quả: Chín mọng: chỉ quả có màu đỏ hoặc vàng, có hương thơm, vị ngọt,
mọng nước (học sinh quan sát tranh vẽ về cây quả chín mọng)
* Khi sử dụng phương pháp này cần chú ý:
- Đồ dùng đẹp, phù hợp với nội dung của bài
- Sử dụng đúng lúc, đúng chỗ

Con chuột . . . . . quanh
Luồn hang . . . . . hốc
VD2: Bài LTVC – Tuần 31:Chọn từ ( nhà sàn, râm bụt, đạm bạc, tinh
khiết, tự tay) điền vào chỗ trống trong đoạn văn:
Bác Hồ sống rất giản dị. Bữa cơm của Bác . . . . như bữa cơm của mọi
người dân. Bác thích hoa huệ, loài hoa trắng . . . . Nhà Bác ở là một ngôi . . . . ,
hàng cây gợi nhớ hình ảnh miền Trung quê Bác. Sau giờ làm việc, Bác
thường . . . . chăm sóc cây, cho cá ăn.
Khi giảng dạy bài này, tôi cho học sinh đọc các từ ngữ trong câu hoặc
đoạn chưa hoàn chỉnh đã cho để học sinh nắm sơ bộ nội dung của câu hoặc
đoạn. Sau đó cho học sinh đọc các từ cho sẵn vào từng ô trống. Từ nào có khả
năng kết hợp với từ ngữ trong câu và phù hợp với nghĩa của câu thì lựa chon từ
đó.
2.4.3Kiểu bài tập điền từ trong đó từ cần điền không cho sẵn.
VD1: Bài LTVC – Tuần 7: Chọn từ chỉ hoạt động thích hợp với mỗi chỗ
trống dưới đây:
- Cô Tuyết Mai . . . . . môn Tiếng Việt
- Cô . . . . bài rất dễ hiểu
- Cô . . . . chúng em chăm học
VD2: Bài LTVC – Tuần 12: Chọn từ điền vào chỗ trống để tạo thành câu
hoàn chỉnh:
- Cháu . . . ông bà
- Con . . . . cha mẹ
- Em . . . . anh chị
Để học sinh điền đúng từ vào chỗ trống trong các câu ở VD2 trên, tôi
hướng dẫn các em dựa vào chủ điểm từ đang học, dựa vào nội dung từng câu có
chỗ trống để tìm từ thích hợp nhất điền vào chỗ trống. Ở VD1 để điền từ đúng
các em phải dựa vào từ chỉ hoạt động đã tìm được ở bài tập trước đó. Hay ở
18
VD2 các em phải dựa vào các từ đã kết hợp ở các tiếng yêu thương, quý, mến,

Một trong những nhiệm vụ trung tâm của đổi mới chương trình SGK là đổi
mới phương pháp dạy học, dạy học theo quan điểm tích cực hóa hoạt động của
trò trong đó giáo viên là người đóng vai trò tổ chức hoạt động của học sinh, để
mỗi học sinh đều được hoạt động, được bộc lộ mình và phát triển. Do vậy việc
lựa chọn các hình thức hoạt động của học sinh trong một tiết học có tác dụng rất
lớn để phát huy tích cực chủ động của học, tạo không khí sôi nổi trong giờ học
giúp các em hứng thú với tiết học và các em nắm kiến thức một cách hiệu quả.
Nội dung các chi tiết Luyện từ và câu chủ yếu là luyện tập thực hành nên khi
chuẩn bị một tiết dạy tôi thường lưu ý chọn lựa các hình thức hoạt động của các
em trong tiết học sao cho phù hợp. Thông thường tôi kết hợp các hoạt động của
các em trong tiết học sao cho phù hợp. Thông thường tôi kết hợp các hoạt động
của học sinh trong các tiết học theo các hình thức:
- Làm việc độc lập
19
- Làm việc theo nhóm
- Làmviệc chung theo đơn vị lớp
Với cách kết hợp ba hình thức này trong tiết dạy, tôi thấy khi dạy luyện từ
cho học sinh đạt hiệu quả rất cao, nhất là đối với các dạng bài tập mở rộng vốn
từ các em được hoạt động theo nhiều hình thức, phát huy được vốn từ có sẵn của
bản thân đồng thời tạo ra sự tự tin, mạnh dạn trao đổi, thảo luận trong nhóm.
Việc thay đổi các hình thức học tập làm cho tất cả học sinh được hoạt động.
VD: LTVC – Tuần 33, tôi lựa chọn các hình thức hoạt động của từng bài
như sau:
Bài tập 1: Tìm từ ngữ chỉ một ngành nghề của những người vẽ trong
tranh dưới đây:
Đây là bài tập dựa vào tranh để tìm từ, tôi cho học sinh làm việc cá nhân
quan sát kĩ từng bức tranh để tìm từ sau đó tôi gọi học sinh nối tiếp phát biểu tìm
từ.
Bài tập 2: Tìm thêm những từ chỉ nghề nghiệp khác mà em biết.
Mẫu: thợ may.

Mục đích: Mở rộng vốn từ cho học sinh thông qua các ô chữ cùng chủ đề
Chuẩn bị: Bảng kẻ các ô hàng ngang và hàng dọc, các câu hỏi gợi ý.
Cách tiến hành: chia 2 nhóm, mỗi nhóm 3, 4 học sinh
- Lần lượt mỗi nhóm lựa chọn ô hàng ngang, khi chọn ô nào giáo viên đưa
ra câu hỏi gợi ý. Trong một khoảng thời gian ngắn phải đưa ra câu trả lời. Nếu
đoán đúng giáo viên viết các chữ cái ở ô hàng ngang lên bảng. Nếu từ nào cả hai
đội không giải được các bạn dưới lớp tham gia vào cuối trò chơi
- Giáo viên tính điểm ô chữ hàng ngang 10 điểm, nếu đội nào đoán được từ
ở ô chữ hàng dọc là 40 điểm. Đội nào nhiều điểm là đội đó thắng cuộc.
VD:LTVC – Tuần 15 :Để củng cố về các từ chỉ đặc điểm tôi tổ chức cho
học sinh chơi giải ô chữ.
S U M S Ê
X I N H
K H I Ê M T Ố N
T R Ắ N G
T R U N G T H À N H
X A N H
C H Ă M
C O N G
R Ạ N G R Ỡ
Các ô chữ hàng ngang:
(1): (5 chữ cái): Từ chỉ cây cối có cành lá rậm rạp, tươi tốt (sum sê)
(2): (4 chữ cái): Từ để nói về dáng vẻ dễ coi, ưa nhìn, thường nói về trẻ em,
người còn trẻ (xinh)
(3): (8 chữ cái): Từ chỉ ý thức, thái độ đúng mực (khiêm tốn)
(4): (5 chữ cái): Từ trái với nghĩa đen (trắng)
(5): (10 chữ cái): Từ chỉ đặc điểm của con chó nuôi trong gia đình (trung
thành)
(6): (4 chữ cái): Từ chỉ màu sắc của lá cây (xanh)
(7): (4 chữ cái): Từ còn thiếu trong câu “chăm học . . . . làm (chăm)

+ Chia lớp thành một số nhóm
Cách tiến hành:
- Giáo viên nêu tên các từ có trong thẻ từ, các nhóm nhanh tay chọn được
đúng cặp từ trái nghĩa đó dán lên bảng.
- Đánh giá kết quả để xác định điểm từng nhóm, nhóm nào chọn được đúng
cặp từ trái nghĩa nhanh nhất là nhóm thắng cuộc
Các thẻ từ có thể ghi các từ sau: to, béo, dài, nhanh, gần,chậm, nhỏ,gầy,
chăm chỉ, lười biếng, chậm chạp
3. Thực nghiệm:
Trường Tiểu học Hương sơn C
GV: NguyễnThị Thanh Thủy Thứ tư ngày 15 tháng 10 năm 2013
Lớp : 2B Luyện từ và câu
Tuần 6: Câu kiểu Ai – là gì. Từ ngữ về đồ dùng học tập
1. Mục đích, yêu cầu:
- Biết đặt câu hỏi cho các bộ phận câu giới thiệu ( Ai, cái gì, con gì – là gì?).
- Mở rộng vốn từ: Từ ngữ về đồ dùng học tập.
- Gd học sinh biết sử dụng đúng và giữ gìn, bảo quản đồ dùng học tập cẩn thận.
2. ĐDDH: Giáo án điện tử.
3. Lên lớp:
Thời
gian
Nội dung HĐ của GV HĐ của HS
22

5’

2’

1
5’

Tiếng Việt.
- Trong câu a, từ nào được gạch
chân?
- Hãy đặt câu hỏi cho bộ phận câu
được gạch chân ?
- Trong câu b từ nào được gạch
chân?
- Trong câu c từ nào được gạch chân
?
- Làm vở câu b, c
- Tại sao đặt câu hỏi Ai? cho bộ phận
“Lan”,
- Tại sao đặt câu hỏi là gì? cho bộ
phận “là Tiếng Việt”

- Khi đọc câu hỏi các con cần chú ý
- Y/c HS làm
vào nháp
- Gọi 2 hs lên
bảng làm
- Gọi vài HS trả
lời miệng
- Nhận xét, cho
điểm
- Ghi tên bài lên
bảng
- Y/c HS đọc
câu a
- Làm mẫu
- Y/c HS làm

- Khi viết câu hỏi các con cần lưu ý
gì?
* Chuyển:
Bài 3 (trang 52):
a. Tìm các đồ dùng học tập ẩn trong
tranh sau:
- Trò chơi: Tiếp sức: Thi viết nhanh
tên các đồ dùng học tập vừa tìm được
trong bức tranh.
Tổ chức 2 đội chơi, mỗi đội 7 HS.
Khi nghe hiệu lệnh( bài hát), lần lượt
từng HS sẽ lên viết tên 1 đồ dùng.
Khi có tín hiệu kết thúc thì cả 2 đội
dừng cuộc chơi. Đội nào ghi được
nhiều tên đồ dùng là đội chiến thắng.
Tên đồ
dùng
Số
lượng
Tác dụng
Quyển vở 4
Chiếc cặp 3
Bút chì 3
Lọ mực 2
Thước kẻ 1
Ê- ke 1
Com- pa 1b. Mỗi đồ dùng học tập dùng để làm

bày kết quả TL
bằng trò chơi
Tiếp sức
- Chốt kết quả :
Đối chiếu với
đáp án trên màn
hình.
- Chấm điểm
cho 2 đội
- Hỏi miệng
- Đổi chéo vở
- Lên giọng ở
cuối câu.
- Viết dấu ? ở
cuối câu.
-1 HS đọc y/c
-Thảo luận
nhóm 2
- Cho 2 nhóm
làm vào bảng
phụ để chũa
chung , ko cần
chơi trò chơi
tiếp sức
- 2 đội chơi
- 2 HS đọc lại
các từ vừa tìm
được.
- Vaì HS TL
24

các em đã viết được một số đoạn văn có hình ảnh và biết thể hiện dược cảm xúc
của bản thân.
Đặc biệt môn Tiếng Việt chất lượng được nâng cao .Các bài kiểm tra giữa
kỳ và cuối kỳ chất lượng được nâng cao rõ rệt. Tỷ lệ bài khá và giỏi ở mức cao.
Phong trào học tập của lớp được đẩy mạnh.
Tất cả những kết quả trên đã tạo cho tôi niềm khích lệ lớn, thúc đẩy tôi cố
gắng nhiều hơn nữa trong suy nghĩ, tìm tòi thêm nhiều biện pháp giảng dạy các
môn hiệu quả hơn.
Sau đây là kết quả đạt được qua các lần kiểm tra môn Tiếng Việt của lớp 2B
(sĩ số: 35 HS) :
Đợt kiểm
tra
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
Cuối kỳ I 10 28 11 32 12 32 2 4
Cuối kỳ II 25 71 7 20 3 8 0 0

Trong năm học vừa qua, bằng cách làm như trên, tuy chưa phải là các giải
pháp tối ưu nhưng đã bước đầu thu được thành công đáng kể. Các em học sinh
lớp tôi học tập tích cực hơn hẳn so với đầu năm. Các em đã chú ý nghe giảng,
suy nghĩ tìm tòi sáng tạo và có hứng thú trong học tập phân môn . Học sinh
khá,giỏi trong lớp hiểu bài sâu hơn, biết liên hệ vào thực tế cuộc sống hàng
ngày. Một số em vận dụng từ rất phù hợp, tự nhiên khiến cho bài tập làm văn
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status