một số giải pháp giúp học sinh dân tộc học tốt phân môn luyện từ và câu 5 - Pdf 24

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH DÂN TỘC
HỌC TỐT PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU 5
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thế kỉ XXI mở ra nhiều thách thức và vận hội đối với đất nước. Đại hội đảng lần
thứ VIII đã quyết định đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước nhằm mục tiêu dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng văn minh, đất nước vững bước đi lên CNXH. “Giáo dục phải
thực sự trở thành quốc sách hàng đầu Cải tiến chất lượng dạy và học để hoàn thành
tốt việc đào tạo bồi dưỡng nguồn lực con người cho CNH-HĐH đất nước” (Văn kiện
Đại hội Đảng lần thứ VIII).
Theo định hướng đó thì bậc tiểu học là nền tảng. Mục tiêu giáo dục tiểu học là
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần hình
thành và phát triển nhân cách của trẻ và cung cấp cho trẻ những trí thức cân thiết.
Tiếng việt có nhiều phân môn. Muốn học sinh học tốt thì các em cần được rèn luyện
toàn diện về Tiếng việt mới trở thành học sinh khá và giỏi được. Vì vậy việc dạy học
phân môn Luyện từ và câu rất quan trọng, nó giúp các em hiểu, diễn đạt tư tưởng,
tình cảm, hoạt động của mình bằng tiếng mẹ đẻ ngày càng chính xác, phong phú và
sinh động hơn.
Qua thực tế giảng dạy, tôi cho rằng sự ra đời của phân môn Luyện từ và câu ở
tiểu học là cần thiết, nó chấm dứt dạy từ một cách tản mạn, không hệ thống từ các
bài tập đọc. Việc dạy từ hiện nay được tiến hành một cách có kế hoạch, mang tính
chủ động. Thông qua các bài tập trong sách giáo khoa, giáo viên hướng dẫn học
tập mở rộng vốn từ… phát triển vốn từ, tập giải thích nghĩa của từ, tập sử dụng từ
trong các khâu: Điền từ, dùng từ đặt câu, viết đoạn văn ngắn Qua các bài tập,
vốn từ của học sinh được mở rộng, tăng cường kĩ năng giải nghĩa từ, kĩ năng dùng
từ trong hoạt động giao tiếp được hình thành và phát triển. Học sinh có ý thức hơn
về vấn đề từ ngữ, vấn đề hiểu từ và dùng từ trong thực tiễn nói, viết, trong học tập
và giao tiếp.
Chủ trương giảng dạy Luyện từ và câu ở tiểu học đã khẳng định được vị trí, vai
trò của mình trong việc giúp học sinh làm giàu vốn từ, hình thành và phát triển ý
1
thức, kĩ năng sử dụng từ. Chính vì vậy tôi luôn trăn trở làm thế nào dạy tốt môn

được tách thành phân môn độc lập, có tiết dạy riêng. Trong chương trình và sách
giáo khoa tiểu học phân môn này có nhiệm vụ giúp học sinh hệ thống hoá vốn từ,
mở rộng, phát triển vốn từ dựa vào các chủ đề, chủ điểm từ ngữ. Trên cơ sở đó,
học sinh tiến hành luyện tập sử dụng từ qua các kiểu bài tập như điền từ, dùng từ
đặt câu, viết đoạn văn ngắn Tóm lại, có thể nói Luyện từ và câu được tổ chức
dạy riêng, trong khuôn khổ của một phân môn Tiếng việt, là một bước tiến đáng
kể của chương trình và sách giáo khoa cải cách giáo dục.
Bên cạnh những vấn đề đó, trong giai đoạn này các trường đều được học về
vấn đề “Đổi mới sách giáo khoa Tiếng việt”và từ đó đến nay, chúng ta đã thực
hiện nhiều chuyên đề dạy Tiếng việt theo phương pháp mới “Lấy học sinh làm
trung tâm”, các chuyên đề “Đổi mới phương pháp dạy học Tiếng việt ở tiểu học”.
Nhà trường còn được học văn bản của Sở về “Thực hiện đổi mới phương pháp
dạy - học phân môn Luyện từ và câu” và tổ chức một số tiết dạy “Chuyên đề lớp
4”, “Chuyên đề lớp 5”
Tất cả các điều kiện trên đều nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho giáo
viên dạy tốt phân môn này.
Bên cạnh những vấn đ ề đó, bản thân tôi nhận thấy rằng: Muốn dạy tốt phân
môn này không chỉ cần sự cố gắng và nỗ lực của các thầy cô giáo mà còn phụ
thuộc vào ý thức học tập của học sinh.
Tôi đã tiến hành phỏng vấn một số học sinh lớp 5 và nhận thấy(Trình độ học
sinh không đồng đều, ít có học sinh hứng thú với môn học này) các em cho rằng
môn này khô và khó…
Tôi đã điều tra chất lượng đầu năm học của học sinh lớp tôi chủ nhiệm và đã
thu được kết quả như sau:
3

Từ kết quả khảo sát trên cho thấy, chất lượng của phân môn Luyện từ và câu còn
rất hạn chế…
III. NGUYÊN NHÂN:
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực tế trên, nó xuất phát từ thực tế khách

trường sống còn quá nhiều khó khăn nên đã có ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập
của học sinh. Đối với học sinh lớp (4-5) nói chung và với học sinh lớp 5 nói riêng.
Hàng ngày, ngoài việc đến lớp các em còn phải giúp đỡ bố mẹ rất nhiều công việc
trong gia đình như: Trông em, nấu cơm, đi rẫy phụ giúp bố mẹ…
Do đặc điểm của địa hình nên có những em nhà rất xa trường lại phải đi qua sông,
đò… Nên vào mùa mưa, các em thường xuyên nghỉ học…
Trên thực tế, Đam Rông là một huyện vô cùng khó khăn về mọi phương diện.
Người dân ở đây thường xuyên phải đối mặt với cái nghèo, cái đói…Nên với họ, việc
kiếm bát cơm, manh áo cho con cái hàng ngày còn quan trọng hơn rất nhiều việc mua
sắm đồ dùng cho con đến trường, đi học…
Tất cả những nguyên nhân đó đã làm nảy sinh tâm lý ngại dạy - học phân môn
Luyện từ và câu của cả thầy và trò trong các trường tiểu học ở Đam Rông nói chung
và trường Tiểu học Lương Thế Vinh nói riêng.
Vì vậy vấn đề đặt ra ở đây là:
 Chúng ta phải dạy - học phân môn Luyện từ và câu như thế nào?
 Làm thế nào để lôi cuốn và thu hút các em tham gia giờ học tích cực và hoàn
toàn chủ động?
5
 Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy nói chung và giảng dạy
phân môn Luyện từ và câu nói riêng có đem lại hiệu quả tối đa cho người
học và người dạy?
Từ nguyên nhân và thực trạng trên, tôi xin đ ưa ra đây một số giải pháp để giúp
các em học sinh vùng khó khăn và vùng dân tộc học tốt hơn phân môn Luyện từ và
câu.
IV. GIẢI PHÁP:
Học sinh bậc tiểu học vốn từ ngữ còn rất hạn chế, cần phải được bổ sung, phát
triển để đáp ứng các nhu cầu học tập, giao tiếp Vì vậy, việc dạy từ cho các em ngày
càng được coi là quan trọng không được bỏ qua.
Việc dạy từ ngữ ở tiểu học là giúp học sinh mở rộng vốn từ, hiểu nghĩa của từ
một cách chính xác, giúp học sinh luyện tập sử dụng từ ngữ trong nói, viết

Là phần chốt lại những điểm chính yếu về kiến thức được rút ra từ việc phân tích
ngữ liệu. Học sinh cần nắm vững kiến thức này.
 Phần III - Thực hành:
Là phần bài tập nhằm củng cố và vận dụng kiến thức đã học( các bài học mở rộng,
hệ thống hóa vốn từ, ôn tập, tổng kết đều được thể hiện dưới hình thức bài tập thực
hành). Những kiểu bài thực hành chủ yếu là:
 Tìm từ ngữ theo nghĩa và hình thức cấu tạo đã cho.
 Xác định nghĩa của từ và các yếu tố cấu tạo từ.
 Xác định nghĩa của thành ngữ, tục ngữ.
 Phân loại từ ngữ và các yếu tố cấu tạo từ.
 Đặt câu với từ ngữ đã cho.
 Lập bảng tổng kết kiến thức đã học.
 Xác định tình huống sử dụng thành ngữ, tục ngữ.
Cách trình bày trên rất phù hợp với đặc điểm nhận thức tư duy của học sinh tiểu
học.
 Các giải pháp:
Với những kiểu bài này tôi có những giải pháp dạy như sau:
7
 Hướng dẫn học sinh phân tích ví dụ mẫu sau đó giúp học sinh trả lời câu hỏi
tìm hiểu bài. Trước khi cho học sinh đọc ví dụ mẫu để phân tích, tôi thường giới
thiệu xuất xứ, tác giả, nội dung chính của đoạn văn, đoạn thơ
• Ví dụ:
Khi dạy bài “Từ trái nghĩa” (Trang 38 – TV lớp 5 tập 1). Tôi giới thiệu cho học
sinh thấy: Phrăng Đơ Bô-en là m ột người lính bỉ trong đội quân Pháp xâm lược Việt
Nam. Nhận rõ tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh, năm 1949 ông đã chạy sang
hàng ngũ quân đội ta và lấy tên là Phan Lăng. Một lần, rơi vào ổ phục kích, ông bị
địch bắt. Địch dụ dỗ, tra tấn ông nhưng ông không khuất phục, chúng bèn đưa ông về
giam ở pháp
Việc giới thiệu này tôi chỉ làm nhanh trong vòng 1 phút nhưng tôi thấy học sinh
hiểu rõ ví dụ mẫu, đồng thời hướng được sự chú ý của học sinh vào bài học. Khi giới

Loại bài tập này dùng vào việc thực hành luyện tập của học sinh, giúp học sinh
củng cố, khắc sâu kiến thức lí thuyết và vận dụng vào hoạt động nói và viết. Ở
phần này tôi luôn gợi ý dẫn dắt học sinh cách làm chứ không làm thay hoặc phó
mặc học sinh. Tôi thường gọi 1,2 em đọc to rõ ràng yêu cầu của bài tập để cả lớp
cùng nghe, tôi hướng dẫn học sinh lần lượt xác định từng yêu cầu của bài tập:
• Ví dụ:
 Bài tập 2( Trang 22- TV lớp 5 tập 2): Xếp các từ cho dưới đây thành những nhóm
từ đồng nghĩa: bao la, bát ngát, thênh thang, lung linh, long lanh, hiu hắt, vắng
ngắt, lấp lánh, vắng teo.
Để học sinh hoàn thành được bài tập này việc trước tiên, giáo viên phải giúp các
em hiểu được nghĩa của từng từ, sau đó các em mới xếp chúng vào các nhóm từ đồng
nghĩa:
• Hiểu nghĩa của từ:
- bao la: Rộng lớn đến mức như vô cùng tận.
- vắng ngắt: Vắng không một bóng người.
- long lanh: Có ánh sáng phản chiếu trên vật trong suốt, tạo vẻ sinh động.
- thênh thang: Rộng rãi, gây cảm giác không có gì làm cho bị vướng.
- bát ngát: Rộng lớn đến mức tầm mắt không sao bao quát hết được.
- lung linh: Vẻ lay động, rung rinh của cái có thể phản chiếu ánh sáng.
9
- vắng teo: Quạnh quẽ, không có người lui tới.
- lấp lánh: Phát ra ánh sáng không liên tục, khi yếu, khi mạnh.
• Xếp thành các nhóm sau:
a. bao la, thênh thang, bát ngát
b. lung linh, long lanh, lấp lánh.
c. vắng teo, vắng ngắt.
 Lưu ý: Trẻ bậc tiểu học rất hiếu động, thích khám phá nên khi giải nghĩa từ, giáo
viên nên kết hợp cho các em quan sát tranh để giúp các em dễ hiểu, hiểu sâu và nhớ
lâu kiến thức.
 Cuối cùng là khâu kiểm tra, đánh giá kết quả làm bài tập của học sinh.Tôi đã sử

Tranh 2
11
Tiếp tục quan sát tranh 3 để tìm hiểu về khu bảo tồn thiên nhiên.
Tranh 3
Kết hợp quan sát tranh, giáo viên nên sử dụng những câu hỏi động não để gợi
mở, hướng các em vào sự tìm tòi, khám phá tri thức mới…
Bằng hình ảnh trực quan sinh động trên, học sinh rất dễ dàng hiểu được nghĩa của
từng cụm từ và phân biệt chúng một cách nhanh nhất và chính xác nhất.
- Khu dân cư: khu vực dành cho nhân dân ở và sinh hoạt.
- Khu sản xuất: khu vực làm việc của nhà máy, xí nghiệp.
- Khu bảo tồn thiên nhiên: khu vực trong đó các loài cây, con vật và cảnh quan
thiên nhiên đươc bảo vệ, gìn giữ lâu dài.
Với giải pháp trên, có thể vận dụng rộng rãi trong địa bàn Đam Rông vì học
sinh ở đây chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số. Các em ít có cơ hội tiếp cận
với thế giới muôn màu ở bên ngoài nên việc quan sát tranh chính là sự lựa chọn
tốt nhất giúp thầy và trò có những tiết học nhẹ nhàng, thoải mái mà vẫn đạt hiệu
quả cao.
c. Hướng dẫn học sinh kiểm tra, đánh giá bài tập đã làm.
Hiện nay, để đáp ứng được mục tiêu mới của giáo dục nói chung và giáo dục
tiểu học nói riêng là đào tạo ra những con người chủ động, sáng tạo, sớm thích
ứng với thế giới lao động, hòa nhập và phát triển cộng đồng thì việc kiểm tra,
12
đánh giá quá trình học tập của học sinh là vô cùng quan trọng và thiết thực. Ở lớp,
tôi thường sử dụng hai cách đánh giá sau:
 Giáo viên đánh giá học sinh.
 Học sinh đánh giá học sinh.
Tôi hướng dẫn đối chiếu bài tập đã làm với yêu cầu được đặt ra ở từng bài tập,
hoặc đối chiếu bài tập đã làm với đáp án. Đối với những bài làm sai tôi phân tích để
học sinh thấy lỗi sai và biết cách sửa chữa .
Để học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu, trong các giờ lên lớp tôi luôn

PHÒNG GI
Á
Á
O D
O D
?
?
C ÐAM RÔNG
C ÐAM RÔNG
TRU
TRU
?
?
NG TI
NG TI
?
?
U H
U H
?
?
C LUONG TH
C LUONG TH
?
?
VINH
VINH




?
VINH
VINH
Qua thực tế giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy rằng, với đối tượng học sinh ở
địa bàn chúng tôi thì sử dụng máy chiếu vào giảng dạy là biện pháp tốt nhất để giờ
dạy đạt hiệu quả cao.
Do nhận thức của các em còn nhiều hạn chế nên việc giảng giải, cung cấp
thông tin (kiến thức) bằng lời nói các em rất khó hiểu vì đôi khi nó quá trừu
tượng….nhưng nếu giáo viên đưa ra những hình ảnh cụ thể, sống động thì ngược
lại, các em vô cùng thích thú và bị lôi cuốn ngay vào tiết học.
• Ví dụ:
15
Khi dạy bài “Từ đồng âm - Tiếng việt 5 tập 1” tôi đã sử dụng máy chiếu để giới
thiệu các hình ảnh minh họa, giúp các em dễ hiểu và phân biệt được nghĩa của các từ
đồng âm một cách nhanh chóng và chính xác nhất.

Cánh đồng Một nghìn đồng Tượng đồng

Bàn bạc Bàn phím Bàn có lọ hoa

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
Năm học 2008-2009 được sự phân công của nhà trường, tôi chủ nhiệm lớp 5A
của trường Tiểu học Lương Thế Vinh- Đam Rông – Lâm Đồng.
Mặc dù học sinh ở đây đa số là con em người kinh nhưng việc học tập của các
em còn rất nhiều hạn chế xuất phát từ nguyên nhân khách quan và chủ quan trên.
Đầu năm học, sau khi khảo sát và phân loại học sinh, tìm hiểu, nghiên cứu tình
chung của lớp và vận dụng các giải pháp trên vào giảng dạy phân môn Luyện từ
và câu ở lớp tôi chủ nhiệm.
Học kì I đã kết thúc, giờ học Luyện từ và câu của lớp tôi đã diễn ra thật nhẹ
nhàng và có nhiều tiến triển rõ rệt. Các em rất thích tích cực, hợp tác tốt với bạn

khi thấy bạn bè hoàn thành nhi ệm vụ học tập…
Vì vậy, việc tìm tòi, sáng tạo của giáo viên để tìm ra những giải pháp tối ưu trong
giảng dạy là điều rất cần thiết để thay đổi thực trạng, giúp các em tự tin bước vào
cuộc sống và đó cũng là tiền đề tốt đẹp cho các cấp học tiếp theo.
Trên đây là một số giải pháp mà tôi đã vận dụng vào giảng dạy phân môn
Luyện từ và câu trong học kì I của lớp tôi chủ nhiệm. Có thể với những nơi có
điều kiện thuận lợi thì đây là giải pháp không có gì mới nhưng với địa bàn và đối
tượng học sinh của chúng tôi thì đây lại là vấn đề vô cùng mới mẻ và mang lại
hiệu quả rất cao.
Trong khuôn khổ của giải pháp này, tôi chỉ đề cập đến một khía cạnh nhỏ
trong quá trình giảng dạy của người giáo viên. Mặc dù qua quá trình thực hiện tôi
đã thu được những kết quả nhất định, song bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều hạn chế
và khiếm khuyết, rất mong nhận được sự đóng góp và xây dựng chân thành của
các quý vị khi đọc giải pháp này để giúp tôi hoàn thiện hơn nữa. Tôi xin chân
thành cảm ơn!
VII. KIẾN NGHỊ:

Bản thân tôi là một giáo viên trực tiếp làm công tác giảng dạy tại huyện Mỹ
xuyên đã 10 năm nay. Do nền kinh tế địa phương còn nhiều khó khăn nên đời sống
của giáo viên cũng còn rất nhiều chật vật…
Là một giáo viên rất tâm huyết với nghề, luôn nỗ lực phấn đấu trong điều kiện và
những hoàn cảnh khó khăn nhất để hoàn thành mục tiêu giáo dục, để chia sẻ và giúp
các em sớm tiếp cận với những phương pháp học tập hiện đại nhất, tốt nhất….nhưng
để có những bài học hay, giờ học tốt của thầy trò chúng tôi thì không chỉ nói đến sự
cố gắng và nỗ lực từ phía giáo viên và học sinh mà còn phải nói đến sự quan tâm của
các cấp giáo dục….
18
Hiện nay, phần lớn các môn học của tôi đều thiết kế bằng giáo án điện tử và
giảng dạy trên máy chiếu. Trong quá trình thiết kế bài, tôi chỉ thực hiện đơn giản trên
Power Point, không có các phần mềm hỗ trợ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status