1
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2011-2012
MỤC LỤC
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH YẾU
HỌC TỐT MÔN TOÁN Ở LỚP 1
LỜI NGỎ 2
A.ĐẶT VẤN ĐỀ 3
B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3
I/ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH 4
• Thuận lợi
• Khó khăn
II/NỘI DUNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN 4
1.Nghiên cứu chương trình 4
2.Nắm đặc điểm tâm lý và phát triển của học sinh yếu môn toán 6
3.Phân loại học sinh học yếu môn toán 7
a/ Học sinh chưa nắm được khái niệm về số 7
b/ Học sinh chưa biết điền dấu < > = 9
c/ Học sinh chưa thực hiện được phép tính 12
d/ Học sinh chưa giải được bài toán có lời văn 20
e/ Học sinh có học yếu có tính cẩu thả 25
4.Kết hợp với phụ huynh học sinh 26
III/KẾT QUẢ 27
IV/BÀI HỌC KINH NGHIỆM 29
C.KẾT LUẬN 30
D.Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 31
Nguyễn Thị Thúy Vân Giáo viên -Truờng Tiểu học Minh Thạnh
1
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2011-2012
Lời ngỏ
Kính thưa hội đồng xét duyệt sáng kiến kinh nghiệm
Để thực hiện được một đề tài là cả một quá trình tìm tòi, học hỏi,
dẫn các em bài mới thật là vất vả, các em rất ham chơi mà các em quên mất
là mình đến trường để học, bên cạnh những đối tượng này còn có em thiếu tự
tin, rụt rè làm ảnh hưởng rất nhiều đến việc học tập.
Từ những thực tế nêu trên, tôi suy nghĩ phải làm thế nào để tạo sự
hứng thú học tập đối với học sinh học yếu môn Toán và ở các môn học khác,
giúp các em phát triển toàn diện vừa có trí tuệ vừa có thể lực tốt nên trong
năm học này tôi lưu ý đến học sinh thuộc diện này. Với lòng yêu nghề, mến
trẻ đã thôi thúc tôi, làm thế nào để đàn em thân yêu của mình học tốt được
môn Toán, cuối năm không có học sinh yếu kém. Kết quả từ trung bình đến
khá – giỏi đó chính là lý do tôi chọn đề tài:
“ Một số biện pháp giúp học sinh yếu học tốt môn Toán ở lớp 1”.
B. GIẢI QUYẾT VẤN DỀ
I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH
Thuận lợi:
Năm học 2010 – 2011 tôi chủ nhiệm lớp 1/2 là lớp học hai buổi ở
điểm chính trường Tiểu học Minh Thạnh, được chi Bộ và nhà trường quan
tâm giúp đỡ nhiều hơn các điểm khác, vì vậy tôi có nhiều thời gian quan tâm
hơn, hướng dẫn giáo dục các em và có dịp tiếp xúc trao đổi với phụ huynh
Bản thân tôi đã dạy lớp 14 năm trong đó chủ nhiệm lớp một đựơc 8 năm nên
Nguyễn Thị Thúy Vân Giáo viên -Truờng Tiểu học Minh Thạnh
1
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2011-2012
ít nhiều tích luỹ được kinh nghiệm dạy lớp, nhất là lớp nào cũng có học sinh
yếu nên có dịp nắm được cá tính của các em học sinh này.
Khó khăn:
Trường học nằm trong vùng nông thôn, đa số là con nông dân nên phụ
huynh học sinh không mấy quan tâm đến việc học của con cái mình, thiếu sự
quan tâm chăm sóc, nhắc nhở các em học tập. Có một số các em không qua
lớp Mẫu giáo.
Thường tâm lý các em chưa ham học toán, lười tư duy, chưa nhận
trường hợp đơn giản)
b.Đại lượng và đo đại lượng.
-Giới thiệu đơn vị đo độ dài xăngtimet. Đọc, viết, thực hiện phép tính
với các số đo theo đơn vị đo xăngtimet. Tập đo và ước lượng độ dài.
-Giới thiệu đơn vị đo thời gian: tuần lễ, ngày trong tuần. Làm quen
bước đầu với đọc lịch (loại lịch hằng ngày), đọc giờ đúng trên đồng hồ (khi
kim phút chỉ vào số 12).
c.Yếu tố hình học.
-Nhận dạng bước đầu về hình vuông, hình tam giác, hình tròn.
-Giới thiệu về điểm, điểm ở trong, điểm ở ngoài một hình; đoạn thẳng.
-Thực hành vẽ đoạn thẳng, vẽ hình trên giấy kẻ ô vuông; gấp, ghép
hình…
d.Giải toán có lời văn .
-Giới thiệu bài toán có lời văn.
-Giải các bài toán đơn bằng một phép cộng hoặc một phép trừ, chủ yếu
là các bài toán thêm, bớt một số đơn vị.
2.Nắm được đặc điểm tâm lý và phát triển của học sinh học yếu
môn Toán.
Với kinh nghiệm đã nhiều năm dạy lớp Một, bản thân chúng tôi nhận thấy
đặc điểm tâm lý của trẻ em ở lứa tuổi này dễ chịu sự tác động ý chí trực tiếp
bên ngoài, các em rất nhút nhát, thiếu tự tin, không dám phát biểu, tôi luôn
phải mất thời gian để trò chuyện gần gũi động viên tinh thần các em, để em
cảm thấy cô giáo rất thương mình, quan tâm đến mình nhiều hơn các bạn.
Nguyễn Thị Thúy Vân Giáo viên -Truờng Tiểu học Minh Thạnh
1
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2011-2012
Bác Hồ đã nói: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục
mà nên”. Ở lứa tuổi học sinh nhỏ là các em dễ chịu sự tác động ý chí trực tiếp
của thầy cô giáo sẵn lòng tin vào thầy cô, nhất nhất nghe theo trong lời căn
dặn của thầy cô. Chính vì ở các lớp tiểu học, học sinh còn gắn liền môn học
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2011-2012
học bài mới. Tôi luôn kiểm tra bài cũ, chỉ không thứ tự các bài trước để giúp
em củng cố kiến thức, khi xếp chỗ ngồi tôi xếp cạnh em ngồi học giỏi để giúp
truy bài cho em vào đầu giờ.
-Trong khi dạy bài mới tôi thường xuyên gọi em trả lời, động viên em
phát biểu, mặc dù em không hề giơ tay, cuối giờ để khắc sâu kiến thức bài
học, tôi tổ chức cho các em vui chơi và có những em học yếu cùng thực hiện
trò chơi.
Ví dụ: Sử dụng bộ đồ dùng học toán, tranh ảnh, chữ số.
Khi dạy bài số 7, để hình thành biểu tượng về số 7 sau khi hướng dẫn
học sinh tranh vẽ như sách giáo khoa, chúng tôi yêu cầu học sinh đính 6 hình
vuông sau đó thêm 1 hình vuông nữa. Từ đó học sinh sẽ tự kết luận 6 hình
vuông thêm 1 hình vuông là 7 hình vuông.
-Học sinh đính tiếp 6 hình tam giác thêm 1 hình tam giác và kết luận 6
hình tam giác thêm 1 hình tam giác là 7 hình tam giác.
-Học sinh đính tiếp 6 hình tròn và thêm 1 hình tròn và kết luận 6 hình
tròn thêm 1 hình tròn là 7 hình tròn.
-Học sinh lấy 6 que tính thêm 1 que tính và kết luận là 6 que tính
thêm 1 que tính là 7 que tính.
-Từ đó học sinh hình thành biểu tượng về số 7. Tiếp theo yêu chúng tôi
yêu cầu học sinh tìm những số 7 trong hộp đồ dùng học tập toán của học sinh
để đính vào bảng cài và viết số 7 vào bảng con.
-Tôi đọc số 7 thì các em đính vào bảng cài số 7 hoặc là tôi đọc 7 con
bướm thì các em đính vào bảng cài 7 con bướm, tôi lưu ý các đối tượng học
yếu xem các em có thực hiện đúng không và có biện pháp sửa chữa kịp thời.
-Tôi thực hiện tiếp trò chơi làm cho bằng 7.
Ví dụ: Khi dạy bài số 7, củng cố về dấu = tôi tổ chức cho các em chơi
“trò chơi làm cho bằng 7”.
1. Mục đích : Củng cố khái niệm số 7, nắm vững cấu tạo số 7, rèn luyện
khả năng quan sát, sự khéo léo, nhanh nhẹn.
Với cách dạy như vậy dần dần các em cũng tự mình thực hiện nhớ
được các số đã học, nhận dạng được các số mặc dù chưa nhanh bằng các bạn
Nguyễn Thị Thúy Vân Giáo viên -Truờng Tiểu học Minh Thạnh
1
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2011-2012
nhưng cũng tạo cho em sự ham thích học tập, còn tỏ ra hoạt bát hơn, nhanh
nhẹn hơn.
b)Học sinh chưa so sánh được các dấu < > =
Trong chương trình Toán lớp 1, trước khi so sánh các số, học sinh đã
làm quen với quan hệ “Nhiều hơn, Ít hơn”, tiếp đó mới so sánh các số dùng
các từ “Lớn hơn, Bé hơn”, “Bằng Nhau” đồng thời dùng các kí hiệu so sánh “
<, >, =”
Ví dụ : Dạy bài “Bé hơn, dấu <” để cho học sinh dễ hiểu, tôi đính bên
trái một quả cam, bên phải hai quả cam và hỏi học sinh bên trái có mấy quả
cam? Bên phải có mấy quả cam? Gợi ý để học sinh dễ phát biểu: (Một quả
cam ít hơn hai quả cam ) .Tương tự giáo viên đính số 1 bên 1 quả cam và số
2 vào bên 2 quả cam rồi cho học sinh so sánh 1 thế nào so với số 2 và cho
học sinh đọc 1 < 2.
1 < 2
Tương tự cho học sinh so sánh 2 < 3, 4 < 5
hoặc 2 > 1, 3 > 2, 4 > 3…
Rèn học sinh so sánh số trong bảng con, các bài tập trong sách giáo
khoa nhìn hình ghi số rồi so sánh.
*Để giúp các em phân biệt được khi nào điền dấu <, >, =
Tôi hướng dẫn em bằng cách hỏi em tay nào là tay trái, tay nào là tay
phải. Dấu bé thì mũi nhọn hướng về tay trái, dấu lớn thì mũi nhọn hướng về
tay phải (tay cầm bút). Nếu thấy mũi nhọn hướng về số nào thì số đó bé hơn.
Với cách trên em không nhầm lẫn khi làm toán dạng điền dấu hoặc điền số
vào ô trống, còn đối với dấu = thì tôi hướng dẫn các em để làm cho bằng
nhau khi thấy 2 số giống nhau thì so sánh = nhau.
tính lại thì sẽ được 1 chục, từ đó giới thiệu bó que tính tương ứng với 1 chục.
-Các số từ 11 -> 99, chúng tôi hướng dẫn học sinh sử dụng đồ dùng
học toán để hình thành các số (bó que tính và các que tính rời).
Nguyễn Thị Thúy Vân Giáo viên -Truờng Tiểu học Minh Thạnh
= =
> <
1
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2011-2012
Ví dụ: Số 19: học sinh lấy 1 bó que tính (là 1 chục) và 9 que rời, sau đó
hướng dẫn học sinh phát biểu 10 que tính và 9 que tính là 19 que tính, sau đó
chúng tôi hướng dẫn học sinh đính số 19 lên bảng cài.
-Số 19 là số có hai chữ số ,số 1 đứng trước ở hàng chục, số 9 đứng sau
ở hàng đơn vị (cho học sinh nhắc lại nhiều lần ) .Hình thành các số có hai
chữ số tiếp theo tương tự
-Giúp các em dễ nhớ tôi hướng dần các em nên xem lịch hoặc là đọc
số in trong trang sách mỗi ngày để các em nhớ số mà không quên
b)Học sinh chưa thực hiện được phép tính:
Học sinh thuộc diện này thì có các em : Thành, Hiếu, Khôi, Hằng, Kỳ.
Các em này thường có tính hiếu động, không ngồi yên một chỗ, ít tập trung
nghe cô giảng bài, thường xuyên thiếu dụng cụ học tập, như: bảng con, viết,
vở, que tính, luôn làm việc riêng trong giờ học vì thế làm ảnh hưởng đến bạn
ngồi bên cạnh.
Đối với môn toán khi thực hiện phép tính không thể luyện nhớ mãi
được, vì em phải biết cách tính, nên trong giờ học toán tôi luôn thực hiện
những phép tính đơn giản như 1 + 1 = mấy ?
Có hai quả cam cho em hết một quả còn mấy? Sau đó tăng dần lên
những phép tính phức tạp. Với lối học từ dễ đến khó làm cho các em cảm
thấy các phép tính không khó khăn lắm với mình.
Ngoài ra tôi tranh thủ vào giờ chơi trò chuyện cùng em, tôi hỏi cô cho
em 5 cái bánh, em ăn hết 2 cái bánh thì còn lại mấy cái bánh? hoặc là sáng
1. Mục đích
Luyện tập làm tính cộng, trừ trong phạm vi 9.
2. Chuẩn bị .
10 quân bài, trên đó ghi các số và dấu như sau:
Bao nhiêu bạn (nhóm) chơi thì cần bấy nhiêu bộ quân bài trên.
3. Cách chơi .
Nguyễn Thị Thúy Vân Giáo viên -Truờng Tiểu học Minh Thạnh
+
8
2
+
6
6
9
3
1
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2011-2012
Có thể chơi theo cá nhân hoặc theo nhóm.
Mỗi bạn (nhóm) phải dùng 10 quân bài trên để xếp thành hai phép tính
đúng. Bạn (hoặc nhóm) nào làm xong trước và đúng sẽ thắng cuộc.
Hướng dạy học Toán hiện nay là tác động vào người học, nhằm phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Dạy Toán theo hướng tổ
chức các hoạt động học tập ,tạo ra cơ hội để các em được “ Hoạt động học
tập” tạo ra sự hợp tác giữa trò và trò, giữa trò và thầy việc học theo cách đó
sẽ hấp dẫn, lôi cuốn các em vào quá trình học tập một cách tự giác, tự nhiên,
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý học sinh Tiểu học.
-Đối với học sinh lớp Một tư duy còn hạn chế các em tiếp thu theo lối
“Vật đặt trước lời” nên dạy Toán ở lớp Một giáo viên phải dùng những hình
ảnh cụ thể để cung cấp kiến thức mới cho học sinh.
Ví dụ: Dạy bài phép cộng trong phạm vi 7: Giúp các em dễ hiểu và
Ví dụ : - 3 = 4
Giáo viên dạy học sinh đưa 4 ngón tay thêm vào 3 ngón nữa đếm tất cả
bao nhiêu ngón tay? Ghi số 7 vào ô trống
*Biết tính giá trị biểu thức có đến hai dấu phép cộng, trừ
Là học sinh yếu nên tất cả các thao tác của em đều chậm và thường
không thực hiện được nên khi dạy Giáo viên nên hướng dẫn như sau:
Ví dụ: 5 + 2 + 1 = ?
5 thì lấy 5 que lên + 2 là thêm 2 vào + 1 là thêm 1 que vào nữa. Sau đó
đếm lại tất cả que được 8 ghi 8 ngay sau dấu bằng: 5 + 2 + 1 = 8
Ví dụ: 9 – 5 + 3 = ?
9 là lấy 9 que lên trừ 5 là bớt 5 que xuống + 3 là thêm 3 vào, đếm lại
ghi 7 vào kết quả: 9 – 5 + 3 = 7
Khi các thao tác trên đã được thực hiện thuần nhuyễn Giáo viên hướng
dẫn các em từng bước như sau:
Ví dụ: 6 + 2 + 1 = ?
*Bước 1 : Tôi hướng dẫn các em lấy 6 + 2 được 8,
*Bước 2: lấy 8 + 1 được 9 viết kết quả vào ngay sau dấu bằng 9
* Hướng dẫn học sinh cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100 các số
tròn chục tôi hướng dẫn như sau : Tuỳ theo sự hiểu biết của học sinh mà tôi
hướng dẫn theo nhiều cách để học sinh dễ hiểu
Nguyễn Thị Thúy Vân Giáo viên -Truờng Tiểu học Minh Thạnh
1
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2011-2012
Ví dụ : 20 +30 =? 80 – 50 = ?
Cách 1: 20 còn được gọi là gì ?( 2 chục )
30 còn được gọi là gì ?(3 chục )
Vậy 2 chục +3chục = ? Chục (5 chục)
5chục ở đây được viết như thế nào ?(50)
Phép tính : 20+30 =50(cho học sinh nhắc lại nhiều lần )
Cách 2: Tôi hướng dẫn học sinh cộng theo từng hàng, nghĩa là hàng
số đơn vị viết dấu + ở trước hai số, kẻ gạch ngang rồi tính từ phải sang trái
* 5 cộng 4 bằng 9 viết 9
* 3 cộng 2 bằng 5 viết 5
Vậy 35 + 24 = 59
-Cho vài học sinh nhắc lại cách cộng trên
*Phép trừ giáo viên cũng hướng dẫn học sinh thực hiện tương tự như
phép cộng
-Đối với phép tính thực hiện theo hàng ngang thì đối tượng là học sinh
khá giỏi các em nhẩm theo cách nào thuận tiện nhất ra kết quả nhanh nhất và
đúng thì em ghi vào, còn đối với học sinh yếu thì tôi hướng dẫn các em tính
nhẩm như sau.
Ví dụ: 15 + 1 = ?
Cách 1: Em cộng hàng đơn vị trước và số khi cộng, tôi hướng dẫn các
em chấm một chấm nhỏ dưới hàng đơn vị đã cộng trước 5
+ 1 được 6 viết 6
ngay sau dấu bằng ở xa ra một chút, phần trước số 6 để viết hàng chục là 1
viết 1 sang, theo cách này các em đã biết cách cộng nhẩm theo hàng ngang
thành thạo mà không sai.
Cách 2: Đối với cách 1 các em chưa làm được hay ghi nhầm là ngược
kết quả: 15 + 1 = 61. Thì tôi hướng dẫn các em thực hiện lại phép tính như
sau: 15 gồm có mấy chục và mấy đơn vị (1chục,5 đơn vị)
Cộng 1 ở hàng nào? (1 ở hàng đơn vị). Vậy khi cộng các em nhớ cộng
hàng đơn vị với hàng đơn vị trước, hàng chục với hàng chục sau.
Nên 15 + 1 = 16
Đối với phép trừ, phép cộng số có 2 chữ số tôi cũng hướng dẫn từng
bước các em đã có căn bản về cách cộng trừ trong phạm vi 10 100 thì khi
làm bài, học bài các em sẽ hứng thú thích thú hơn. Vì vậy các bài học về Đại
lượng và Đo đại lượng, Đồng hồ thời gian, Tuần lễ, Ngày các em cũng dễ
Nguyễn Thị Thúy Vân Giáo viên -Truờng Tiểu học Minh Thạnh
Hình tam giác”. Trên cơ sở đó học sinh sẽ tìm trong thực tế những đồ vật có
dạng hình tam giác biển báo giao thông, cờ đuôi nheo …
Nguyễn Thị Thúy Vân Giáo viên -Truờng Tiểu học Minh Thạnh
1
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2011-2012
* Khi dạy các bài hình vuông, hình tròn tôi cũng thực hiện tương tự
như bài hình tam giác. Nhằm rèn luyện học sinh kỹ năng nhận dạng hình, óc
quan sát, trí tưởng tượng, sau khi hình thành các biểu tượng về hình vuông,
hình tròn, hình tam giác chúng tôi tổ chức trò chơi như sau:
*Trò chơi người máy gồm: NGƯỜI MÁY GỒM….
1.Mục đích
Rèn kĩ năng nhận dạng và phân biệt các hình vuông, hình tam giác,
hình tròn; rèn luyện óc quan sát và kĩ năng thao tác tạo hình.
2.Chuẩn bị
Mỗi HS cần có bộ đồ dùng học Toán 1 gồm 10 hình tam giác, 10
hình vuông, 10 hình tròn.
GV cần vẽ sẵn lên giấy khổ A 4 hình sau, phôtôcopy cho mỗi HS một
bản.
Người máy gồm:
Hình tròn
Hình tam giác
Hình vuông
3.Cách chơi
Giáo viên yêu cầu Học Sinh quan sát kĩ bức vẽ, sau đó làm hai việc:
Điền số hình tròn, hình tam giác, hình vuông vào chỗ chấm trên
bức vẽ.
Chọn trong bộ đồ dùng (đã chuẩn bị) ra đủ và đúng các hình như thế
để xếp tạo dáng một người máy. Bạn nào xong sớm nhất lớp là người thắng
cuộc.
d)Học sinh chưa giải được bài toán có lời văn :
-Nêu câu trả lời.
-Và điền phép tính thích hợp (với tình huống trong tranh).
Học sinh tập nêu bằng lời: “có 1 quả bóng trắng và 2 quả bóng xanh.
Hỏi có tất cả mấy quả bóng? ” rồi tập nêu miệng câu trả lời “có tất cả 3 quả
bóng”. Sau đó viết vào đây 5 ô trống để có phép tính.
Nguyễn Thị Thúy Vân Giáo viên -Truờng Tiểu học Minh Thạnh
1
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2011-2012
Tiếp đó, kể từ tuần 17, học sinh được làm quen với việc đọc tóm tắt rồi
nêu đề toán bằng lời, sau đó nêu cách giải và tự điền số và phép tính thích
hợp vào dãy 5 ô trống ở đây không còn tranh vẽ nữa.
Ví dụ: Có : 7 quả bóng
Cho: 3 quả bóng
Còn: … quả bóng?
-Viết phép tính thích hợp “ tức là nhìn vào tranh và các thao tác đính
vật mẫu của giáo viên để đính phép tính, đến phần giải bài toán các em được
làm quen với “ Đặt đề bài toán” (theo tóm tắt đã ghi trong SGK) hai phần
này có quan hệ mật thiết với nhau nên học sinh cần nắm vững cấu tạo của
một bài toán có lời văn gồm có 2 phần chính là những cái đã cho (đã biết) và
cái phải tìm (chưa biết).
-Giáo viên cần cho học sinh đọc kĩ đề toán, hiểu rõ một số từ khóa
quan trọng như “thêm vào, tất cả…” hoặc bớt, bay đi, còn lại ” (có thể kết
hợp với tranh vẽ để học sinh quan sát).
-Khi dạy các bài toán có lời văn cho đối tượng này tôi thường sử dụng
tranh ảnh, hoặc que tính để hướng dẫn học sinh, vì đối với các em trí nhớ rất
chậm cho nên tôi hướng dẫn từng phần theo các bước cụ thể như sau:
* Bước 1: tôi cho 2 em khá giỏi đọc đề toán, cả lớp đọc thầm theo, sau
đó gọi em đứng dậy đọc, tôi hướng dẫn em tìm hiểu bài toán qua tranh ảnh.
Ví dụ: cho học sinh nêu câu trả lời các câu hỏi “Bài toán biết cho nhà An có
5 con gà thì tôi đưa tranh vẽ 5 con gà lên bảng, mẹ mua thêm 4 con gà nữa
5 + 4 = 9 (con gà )
Đáp số : 9 con gà
Học sinh được tự đặt đề bài toán dựa vào thao tác trên các vật mẫu,
(tranh ảnh) nên dễ dàng nắm được đề bài từ đó các em sẽ giải được bài toán
một cách nhanh chóng.
Ví dụ như: học sinh cầm tay phải có 4 que tính tay trái có 3 que tính,
sau đó gần lại với nhau nhìn vào số que tính và dựa vào thao tác để tự đặt
một đề bài toán. Chẳng hạn “Tay phải em cầm 4 que tính, tay trái em cầm 3
que tính. Hỏi hai tay em cầm mấy que tính? ” Hoặc Có 4 que tính lấy thêm 3
Nguyễn Thị Thúy Vân Giáo viên -Truờng Tiểu học Minh Thạnh
1
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2011-2012
que tính nữa. “Hỏi có tất cả bao nhiêu que tính?”. Khi học sinh đã mắt thấy
tai nghe, hiểu được bài toán cho gì? Bài toán hỏi gì? Thì các em mới giải
được bài toán, với cách này tôi sử dụng để tổ chức trò chơi như sau:
Trò chơi 1. Thi đua giải nhanh bài toán:
Cách chơi: Chia lớp thành hai đội A và B, mỗi đội 3 học sinh, chơi
tiếp sức.
-Học sinh thứ 1 viết lời giải.
-Học sinh thứ 2 viết phép tính.
-Học sinh thứ 3 viết đáp số.
Nhận xét cách chơi: Học sinh cả lớp cùng Giáo viên nhận xét và biểu
dương đội thắng cuộc.
Trò chơi thứ 2: Giáo viên dùng tranh ảnh hoặc mẫu vật thật để làm
động tác dựa theo đề bài toán: Cả lớp cùng giải bài toán đó theo thao tác của
Giáo viên vào bảng con hoặc vào giấy nháp.
Nhận xét: Giáo viên biểu dương tổ thực hiện, hoặc cá nhân giải nhanh
và đúng.
Ví dụ: Trên cành có 9 con chim, có 2 con bay đi. Hỏi trên cành còn lại
mấy con chim?
không đúng kích cỡ, đúng qui cách lại thường xuyên bôi xóa, các số viết
không cẩn thận, ngay hàng, nên mỗi khi chấm điểm giáo viên thường xuyên
nhắc nhở em và gạch dưới chữ hay số viết sai bằng bút đỏ và viết lại số đúng
bằng mực đỏ cho em dễ nhận thấy. Để rèn cho các em viết chữ và số được
đẹp hơn, tôi thường xuyên cho em xem những tập “Vở sạch chữ đẹp” để giúp
các em có ý thức giữ vở sạch và luyện viết chữ đẹp.
Trong những giờ rèn viết bảng con tôi thường lưu ý đến đối tượng này,
tôi sửa chữa từng nét, từng số, cách đặt dấu cộng, trừ dấu bằng cho các em,
khi học sinh làm bài tập trong bảng con hoặc bảng lớp tôi theo dõi quan sát
cả lớp và chỉ ra những chổ chưa đúng, chưa đẹp để các em sửa chữa, tôi luôn
khen, động viên mỗi khi có tiến bộ. Hình thức trên chưa đủ, vì các em chỉ
học tại lớp, về nhà không có tự học được. Nên việc học ở nhà tôi rất lưu ý.
Yêu cầu em phải có 1 quyển vở tự rèn học ở nhà. Ngày nào đi học thì đem
theo.
Ví dụ: như hôm nay cô dạy số 5 thì em phải viết vào vở số 5, cách viết
thì tôi sẽ viết mẫu 1 số hoặc 1 vần mẫu vào vở rồi em nhìn vào chữ mẫu tự
viết. Những ngày kiểm tra tôi không cho biết trước, vì làm như thế các em
không dám bỏ qua. Từ đó các em đã có thói quen viết ngay hàng, không cong
vẹo, tập học sạch sẽ hơn, em không còn có thói quen viết ngoáy mà đã tự có
Nguyễn Thị Thúy Vân Giáo viên -Truờng Tiểu học Minh Thạnh
1
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2011-2012
ý thức rèn chữ, rèn số. Từ đấy em có hứng thú hơn trong học tập, em không
còn sợ mỗi khi học bài phải viết, phải làm toán nữa mà tỏ ra rất thích học, sau
những giờ học tôi thường tổ chức trò chơi, các em có dịp thi đố tài năng của
mình từ đấy mà mạnh dạn, tự tin hơn.
4.Kết hợp với phụ huynh học sinh:
Tôi xin phép BGH họp những cha mẹ có học sinh học yếu môn Toán
nhằm phổ biến nội dung phụ đạo học sinh cho phụ huynh biết để chăm lo và
nhắc nhở con em mình. Tôi cho phụ huynh biết việc học văn hóa ở lớp 1 nói
áp lực, khó chịu như trước nữa.
Tôi luôn vận dụng những kiến thức các em đã có để hình thành kiến
thức mới nghĩa là tạo tình huống có vấn đề sẽ kích thích học sinh hứng thú
tích cực trong học tập.
Với những việc làm trên tôi thu được kết quả như sau :
Năm học : 2010 – 2011
TT Họ và tên học sinh
Đầu
năm
GiữaH
K I
Cuối
HKI
Giữa
HKII
Cuối
HKII
1 Trương Thị Thùy Dung Yếu TB K K
G
2 Trương Đắc Hiếu Yếu TB K K
K
3 Nguyễn Thị Thùy Linh Yếu TB TB K
G
4 Nguyễn Hữu Duy Thành Yếu TB K K
K
5 Tạ Trí Tuệ Yếu TB K K
G
6 Trương Thùy Giang Yếu TB TB K
K
7 Nguyễn Minh Khôi Yếu TB TB K