Một số biện pháp giúp HS lớp 4 hiểu và phân biệt nhanh từ loại tiếng việt - Pdf 43

MỤC LỤC
1. PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................1
1.1. Lý do chọn đề tài:...........................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu:....................................................1
1.3. Đối tượng nghiên cứu.....................................................1
1.4. Phương pháp nghiên cứu:..............................................2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM...............................................2
2.1. Cơ sở lý luận.............................................................................................2
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm..................................................................................3
2.2.1. Thuận lợi:.................................................................4
2.2.2. Khó khăn:.................................................................5
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề............5
2.4. Kết quả thực hiện....................................................................................18
3. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ........................................................................19

i


1.

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài:
Mục tiêu giáo dục Tiểu học là giáo dục toàn diện cho trẻ từ 6 đến 11 tuổi
có những hiểu biết cơ bản về: Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và chăm
sóc sức khoẻ ban đầu. Thực hiện chủ trương dạy đủ môn ở trường Tiểu học,
ngành giáo dục đã không ngừng đổi mới phương pháp dạy học trong tất cả
các môn học nói chung. Mỗi môn học đều góp phần hình thành và phát triển
nhân cách của trẻ, cung cấp cho các em những tri thức cần thiết để phục vụ
cho cuộc sống, học tập và sinh hoạt sao cho tốt nhất và có hiệu quả cao.

1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
1. Đọc và tra cứu tài liệu.
2. Điều tra khảo sát thực tế thu thập thông tin.
3. Mô tả, phân loại và so sánh tư liệu
4. Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.
5. Phương pháp thống kê xử lý số liệu.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận.
Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học là: Hình thành và phát triển ở
học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và
giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy
học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy, cung cấp cho
học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết
sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn ho¸, văn học của Việt Nam
và nước ngoài.
Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt
Nam trong xã hội chủ nghĩa. Các kiến thức về từ loại trong phân môn Luyện
từ và câu ®ãng vai trß rÊt lín trong viÖc thùc hiÖn c¸c môc tiªu
®ã.
Theo tác giả Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung thì “Danh từ, động
từ, tính từ, là ba từ loại cơ bản, chiếm số lượng lớn nhất và thể hiện tương đối
đầy đủ và rõ rệt nhất các tiêu chuẩn phân loại.” (Ngữ pháp Tiếng Việt – trang
77).
Đặc trưng ngữ pháp của danh từ là ý nghĩa thực thể (ý nghĩa chỉ sự vật,
chỉ khái niệm về sự vật và những gì được “sự vật hóa”), nó tồn tại trong thực
tại, được nhận thức và được phản ánh trong tư duy của người bản ngữ như là
những sự vật. Danh từ có khả năng kết hợp với đại từ chỉ định: này, kia, ấy,

phương pháp suy nghĩ, giáo dục các em những tư tưởng lành mạnh, trong
sáng, góp phần hình thành nhân cách cho học sinh.
Môn Tiếng Việt ở Tiểu học bao gồm nhiều phân môn. Mỗi phân môn đều
có nhiệm vụ riêng song mục đích cuối cùng của chúng ta là cung cấp cho học
sinh những kiến thức phổ thông về ngôn ngữ. Trên cơ sở đó rèn luyện kỹ năng
nghe, nói, đọc, viết nhằm giúp học sinh vận dụng các từ đã học vào phân môn
tập làm văn vốn rất hạn chế bởi việc hiểu nghĩa từ loại chưa chính xác.

3


Trong quá trình thực tế trực tiếp giảng dạy tôi thấy học sinh trường tiểu
học nói chung, học sinh lớp 4A nói riêng, việc xác định từ loại Tiếng Việt và
vận dụng từ loại Tiếng Việt vào các kỹ năng nói, viết vẫn con nhiều hạn chế
do một số nguyên nhân sau:
- Do không phân định đúng ranh giới của từ mà học sinh xác định từ loại
sai.
- Nhiều em không nắm vững khái niệm "từ loại" nên không hiểu đúng
yêu cầu của bài tập.
- Khi xác định từ loại học sinh còn gặp khó khăn trong những trường hợp
mà nghĩa của từ hoặc dấu hiệu hình thức không rõ ràng.
- Thời gian luyện tập, số tiết luyện tập về từ loại Tiếng Việt ở chương
trình lớp 4 còn chưa nhiều.
Sau đây là bảng thống kê kết quả của học sinh lớp 4A năm học 2016 –
2017 (tháng 9/2016) làm một số bài tập về thực hành từ loại Tiếng việt có
trong chương trình hiện hành khi chưa thực hiện đề tài này.
KÕt
q

9 -10


28


S.L
T.S HS
25

1

%
4

2.2.1. Thuận lợi:
- Phòng giáo dục, Đảng ủy, Ủy ban xã Hoằng Anh và đặc biệt là Ban
giám hiệu trường Tiểu học Hoằng Anh đã và đang quan tâm đầu tư để không
ngừng nâng cao chất lượng giáo dục học sinh Tiểu học nói chung và việc
nâng cao kỹ năng phân môn Tiếng Việt của học sinh Tiểu học nói riêng.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được đầu tư đồng bộ, đầy đủ.
- Phần lớn phụ huynh đã quan tâm đến việc học tập của con cái.
- Đa phần học sinh có trí nhớ tốt, có khả năng tiếp thu nhanh và tích cực,
chịu khó trong học tập.

4


2.2.2. Khó khăn:
- Do trình độ dân trí còn chưa cao, đặc biệt là kiến thức về từ loại của các
bậc phụ huynh còn nhiều hạn chế.
- Thời gian luyện tập, số tiết luyện tập về từ loại Tiếng Việt ở chương

chỉ
trạng
thái

Tính từ

ĐT
chỉ
hoạt
động

Chỉ t/c
chung
không kèm
mức độ

Đại từ

Chỉ t/c ở
mức độ
cao nhất

Quan hệ từ

Đại từ
chỉ
ngôi

Ghi nhớ :
- Dựa vào sự giống nhau về đặc điểm ngữ pháp, các từ được phân ra

Gần nhau: Sách vở, nhà cửa, chim chuột…
Giống nhau: Phố xá, làng xóm, chim chóc, chùa chiền, thuyền bè….
* Khả năng kết hợp.
- Có khả năng kết hợp với với từ tất cả, tất thảy, cả….
VD: Tất cả bàn ghế đã kê ngay ngắn.
- Có khả năng kết hợp với danh từ chỉ đơn vị.
VD: Một / đàn / cò trắng đang bay lượn trên cánh đồng.
- Có khả năng kết hợp với từ chỉ số lượng .

6


VD: Ba bà cháu rất yêu thương nhau.
a.3.2. Nhóm danh từ chỉ loại - danh từ chỉ đơn vị.
Danh từ chỉ loại.
Mang ý nghĩa mờ nhạt không biểu thị sự vật hiện tượng nào: con, cây,
cục, cái, bức, chiếc, hòn, tấm….chúng thương đứng trước danh từ chungđể có
tác dụng loại biệt hóa, cá thể hóa cho danh từ chung đó.
Chẳng hạn:
+ Cái, chiếc - danh từ chỉ sự vật.
- Khi chiếc lá xa cành
Lá không còn màu xanh.
- Cái bàn ba chân.
+ Con - danh từ chỉ động vật.
Con cò bay lả bay la
Bay từ ngọn cỏ bay ra cánh đồng.
Ca dao
+ Tấm :
- Danh từ chỉ sự vật có bề mặt mỏng, trọn vẹn.
Tấm ảnh, tấm lịch, tấm thảm, tấm ván….

VD: Tất cả xì dầu được mua hôm nay là 3 chai.
- Có khả năng kết hợp với cái chỉ xuất.
VD : Đem cái bình ấy đến phòng học lớp 4A.
- Không có khả năng kết hợp với từ chỉ số lượng
VD: Hai vàng này ( - )
Ba thịt ( - )
Danh từ chỉ người.
Ý nghĩa:
Chỉ quan hệ thân thuộc, nghề nghiệp, chức vụ của người trong xã hội:
ông, bà, cha, mẹ, bác sĩ, công nhân, giáo viên, thủ trưởng….
* Khả năng kết hợp:
- Có khả năng kết hợp với tất cả…
VD: Tất cả các bạn học sinh đều có mặt đầy đủ.
- Có khả năng kết hợp với từ chỉ số lượng.
VD : Lớp ta có 25 học sinh.
- Có khả năng kết hợp với cái chỉ xuất
VD: Cái con người ấy, ai cầu mà chi.
Danh từ chỉ động, thực vật.
* Ý nghĩa: Thường chỉ loài vật hoặc thực vật.
* Khả năng kết hợp:
- Có khả năng kết hợp với từ tất cả…
VD: Tất cả chú chim chích bông đã bay đi mất.
- Có khả năng kết hợp với từ chỉ số lượng:

8


VD: Ba con lợn rừng
Tám cây chanh
- Có khả năng kết hợp với cái chỉ xuất.

VD: Bác đã đi rồi sao Bác ơi! (Tố Hữu )
Bác ấy đứng tuổi rồi.

9


+ Một số từ mang đặc điểm ngữ pháp của tính từ (kết hợp được với các từ
chỉ mức độ )
+ Một số từ vừa được coi là động từ chỉ hành động, lại vừa được coi là
động từ chỉ trạng thái.
- Các động từ sau đây cũng được coi là động từ chỉ trạng thái (trạng thái
tâm lí ) : yêu, ghét, kính trọng, chán, thèm, hiểu,...Các từ này mang đặc điểm
ngữ pháp của tính từ, có tính chất trung gian giữa động từ và tính từ.
- Có một số động từ chỉ hành động được sử dụng như một động từ chỉ trạng
thái.
VD: Trên tường treo một bức tranh rất đẹp.
- Động từ chỉ trạng thái mang một số đặc điểm về ngữ pháp và ngữ nghĩa
giống như tính từ. Vì vậy, chúng có thể làm vị ngữ trong câu kể: Ai thế nào ?
3.3.1.3. Tính từ:
c.1. Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của sự vật,
hoạt động, trạng thái.
Ví dụ: - xanh, đỏ, xanh biếc, đỏ thắm (chỉ màu sắc)
- vuông, tròn, thon (chỉ hình thể)
- to, nhỏ,dài, ngắn...(chỉ kích thước)
- nặng, nhẹ, nhiều, ít...(chỉ khối lượng, dung lượng)
- tốt, xấu, thông minh...(chỉ phẩm chất)
c.2 . Có hai loại tính từ:
* Tính từ chỉ tính chất chung, không có mức độ. Ví dụ: xanh, đỏ, dài,
tốt...
* Tính từ chỉ tính chất có xác định mức độ hoặc có tác dụng gợi tả hình

nào? chỗ nào? khi nào?...)
- Các động từ và tính từ đi kèm: sự, cuộc, nỗi, niềm, cái,... ở phía trước
thì tạo thành một danh từ mới (sự hi sinh, cuộc đấu tranh, nỗi nhớ, niềm
vui,...)
- Chức năng ngữ pháp thay đổi cũng cũng dẫn đến sự thay đổi về thể loại:
VD: Sạch sẽ là mẹ sức khoẻ. ( sạch sẽ (tính từ đã trở thành danh từ)
* Động từ:
- Có khả năng kết hợp với các phụ từ mệnh lệnh: hãy, đừng, chớ,... ở
phía trước (hãy nhớ, đừng băn khoăn, chớ hồi hộp,...)
- Có thể tạo câu hỏi bằng cách đặt sau chúng từ bao giờ hoặc bao lâu
(tính từ không có khả năng này) (đến bao giờ? chờ bao lâu?...)
*Tính từ:
- Có khả năng kết hợp được với các từ chỉ mức độ như : rất , hơi, lắm,
quá, cực kì, vô cùng,... (rất tốt, đẹp lắm,...)
* Lưu ý: Các động từ chỉ cảm xúc (trạng thái) như: yêu, ghét, xúc
động,... cũng kết hợp được với các từ: rất, hơi, lắm,.... Vì vậy, khi còn băn

11


khoăn một từ nào đó là động từ hay tính từ thì nên cho thử kết hợp với hãy,
đừng, chớ,...Nếu kết hợp được thì đó là động từ.
2.3.3. Biện pháp 3. Thực hành các dạng bài tập về từ loại.
2.3.3.1. Dạng bài tập khắc sâu khái niệm “từ loại”:
Ví dụ: Cho các từ sau: núi đồi, rực rỡ, chen chúc, vườn, dịu dàng, ngọt,
thành phố, ăn, đánh đập. Hãy xếp những từ trên thành các nhóm theo hai
cách:
a, Dựa vào cấu tạo (từ đơn, từ ghép, từ láy)
b, Dựa vào từ loại ( danh từ, động từ, tính từ)
- Ở bài tập này học sinh phải củng cố về kiến thức thế nào là chia từ theo

niềm vui
đáng yêu

Tính từ
vui chơi
yêu thương
12


Kiểu 2: Xác định từ loại trong đoạn thơ văn có sẵn:
VD 1: Xác định động từ, danh từ, tính từ trong hai câu thơ của Bác Hồ:
“ Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay
Vượn hót chim kêu suỗt cả ngày”
- Ở bài tập này, học sinh cần phải xác định ranh giới các từ rồi xét ý nghĩa
và các khả năng kết hợp của từ rồi xếp.
“Cảnh / rừng / Việt Bắc / thật là / hay
Vượn / hót / chim / kêu / suốt /cả /ngày”
Danh từ
cảnh, rừng, Việt Bắc, vượn,
chim, ngày

Động từ

Tính từ

hót, kêu

hay

VD 2: Xác định động từ, danh từ, tính từ trong các câu sau:


Dừa nghiêng, cau thẳng, hàng hàng nắng soi.
- Ở bài tập này học sinh xác định các tính từ: đẹp, cao, đầy, xum xuê,
nghiêng, thẳng một cách dễ dàng. Khi xét đến: “trời riêng”, “xoài biếc”,
“nắng chang” các em lúng túng không biết đây là một từ hay hai từ nên nhiều
em xác định từ loại sai. Vậy giáo viên phải củng cố và khắc sâu kiến thức
này: chỉ cho các em biết đây là hai từ đơn và các tính từ là “riêng” “biếc”
“chang”.
2.3.3.4. Dạng bài tập xác định từ loại trong những trường hợp dấu
hiệu hình thức từ loại không rõ:
VD: Xác định từ loại của các từ trong các thành ngữ sau:
- Đi ngược, về xuôi
- Nước chảy, đá mòn
- Nhìn xa trông rộng
- Nước chảy bèo trôi
Các từ loại học sinh xác định nhanh và rõ ràng chính xác là “đi, về”
“chảy”, “trôi”, “nhìn, trông” là động từ; “nước, đá” “nước, bèo” là danh từ;
“xa, rộng” là tính từ. Nhưng các em lúng túng và hay xếp các từ “ngược”,
“xuôi” là động từ, “mòn” tính từ. Vậy giáo viên phải phân tích ý nghĩa của từ
và hướng dẫn học sinh xếp từ “ngược” “xuôi”, là tính từ, “mòn” là động từ
chứ không phải là tính từ.
Danh từ
nước, đá, nước, bèo

Động từ
Tính từ
đi, về, chảy, trôi, ngược, xuôi, xa, rộng
nhìn, trông, mòn

Lưu ý: Ở dạng này học sinh có thể cho thêm một số ví dụ để xác định từ

4. Mẹ em mua hai cân muối.
5. Anh ấy ước mơ nhiều điều.
6. Những ước mơ của anh ấy thật lớn lao.
+ Ở bài tập này học sinh phải dựa vào ý nghĩa của từ trong văn cảnh.
- Từ “suy nghĩ ”, “muối”, ước mơ” vốn là động từ nhưng trong các câu
2, 4, 6 thì không còn là động từ nhờ vào sự kết hợp. Các động từ kết hợp với
từ “những” nên nó là danh từ.
Vậy các từ “suy nghĩ ”, “muối”, “ước mơ” ở câu 1, 3, 5 là động từ còn
các từ “suy nghĩ ”, “muối”, “ước mơ” ở câu 2, 4, 6 là danh từ.
2.3.3.6. Dạng bài tập xác định từ loại tuỳ trong văn cảnh mà từ loại
cũng có thể thay đổi.
VD1: Xác định từ loại của từ “danh dự” trong câu văn sau:
“Ngay thềm lăng, mười tám cây vạn tuế tượng trưng cho một đoàn quân
danh dự đứng trang nghiêm”
- Ở bài tập này học sinh phải dựa vào ý nghĩa của từ trong văn cảnh.
- Từ “danh dự” vốn là danh từ
- Trong câu văn: Từ được sử dụng để chỉ đặc điểm nên ta xếp từ “danh
dự” vào từ loại là tính từ.

15


VD2: Xác định từ loại của từ “ngược”, “xuôi” trong 2 câu sau:.
1. Đi ngược về xuôi.
2. Họ đang ngược Thái Nguyên, còn tôi xuôi Thái Bình
Ở bài này ta thấy : + từ “ngược”, “xuôi” ở câu 1 là tính từ.
+ từ “ ngược”, “xuôi” ở câu 2 là động từ.
2.3.3.7. Dạng bài tập xác định chức vụ ngữ pháp của một từ loại khi nó
đứng ở những vị trí khác nhau.
VD: Xác định từ loại của từ thật thà và chỉ rõ nó giữ chức vụ ngữ pháp

16


a- Chuẩn bị hai bảng phụ có chép sẵn và các băng giấy có ghi các danh
từ cần điền: con diều, con sóng, con tàu, con thuyền, con mắt.
Các dòng thơ được chép sẵn trên bảng phụ:
……… cưỡi sóng ra khơi.
……… chao lượn ngang trời hè vui.
……… dừng lại sân ga.
Đầy vơi………… hiền hoà dòng sông.
……… của sổ tâm hồn.
b- Cách tiến hành:
Chọn 5 em một đội và có 2 đội thi. Nếu đội nào gắn các danh từ đúng và
nhanh sẽ thắng.
* Mục đích: Luyện điền nhanh danh từ dựa vào ý nghĩa của câu thơ.
VD2: “Điền động từ”
a) Chuẩn bị
- Các động từ được ghi sẵn vào các băng giấy: vỗ, tha, nhuộm,
đánh thức, dậy, rải.
- Ghi vào 2 bảng phụ hoặc 2 tờ giấy to đoạn thơ:
“ Tiếng chim ……. lá cành
Tiếng chim …… chồi xanh … cùng
Tiếng chim …… cánh bầy ong
Tiếng chim …… nắng … đồng vàng thơm”
b) Cách tiến hành: Chọn 2 đội chơi, mỗi đội có 4 học sinh. Mỗi học sinh
điền một dòng thơ cho đúng. Sau đó mỗi đội cử một bạn đọc diễn cảm đoạn
thơ, biết nhấn mạnh vào các động từ vừa điền. Tính điểm mỗi đội có 2 phần:
- Điền nhanh, đúng.
- Đọc thơ hay.
* Mục đích của trò chơi: Luyện tập sử dụng động từ đúng chỗ nhằm hoàn

các đoạn văn miêu tả
2.4. Kết quả thực hiện
Sau khi nhận lớp, tôi có ngay ý định áp dụng các biện pháp mà mình đã
nghĩ từ lâu. Thời gian đầu, tôi tiến hành cho các em làm bài tập tìm 3 từ loại
danh từ, động từ, tính từ.... mà không áp dụng các biện pháp của đề tài. Thời
gian tiếp theo, tôi áp dụng các biện pháp của đề tài để các em nhận diện về
danh từ, động từ, tính từ rồi sau đó mới cho các em làm bài tập kiểm nghiệm
lại. Kết quả thật đáng phấn khởi, so với lúc chưa áp dụng thì bây giờ hiệu quả
làm bài của học sinh đạt cao. Từ cơ sở này, các em phân tích về các loại câu
khá chính xác, tìm chủ ngữ và vị ngữ cũng khá dễ dàng.
Qua việc cung cấp kiến thức cơ bản về từ loại và học sinh thực hành các
dạng bài tập về xác định và sử dụng từ loại đối với họ sinh lớp 4, tôi nhận thấy:
1. Học sinh đã nắm vững về thuật ngữ từ loại.
2. Phân biệt các từ loại cơ bản: danh từ, động từ, tính từ nhanh, chính
xác, ít bị nhầm lẫn.

18


3. Biết sử dụng các từ loại trong câu văn đúng chỗ.
4. Học sinh tự tin, hào hứng khi học đến phần này.
5. Kết quả môn học được nâng cao.
Sau đây là bảng thống kê kết quả ( tháng 3/2017) của học sinh lớp 4A,
làm một số bài tập về thực hành từ loại Tiếng việt có trong chương trình Tiểu
học hiện hành khi đã thực hiện đề tài này.
KÕt
qu¶
T.S HS
25


13

52%

5

20%

0

0%

3. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
Lớp 4 các em cần có kiến thức vững chắc về từ loại Tiếng Việt để có thể
học tốt ở những năm tiếp theo. Là một giáo viên tiểu học, tôi đã lưu ý nghiên
cứu nội dung và phương pháp truyền thụ, có một hệ thống các bài tập giúp
học sinh thực hành để củng cố kiến thức này. Đặc biệt, luôn phải lấy học sinh
làm trung tâm, khuyến khích các em tìm tòi và tự rút ra những kết luận cho
mình. Có như vậy, các em mới nhớ kỹ, nhớ lâu những kiến thức mới khám
phá. Đặc biệt, tôi rất chú ý thời điểm và thời lượng tung ra các dạng bài tập và
tổ chức các trò chơi phù hợp. Mạnh dạn đề xuất ý kiến điều chỉnh một số nội
dung chưa hợp lý và bổ sung những kiến thức làm nội dung phong phú hơn,
chất lượng hơn. Giáo viên luôn có ý thức tôn trọng nhân cách và ý kiến của
học sinh trong giờ học. Vận dụng hợp lý các hình thức khen thưởng kịp thời,
nhắm khuyến khích học sinh mạnh dạn, chủ động, sáng tạo trong học tập,
kích thích lòng ham học và ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập của học
sinh. Xác định từ loại chính xác cho các từ trong văn bản tiếng Việt là vấn đề
rất quan trọng trong lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên. Việc xác định này sẽ
hỗ trợ cho việc phân tích cú pháp các văn bản, góp phần giải quyết tính đa
nghĩa của từ và trợ giúp các hệ thống rút trích thông tin hướng đến ngữ nghĩa.

Hoằng Anh, ngày 25 tháng 3 năm 2017
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

NGƯỜI VIẾT SKKN
Tơi xin cam đoan đây là SKKN
bản thân tự viết, khơng sao chép
nội dung của người khác

20


Tào Quang Đổng

Lê Thị Tâm

21


Tài liệu tham khảo
STT

Tên tác giả

Tên tài liệu tham khảo

Nhà XB

Năm XB

1


Lê Phương Nga

Dạy học ngữ pháp ở Tiểu
học

Giáo dục

2000

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status