MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU..............................................................................................
1.1. Lí do chọn đề tài................................................................................
1.2. Mục đích nghiên cứu.........................................................................
1.3. Đối tượng nghiên cứu........................................................................
1.4. Phương pháp nghiên cứu..................................................................
2. NỘI DUNG..........................................................................................
2.1. Cơ sở lí luận......................................................................................
2.2. Thực trạng........................................................................................
2.3. Các giải pháp.....................................................................................
2.3.1. GV sử dụng câu hỏi gợi mở, phương pháp đàm thoại để học sinh
liên hệ thực tế:.........................................................................................
2.3.2. GV tích hợp liên môn trong giờ dạy học:..........................................
2.3.3. Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy – học.....................................
2.4. Hiệu quả…………………………………………………………..........
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ……………………………………………….
3.1. Kết luận…………………………………………………………..……..
3.2. Kiến nghị…………………………………………………………..........
01
01
01
02
02
02
02
03
04
04
04
06
“Tác phẩm tồn tại trong chương trình Ngữ văn lớp 9 khoảng 10 năm nay,
một khoảng thời gian chưa phải là dài nhưng rõ ràng là không quá mới mẻ. Thế
nhưng trên thực tế giảng dạy cũng như các nguồn tài liệu hướng dẫn cho giáo
viên, tôi nhận thấy chưa thực sự đáp ứng được những điều đã nói trên.”
[1]. Tôi đã từng được dự tiết học này trong các đợt thực tập bài khó ở một số
trường, xem trên mạng cũng như đã tham khảo những tài liệu hướng dẫn của
NXB Giáo dục ban hành,... Tất cả đều có một điểm chung, đó là họ chưa quan
tâm sâu sắc và triệt để tới mục đích giáo dục học sinh của bài thơ là: tình yêu
quê hương đất nước và ý thức về cội nguồn dân tộc, mà theo tôi đây mới là bức
thông điệp xuyên thế hệ mà nhà văn muốn gửi tới thế hệ trẻ.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đi sâu tìm hiểu và thực hiện đề tài Giáo
dục tình yêu quê hương và ý thức cội nguồn dân tộc qua bài thơ “Nói với
con” của Y Phương (Ngữ văn 9) cho học sinh lớp 9- trường THCS Luận
Thành – Thường Xuân.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Giáo dục tình yêu nước và ý thức cội nguồn dân tộc qua bài thơ “Nói với
con” thông qua nội dung và phương pháp dạy học tích cực.
- Bồi đắp tình yêu quê hương đất nước và ý thức cội nguồn với dân tộc Việt
Nam nói chung và quê hương học sinh nói riêng, từ tình cảm ý thức đó để có
những hành động cụ thể.
2
- Góp phần giáo dục ý thức sống cao đẹp cho học sinh để các em luôn tự
hào về quê hương đồng thời biết giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc mình nói riêng
và dân tộc Việt Nam nói chung trong thời đại ngày nay.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài khảo sát, nghiên cứu là bài thơ “Nói với con” của Y Phương.
- Phương pháp giảng dạy bài thơ “Nói với con” để bồi đắp, giáo dục tình
nguyên tắc áp đặt của pháp luật hay những lời giáo huấn trực tiếp trong những
bài giảng về đạo đức, bởi văn học giáo dục con người bằng con đường đi từ cảm
xúc đến nhận thức, bằng cái thật, cái đẹp của những hình tượng sinh động, đầy
sức thuyết phục. Có lẽ vì thế, tác dụng giáo dục của văn học không phải ngay lập
tức mà dần dần thấm sâu nhưng rất lâu bền, nó gợi ra những cảm nghĩ sâu xa về
cuộc đời và con người, nó gián tiếp đưa ra những bài học, những đề nghị về cuộc
sống.
3
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
- Về phía học sinh:
+ Thực tế hiện nay môn Ngữ văn đang dần mất đi vị trí quan trọng của
nó, là một môn học có vai trò quan trọng mà được xếp sau một số môn học được
coi là thực tế hơn để định hướng nghề nghiệp trong tương lai. Hơn nữa, văn
chương lại là một môn học thường phải ghi chép nhiều, khó nhớ. Tâm lí các em
hiện nay có sự thay đổi: các em thích kiểu “mì ăn liền”, thích nhanh chóng thuận
lợi, nhẹ nhàng. Vì thế, có nhiều em ham mê đọc truyện tranh, đọc một cách
“ngấu nghiến”, bỏ ăn, ngủ, học vùi đầu vào cuốn truyện tranh nhưng lại quay
lưng lại với môn Ngữ văn.
+ Cùng với sự giao lưu và hội nhập kinh tế văn hóa thế giới thì một bộ
phận không nhỏ thanh thiếu niên đang bị mai một các giá trị đạo đức, truyền
thống như: cội nguồn dân tộc, yêu quê hương đất nước... Các em bắt chước
nhiều văn hóa “ngoại lai” không phù hợp với thuần phong mĩ tục của con người
Việt Nam như: cách ăn mặc rất “mới”, ngôn ngữ nói năng nửa tây nửa ta, cách
sống, cách nghĩ cũng rất “tây”,...
+ Mỗi học sinh đều có ước mơ, hầu hết các em đều mơ sau này có cuộc
sống, có công ăn việc làm ổn định ở các thành phố lớn có điều kiện kinh tế phát
triển và hầu như chưa có mong muốn trở về cống hiến cho quê hương, nơi mình
sinh ra và lớn lên.
hệ thực tế:
Câu hỏi giáo dục tình cảm gia đình: Em thấy gia đình có vai trò như thế nào
đối với cuộc đời mỗi con người, và em phải làm gì để xứng đáng với gia đình
của mình?
Cội nguồn sinh dưỡng đầu tiên trong cuộc đời của mỗi con người đó chính
là gia đình (ông bà, cha mẹ, anh chị em ruột). Chính vì lẽ đó, mỗi chúng ta hãy
nặng lòng thiết tha với những người thân yêu ruột thịt, hãy vun đắp, xây dựng
và giữ gìn mái ấm gia đình. Đó cũng chính là triết lí sống, lẽ sống muôn đời của
con người, bởi “Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ, gánh nặng cuộc đời
không ai khổ bằng cha”.
Câu hỏi giáo dục tình yêu quê hương và ý thức về cội nguồn dân tộc: Quê
hương dân tộc Tày đẹp là vậy, còn quê hương em có những vẻ đẹp gì? Từ đó em
thấy quê hương có ý nghĩa như thế nào đối với em?
Mỗi vùng quê trên đất nước cong cong hình chữ S này đều có những đặc
trưng, dấu ấn riêng không thể phai mờ. Nó là hoài niệm, là nỗi nhớ da diết đối
với những người xa quê. Em rất tự hào vì mình được sinh ra và lớn lên ở mảnh
đất xứ Thanh yêu dấu, mảnh đất “địa linh, nhân kiệt”, ôm trọn trong lòng cả
hai nền văn minh nhân loại, nơi “ Núi Đọ gặp xương cốt tổ, ruộng Đông Sơn
nghe hùng khí trống đồng”,… Thanh Hóa có núi Ngọc Hàm Rồng đã đi vào
huyền thoại, có sông Mã kiêu hùng, có đá vọng phu thủy chung son sắt, có di
sản văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ sừng sững hiên ngang, chùa Cửa Đạt thanh
tịnh, bình yên…
Câu hỏi giáo dục tình yêu quê hương: Quê hương em vẫn đang còn rất nghèo
khó, vậy em có thái độ như thế nào?
Câu hỏi giáo dục tình yêu quê hương: Nếu được giới thiệu về vẻ đẹp và
truyền thống quê hương mình, em sẽ giới thiệu như thế nào? Em sẽ làm gì để
góp phần xây dựng quê hương mình giàu đẹp hơn?
2.3.2.GV tích hợp liên môn trong giờ dạy:
Tích hợp liên môn Lịch sử- Địa lí- Ngữ văn: Qua môn học lịch sử và địa lí,
em hãy giới thiệu một vài nét về tỉnh Cao Bằng- quê hương của tác giả?
GV: Trong chương trình Ngữ văn lớp 9, các em đã được học rất nhiều tác phẩm
thể hiện tình yêu làng, yêu quê hương đất nước, yêu cội nguồn và niềm tự hào
dân tộc, em hãy kể tên một số tác phẩm?
HS: “Làng” (Kim Lân), “Đồng chí” (Chính Hữu), “Bếp lửa” (Bằng Việt),...
*Giới thiệu bài mới : phần giới thiệu bài có tác dụng thu hút sự chú ý, hứng
thú, tích cực chủ động của học sinh.
Như vậy với mỗi nhà văn, ở từng vùng miền trong những thời điểm lịch
sử khác nhau lại có những cách thể hiện khác nhau về tình yêu quê hương và cội
nguồn dân tộc mình. Bài thơ “Nói với con” của Y Phương – người dân tộc Tày
(ở vùng núi phía Bắc, tỉnh Cao Bằng) là một trong những thi phẩm thể hiện đề
tài ấy. Với cách nói xúc động, chân thành mang một bản sắc riêng của người dân
tộc, tác phẩm “Nói với con” đến với người đọc thật chân thành, trìu mến và đáng
tin cậy.
Hoạt động của GV & HS
Nội dung
Hoạt động 1: Hướng dẫn tìm hiểu chung I . Tìm hiểu chung .
về tác giả, tác phẩm .
1 . Tác giả :
GV cung cấp một số thông tin ngoài văn bản - “Y Phương (1948) tên thật là
như: Tác giả (Quê hương, đặc điểm phong Hứa Vĩnh Sước, sinh ra và lớn
cách thơ); hoàn cảnh ra đời của bài thơ, đặc lên trên mảnh đất Trùng
biệt nhấn mạnh đến sự ảnh hưởng của yếu tố Khánh – Cao Bằng. Một mảnh
quê hương đến hồn thơ Y Phương; đồng thời đất mà như lời thơ ông từng
cho học sinh nhận thấy bài thơ được viết giới thiệu: có cái gió Thổi ầm
trong một bối cảnh khá đặc biệt.
ầm / Dội ào ào / Chén rượu
GV: Trình chiếu chân dung Y Phương
vừa rót ra / Đã lạt đi một
nửa / Chén trà vừa rót ra / Đã
nguội tanh, nguội ngắt (Gió
gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Ông sinh hoạt
như một người Tày giữa lòng thủ đô Hà
Nội, ông tự hào vì mình là người dân tộc
Tày.
Chính những nét trên về tác giả đã
chứng tỏ Y Phương là nhà văn có tình yêu
quê hương và ý thức về cội nguồn dân tộc
Tày của mình rất sâu sắc, mãnh liệt vì ông
quan niệm “Văn chương là một việc làm để
trả ơn những người sinh thành và nuôi
dưỡng mình”.
- Thơ ông vừa hồn nhiên chân
? Nêu đặc điểm thơ của Y Phương ?
chất vừa sâu lắng, suy tư thể
hiện tâm hồn chân thật, mạnh
mẽ và trong sáng, cách tư duy
giàu hình ảnh của con người
miền núi.
2. Tác phẩm :
8
a. Hoàn cảnh ra đời: Bài thơ
? Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ?
được viết vào năm 1980, là lời
GV: Nhà thơ tâm sự: “Đó là thời điểm đất người cha nói với con mà cũng
nước ta gặp vô vàn khó khăn… Bài thơ là là nói với chính mình.
lời tâm sự của tôi với đứa con gái đầu lòng.
Tâm sự với con, còn là tâm sự với chính
mình. Nguyên do thì nhiều, nhưng lí do lớn
? Em có nhận xét gì từ bố cục này ?
tha mà nâng lên lẽ sống .
II . Phân tích :
1 . Nói với con về cội nguồn
Hoạt động 2 : Hướng dẫn phân tích .
sinh dưỡng:
- Học sinh đọc 4 câu đầu .
a. Tình yêu thương của cha
? 4 câu thơ đầu cho em cảm nhận được điều mẹ:
gì ?
- Hình ảnh :
Câu hỏi giáo dục tình cảm gia đình: Em
Chân bước -> cha
thấy gia đình có vai trò như thế nào đối với
Chân bước -> mẹ
cuộc đời mỗi con người, và em phải làm gì => Không khí gia đình đầm
9
để xứng đáng với gia đình của mình?
Cội nguồn sinh dưỡng đầu tiên trong
cuộc đời của mỗi con người đó chính là gia
đình (ông bà, cha mẹ, anh chị em ruột).
Chính vì lẽ đó, mỗi chúng ta hãy nặng lòng
thiết tha với những người thân yêu ruột thịt,
hãy vun đắp, xây dựng và giữ gìn mái ấm
gia đình. Đó cũng chính là triết lí sống, lẽ
sống muôn đời của con người, bởi “Đi khắp
thế gian không ai tốt bằng mẹ, gánh nặng
cuộc đời không ai khổ bằng cha”.
không chỉ là một bức vách cụ thể bằng đất
đá nữa mà nó đã trở thành một chủ thể văn
ấm, quấn quýt .
-> Tư duy đặc trưng của người
miền núi .
- Từng bước đi, tiếng nói,
tiếng cười được cha mẹ chăm
chút, vui mừng đón nhận .
b. Nghĩa tình quê hương
- “Người đồng mình” là những
người cùng sống trên một
miền đất, cùng chung quê
hương, bản quán, cùng là
người dân tộc Tày của mình,
thể hiện niềm tự hào, thân
thương và gần gũi.
- Đan lờ đánh cá: dưới bàn tay
của người Tày những nan nứa,
nan tre trở thành nan hoa =>
Sự khéo léo, tài hoa của
“người đồng mình”.
- Vách nhà không chỉ ken
bằng gỗ mà ken bằng cả câu
hát => thể hiện tâm hồn vui
tươi, lạc quan yêu đời của họ.
- Động từ “ken”, “cài” không
chỉ miêu tả sự khéo léo, chăm
chỉ trong lao động mà còn thể
GV: Bằng những hình ảnh thơ đẹp, gần gũi,
bằng cách nói cụ thể, độc đáo, giản dị, người
cha gợi nhắc con về cội nguồn sinh dưỡng,
đó là tình yêu thương chăm bẵm của cha mẹ,
gia đình, là nghĩa tình, sự che chở của quê
hương làng xóm, tất cả cùng nuôi dưỡng con
cả về tâm hồn và lối sống. Viết về quê
hương mỗi nhà thơ có một cách thể hiện
khác nhau, nếu như với Đỗ Trung Quân là
“chiếc cầu tre nhỏ”, với Tế Hanh là “cái mùi
nồng mặn quá”, với Giang Nam thì “yêu quê
hương qua từng trang sách nhỏ”,… thì Y
Phương lại biểu lộ tình yêu và niềm tự hào
về quê hương qua vẻ đẹp của rừng và tình
cảm trên những con đường.
Câu hỏi giáo dục tình yêu quê hương và ý
thức về cội nguồn dân tộc: Quê hương dân
tộc Tày đẹp là vậy, còn quê hương em có
những vẻ đẹp gì? Từ đó, em thấy quê hương
có ý nghĩa như thế nào đối với em?
- “Con đường cho những tấm
lòng” => Nhân hoá, gợi hình
ảnh những con đường uốn
khúc chảy qua thời gian, đó là
nơi gặp gỡ của tình người, là
bóng dáng của quê hương đã
in dấu những bước chân đi
ngược về xuôi, làm ăn sinh
sống của những con người nơi
chung với quê hương, biết
chấp nhận và vượt qua gian
? Cuộc sống của “người đồng mình” như thế nan, thử thách bằng ý chí,
nào?
niềm tin của mình .
+ Muốn con tự hào với truyền
thống quê hương -> tự tin
vững bước trên đường đời
=> Người cha thể hiện tình
cảm yêu thương, trìu mến thiết
tha và niềm tin tưởng của
người cha vào người con .
- Nỗi buồn được đo bằng
chiều cao của đất trời, chí lớn
? Hãy chỉ ra sự độc đáo trong cách diễn đạt được đo bằng độ xa của không
ở hai câu thơ “Cao đo nỗi buồn, xa nuôi chí gian.
lớn”?
- “Sống trên đá không chê đá
gập ghềnh, Sống trong thung
? Sống trong hoàn cảnh đó “người đồng không chê thung nghèo đói,…
mình” có thái độ như thế nào?
Lên thác xuống ghềnh”, tác
Còn nhiều lắm những khó khăn, vất vả, còn giả sử dụng thành ngữ và điệp
rộng dài lắm những thử thách chông gai ngữ để nhấn mạnh cuộc sống
nhưng trên từng chặng đường gian khó ấy, khó khăn, vất vả, nghèo đói.
người đồng mình vẫn vững vàng cứng cỏi, - Điệp ngữ “ sống”, “không
vẫn đứng thẳng trong tư thế kiêu hãnh hiên chê”, “không lo” => Bản lĩnh
ngang, luôn thủy chung với nơi “chôn rau sống vững vàng, sẵn sàng chấp
cắt rốn” của mình. Cốt cách ấy, suy nghĩ ấy nhận, luôn thủy chung với nơi
vốn là điều sẵn có bao đời nay của con “chôn rau cắt rốn” của mình.
mạnh mẽ, khỏe khoắn qua âm hưởng điệu
hò sông Mã, mềm mại, duyên dáng, dịu
dàng qua điệu múa đi cấy. Những con người
giản dị, hiền lành như đất quê Thanh, biết
vượt qua gian khổ để vươn lên. Người
Thanh Hóa anh dũng trong chiến đấu, cần
cù trong lao động và có truyền thống hiếu
học đến vô cùng. Đó còn là những con
người có tâm hồn lãng mạn, thủy chung,
nhân hậu. Qua đó dấy lên trong em tình yêu
và niềm tự hào đối với quê hương mến yêu
và ý thức giữ gìn nguồn cội, xây dựng và
bảo vệ quê hương đất nước. Trong xã hội
ngày hôm nay, tuổi trẻ chúng em cũng có
nhiều việc làm thiết thực để xây dựng quê
ắp tình người.
- Cách nói đối lập giữa hình
thức bên ngoài với vẻ đẹp
phẩm chất bên trong. “Thô sơ
da thịt” là sự thô ráp về làn da
mái tóc do dãi nắng dầm mưa
trong trang phục giản dị của
áo chàm, khăn piêu nhưng ý
chí, cách sống thì “không nhỏ
bé”. Tức là không sống cúi
mình, cam chịu, mặc cảm, tự ti
mà luôn ngẩng cao đầu, tự tin
và cao thượng.
- Đây là cách nói độc đáo, đặc
hương giàu đẹp: đó là phong trào chung tay
xây dựng nông thôn mới, em rất tự hào vì
quê hương Thường Xuân chúng em; hay
những tấm gương phát triển kinh tế “sinh ra
từ làng”, nhiều những tấm gương sau khi
học xong trở về quê hương làm cán bộ xã, y
tế trạm và dạy học để làm giàu cho quê
mình.
? Em có suy nghĩ gì về lời dạy của Y
Phương?
Bài thơ được Y Phương viết vào
những năm đất nước gặp vô vàn những khó
khăn. Tác giả so sánh Việt Nam như một
người vừa “ốm dậy”. Ở đây có sự trở mình
để tiếp tục vươn lên, có cả những tranh đấu
giữa xấu- tốt, thiện- ác, muốn sống đàng
hoàng chỉ có một cách là bám víu vào cội
nguồn văn hóa dân tộc. Bởi thế, bài thơ là
lời nói với con nhưng cũng để nói với chính
mình, với dân tộc Tày của ông, nói với đất
nước Việt Nam còn khó khăn, phải biết giữ
gìn và vươn lên bằng văn hóa.
Hoạt động 3: Hướng dẫn tổng kết .
hào ấy con phải suy nghĩ, khi
lớn lên con phải ghi nhớ về
truyền thống tốt đẹp của gia
đình, quê hương; con hãy giữ
gìn, phát huy bản sắc văn hóa
* Hướng dẫn học ở nhà:
- Học bài cũ, làm hoàn chỉnh bài tập phần luyện tập
- Chuẩn bị bài “ Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ý”
- Bài tập: Vẽ tranh về đề tài quê hương em
14
GV: Ở tiết học trước, cô đã phát động vẽ tranh về đề tài quê hương em, bây giờ
xin mời đại diện của các tổ lên trình bày tác phẩm của mình.
HS: Lần lượt đại diện của 3 tổ lên trình bày 3 tác phẩm mà mình đã chuẩn bị.
Tổ 1: Tranh vẽ về sắc xanh quê em.
Tổ 2: Tranh vẽ về cảnh sinh hoạt buổi sáng quê em
Tổ 3: Tranh vẽ cảnh đồng quê vùng núi .
15
GV: Mời giáo viên Mĩ thuật nhận xét về bố cục, đề tài, đường nét, màu sắc,… và
cho điểm để khích lệ các em.
Những tác phẩm của học sinh lớp 9A, 9B vẽ về chủ đề quê hương đã
chứng tỏ các em đã có cảm nhận và tình yêu sâu sắc với những nét đẹp quê
hương.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Qua hơn một năm rút kinh nghiệm và thay đổi, áp dụng những giải pháp
nêu trên, tôi nhận thấy chất lượng dạy và học ở các tác phẩm thể hiện tình yêu
nước và ý thức cội nguồn dân tộc nói chung và bài thơ “Nói với con” của Y
Phương nói riêng được nâng cao rõ rệt. Ở phương diện là một giáo viên trực tiếp
con”của Y Phương, chúng ta thấy được cả một tình yêu quê hương đất nước và
ý thức cội nguồn dân tộc sâu sắc, rộng lớn của một nhà thơ dân tộc Tày. Bằng
sự hiểu biết của mình về tác phẩm em hãy chứng minh.
16
Năm học 2014- 2015, sau khi dạy xong bài thơ không áp dụng đề tài này,
tôi cho học sinh làm bài tập và thu được kết quả như sau:
Lớp
Sĩ
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
số SL %
SL %
SL %
SL %
SL %
9A
31 03
9,68 10
32,2 15 48,3 03 9,68
0
0
5
9
9B
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
9A
30
06
20
14
46,6 10
33,3 0
0
0
0
7
3
9B
32
02
6,25 08
25
20
62,5 02
6,25 0
0
Tổng 62
Sau khi nghiên cứu, tham khảo sáng kiến kinh nghiệm này, bản thân
người dạy và người học sẽ có những nhận thức đầy đủ hơn về tình yêu quê
hương đất nước và ý thức cội nguồn dân tộc trong bài thơ “Nói với con” nói
riêng cũng như trong văn học nói chung. Đặc biệt trong thời buổi kinh tế thị
trường thì việc bồi đắp cho mỗi người tình yêu đối với cội nguồn, dân tộc là thật
sự cần thiết. Từ đó, tôi rất hi vọng kết quả học văn của các em sẽ tốt hơn, các em
sẽ có một niềm yêu thích và đam mê văn chương như một thời của các thầy cô
giáo và từ ý nghĩa giáo dục to lớn của văn chương mà các em có những hành
động cụ thể, thiết thực hơn trong cuộc sống.
3.2. Kiến nghị
- Đối với người giáo viên phải nghiên cứu, tìm tòi và sáng tạo hơn nữa.
- Đồng thời cần có sự ủng hộ, quan tâm giúp đỡ của các cấp lãnh đạo, sự
đóng góp ý kiến rút kinh nghiệm của các bạn đồng nghiệp trong và ngoài
trường.
- Phòng giáo dục cần tổ chức hội thảo chuyên đề cho giáo viên trong từng
năm để giáo viên có dịp trao đổi kinh nghiệm, bàn luận tìm ra biện pháp tối ưu,
tích cực nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn.
Trên đây là những ý kiến của cá nhân, chắc chắn trong khi viết tôi không
tránh khỏi khiếm khuyết. Vậy kính mong các đồng chí trong Hội đồng khoa học
nhà trường và cấp trên góp ý kiến để tôi có thể hoàn thiện hơn nữa sáng kinh
nghiệm này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 03 năm 2017.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
TT
Tên đề tài SKKN
xếp loại
(Phòng,
giá xếp loại
(A, B,
Sở,
hoặc C)
Tỉnh...)
1.
Riệc việc sử dụng dấu câu để Phòng
C
2014- 2015
nâng cao kĩ năng viết câu
đúng ngữ pháp và ngữ nghĩa
cho học sinh lớp 8- trường
THCS Luận Thành.
20