Một số giải pháp góp phần giáo dục học sinh giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt qua dạy học tiết 85 sự giầu đẹp của tiếng việt ( ngữ văn 7) - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH
QUA TIẾT 85, NGỮ VĂN 7: “SỰ GIÀU ĐẸP CỦA TIẾNG VIỆT”
(ĐẶNG THAI MAI)

Người thực hiện:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:
SKKN môn:

Nguyễn Lương Tâm
Giáo viên
Trường THCS Thành Tâm,
huyện Thạch Thành, Thanh Hóa
Ngữ văn

THANH HÓA, NĂM 2017

1


MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU
Trang
1.1. Lý do chọn đề tài…….................................................................
1.2. Mục đích nghiên cứu……….......….......……………………….

6
6
8
11
13
15
16

3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

2


1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Đầu thế kỷ XX, nhân kỷ niệm ngày sinh Nguyễn Du, học giả Phạm Quỳnh đã
sang sảng tuyên ngôn: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn; có
gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ!..." [2]. Lời cụ Phạm không chỉ tỏ bày
sự ái mộ với cụ Nguyễn Tiên Điền, với Truyện Kiều, mà trong sâu thẳm, ta còn thấy
một niềm tự hào sâu sắc lẫn nhiệt huyết lớn lao với tiếng nói dân tộc.
Gần đây, sau buổi thi môn Ngữ văn kỳ thi quốc gia 2016, một loạt tranh cãi đã
diễn ra liên quan đến câu thơ trong bài Tiếng Việt của Lưu Quang Vũ. Đề thi có đoạn:
"Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ"
Nhiều giáo viên, người yêu văn học và cả một số nhà thơ, nhà văn, nhà phê
bình,... cho rằng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhầm lẫn trong đề thi, bởi theo nhiều
người thì câu thơ chính xác phải là: "Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa". Nhưng hãy
khoan bàn luận, tham gia tranh cãi về câu chữ đúng- sai của bài thơ. Nhìn nhận một

đồng âm, chơi chữ; rèn kĩ năng rút gọn câu, mở rộng câu; kĩ năng sử dụng từ và dấu
câu; luyện năng lực chứng minh, giải thích; v.v… Về phần văn bản, Từ Sự giàu đẹp
của tiếng Việt trong văn bản của Đặng Thai Mai, ta có thể cảm nhận được giá trị của
ngôn ngữ tiếng Việt qua các văn bản: nét đặc sắc của những những bài ca dao, câu tục
ngữ; vẻ đẹp ngôn từ trong một số tác phẩm như Bài ca Côn Sơn, Buổi chiều đứng ở
phủ Thiên Trường trông ra, Sau phút chia ly, Qua Đèo Ngang, Tiếng gà trưa, Mùa
xuân của tôi, Ý nghĩa văn chương, Ca Huế trên sông Hương, v.v…
Năm 1966, khi phát động "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt", Cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng đã nhấn mạnh: “Tiếng Việt của chúng ta rất giàu. Tiếng Việt của
chúng ta rất đẹp. Giàu bởi kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân ta lâu đời và phong
phú. Đẹp bởi tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp. Hai nguồn của cái giàu, cái đẹp
ấy là ở chỗ tiếng Việt là tiếng nói của nhân dân, đầy tình cảm, màu sắc và âm điệu,
2


hồn nhiên, ngộ nghĩnh và đầy ý nghĩa; đồng thời nó là ngôn ngữ của văn học mà
những nhà thơ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du... và những nhà văn, nhà thơ ngày
nay ở miền bắc và miền nam đã nâng lên đến trình độ rất cao về nghệ thuật” [2].
Đến hôm nay, nhiệm vụ quan trọng ấy vẫn còn nguyên tính thời sự. Ngày
05/11/2016, tại Hội thảo khoa học "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trên các
phương tiện thông tin đại chúng", Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam đã nhận
xét: "Rất dễ thấy hiện tượng lạm dụng ngôn từ và cách nói từ tiếng nước ngoài. Điều
đáng báo động là không có nhiều, không có đủ những phân tích, phê phán và nhắc
nhở về những biểu hiện đó”. Đồng thời, đồng chí Phó Thủ tướng cũng định hướng khi
nói, khi viết cần: "...trong trẻo, không có tạp chất, phải trung thành, sáng tỏ được ý
muốn viết, muốn nói" [1].
Trong bài viết "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt – trách nhiệm không của
riêng ai!", cô giáo Nguyễn Thị Thúy (Trường THPT Trần Hưng Đạo, tỉnh Vĩnh Phúc)
đã khẳng định: "Có thể nói rằng ngôn ngữ của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc là một thứ
tài sản vô cùng quý giá. Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện quan trọng trong các

Hiện nay, không chỉ trên mạng xã hội, trong giao tiếp của giới trẻ, trong sinh
hoạt của một bộ phận xã hội, mà ngay cả trên một số phương tiện thông tin đại chúng,
hiện tượng "tiếng ta đá tiếng Tây", lạm dụng ngôn ngữ nước ngoài hoặc dùng tiếng
Việt không chuẩn xác đang làm "nghèo" đi tiếng Việt. Đây là một hiện tượng khá phổ
biến, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự giàu đẹp, trong sáng của ngôn ngữ dân tộc- một
trong những yếu tố quan trọng hàng đầu làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam. [3]
Đất nước ta đa dạng về dân tộc và vùng miền nên ngôn ngữ dân tộc và từ ngữ địa
phương rất phong phú. Cộng với đó, trong thời đại công nghệ thông tin, mạng
internet, mạng xã hội, điện thoại di động phát triển ồ ạt,... khiến nhiều người bị ảnh
hưởng tiêu cực trong cách dùng từ, lười đọc sách dẫn đến tình trạng nghèo nàn về vốn
từ vựng. Không khó để tìm thấy trong một giờ học, một số học sinh nhiệt tình xung
phong trả lời, nhưng diễn đạt không gãy gọn, ngập ngừng ấp úng. Các em hiểu nhưng
yếu về kĩ năng trình bày, không đủ ngôn ngữ để diễn đạt điều muốn nói. Rất nhiều từ
4


tiếng Việt hay, dư sức truyền cảm như: nóng, nóng rực, nóng ran, nồng nhiệt, ấm, ấm
áp, sục sôi, sôi động, sôi nổi, nổi bật,... nhưng học sinh chỉ đủ sức diễn đạt bằng một
từ: "hot"- từ tiếng Anh mà rất nhiều phương tiện truyền thông vẫn hay dùng. Không
hiểu sao các em không dùng các từ tiếng Việt gợi cảm như: trẻ trung, mơn mởn, tuổi
xuân, sức xuân,... để diễn tả vẻ đẹp của tuổi trẻ mà lại dùng ngôn từ xa lạ: "Xì- tin".
Có thể kể thêm ra đây một vài đoạn ngôn ngữ thiếu trong sáng (người ta hay gọi
là "ngôn ngữ @") mà lứa trẻ hiện nay hay dùng như:
- Bà ấy (chỉ cô giáo) dạy hay dã man! (Cô ấy dạy hay tuyệt vời!)
- Trông anh ấy hót boy quá, men- lỳ quá! (Trông anh ấy ấn tượng quá, nam tính
quá).
- Mẹ thật là ve- ry gút! Thanh kiu mẹ của con! (Mẹ thật là tốt, mẹ tốt quá! Cảm
ơn mẹ của con!)
Rồi có những lời nói của lớp trẻ mà người lớn không hiểu nổi, mà nếu hiểu được
thì phải bàng hoàng, giật mình:

31 Nói cộc lốc
21
67.7
người lớn,...
Nói tiếng Việt xen lẫn tiếng
Bạn bè, mạng Internet,
31
100
nước ngoài không phù hợp
người lớn,...
Thực tế đang diễn ra và bảng thống kê chính là những con số biết nói, gióng lên
hồi chuông báo động với người lớn, với giáo viên về trách nhiệm đối với thế hệ trẻnhững mầm non, chủ nhân tương lai của đất nước. Một việc làm dù nhỏ nào nhưng
nếu có thể hạn chế được những biểu hiện tiêu cực đã nêu trên đều là cần thiết và cấp
bách.
5


2.3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết
vấn đề
2.3.1. Từ văn bản “Sự giàu đẹp của tiếng Việt” của Đặng Thai Mai, có thể tích
hợp rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt ở một số tiết học trong chương trình Ngữ văn 7
Tất cả những tiết học của cả ba phân môn Văn, Tiếng Việt và Làm văn của bộ
môn Ngữ văn cuối cùng đều hướng đến việc hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ,
năng lực liên quan đến việc học tập và rèn luyện, trau dồi khả năng sử dụng tiếng mẹ
đẻ của người học. Đặc biệt, từ quá trình giảng dạy văn bản của Đặng Thai Mai, tôi
nhận thấy có thể tích hợp giáo dục tình yêu và khả năng sử dụng tốt tiếng Việt của các
em qua các tiết học bằng bảng thống kê dưới đây:
TT
1



Từ láy

4

15

Đại từ

5

18, 23

Từ
Hán Việt

6

21

Bài ca
Côn Sơn

7

35,
39, 43

8


là cách làm giàu tiếng mẹ đẻ.
- Phân tích đoạn thơ chữ Hán được dịch sang tiếng Việt theo
thể thơ lục bát để thấy được thể thơ lục bát truyền thống của dân
tộc có khả năng biểu đạt đầy đủ, sinh động tư tưởng, tình cảm.
- Có ý thức lựa chọn từ đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm khi
nói, viết; sử dụng các loại từ trên phù hợp với ngữ cảnh và đời
sống.
- Phân tích để thấy được chiều sâu nội tâm của người chiến sĩ
cách mạng và vẻ đẹp mới mẻ của những chất liệu cổ thi trong
sáng tác của lãnh tụ Hồ Chí Minh.
- Giải thích ý nghĩa của một số thành ngữ thông dụng.
- Ý thức trau dồi vốn thành ngữ, biết cách vận dụng phù hợp.

6


10

11

12
13

14

15

16

17

Làm thơ
60
- Tập viết được những câu, đoạn, bài thơ lục bát ngắn đúng
lục bát
luật, có cảm xúc.
- Hiểu các yêu cầu của việc sử dụng từ đúng chuẩn mực.
Chuẩn
- Tự thấy được nhược điểm của bản thân trong việc sử dụng từ;
61
mực sử
sửa chữa được những lỗi về sử dụng từ.
dụng từ
- Có ý thức dùng từ đúng chuẩn mực.
- Biết tích lũy thêm kiến thức qua các câu tục ngữ.
- Vận dụng được ở mức độ nhất định một số câu tục ngữ về
73, 77
Tục ngữ
thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội vào đời
sống.
- Hiểu thêm về giá trị nội dung, đặc điểm hình thức của tục
Chương
ngữ, ca dao địa phương.
74
trình địa
- Biết cách sưu tầm tục ngữ, ca dao địa phương.
phương
- Biết cách tìm hiểu tục ngữ, ca dao địa phương ở một mức độ
nhất định.
Rút gọn
- Nhận biết và phân tích câu rút gọn.

- Trình bày, lập luận có lí, có tình, hấp dẫn và thuyết phục.

v.v...
Việc thống kê như trên mang tính chuẩn bị, định hướng, tạo tâm thế chủ động
cho người giáo viên trước khi giảng dạy văn bản để đạt được mục đích toàn diện theo
yêu cầu của bài học. Tuy nhiên, thời lượng dành cho tiết dạy văn bản “Sự giàu đẹp
của tiếng Việt” chỉ có hạn mà lượng bài có thể tích hợp giáo dục và rèn kĩ năng sử
7


dụng tiếng Việt cho các em là rất nhiều, thậm chí có cả những tiết chưa học đến tại
thời điểm đó. Vì vậy, bảng thống kê trên là định hướng để giáo viên chọn vùng kiến
thức tích hợp. Cũng có thể lồng ghép giao bài tập về nhà, dưới hình thức là bài tập
ngắn, tạo lập văn bản Tập làm văn hoàn chỉnh hoặc bài thu hoạch với thời gian nhất
định, đủ để các em tìm tòi, trải nghiệm, rút ra bài học vận dụng hiệu quả cho bản thân.
Ví dụ: Từ bài "Sự giàu đẹp của tiếng Việt", giáo viên có thể vận dụng vào tiết 11:
Từ láy (Lưu ý: Lúc này học sinh chưa được học bài Sự giàu đẹp của tiếng Việt nên
giáo viên chủ động vận dụng phù hợp) để giúp học sinh sử dụng hiệu quả các từ láy
trong hoàn cảnh giao tiếp. Chẳng hạn:
- Giáo viên đặt câu hỏi liên hệ: Khi muốn diễn tả những sự vật gần nhau đến
mức gần như không có khoảng cách, các em có thể sử dụng những từ láy nào?
Học sinh suy nghĩ để lựa chọn các từ: sát sạt, sát sàn sạt,...
Giáo viên đặt thêm câu hỏi: Trong những từ láy trên, từ nào có hiệu quả nhấn
mạnh mức độ hơn? (Từ "sát sàn sạt").
Qua ví dụ này, giáo viên đã giúp học sinh tự nhận thức về một đặc điểm cơ bản
của từ láy trong tiếng Việt: những từ láy ba, láy tư được hình thành trên cơ sở từ láy
đôi thường mang sắc thái nhấn mạnh tính chất, mức độ. Nắm vững đặc điểm ấy, học
sinh sẽ biết cách vận dụng các từ láy cùng dạng như: khít khìn khịt, dửng dừng dưng,
tẹo tèo teo, đứ đừ đừ, luộm thà luộm thuộm, hổn hà hổn hển, khấp kha khấp khểnh,...
để biểu đạt chính xác, hiệu quả về sự vật, hiện tượng trong hoàn cảnh cụ thể.

những dòng thơ, câu văn mượt mà, uyển chuyển. Ví dụ đoạn thơ:
"Bác thương đoàn dân công
Đêm nay ngủ ngoài rừng
Rải lá cây làm chiếu
Manh áo phủ làm chăn"
(Đêm nay Bác không ngủ, Minh Huệ)
Đã ngân lên xúc động thành lời ca trong bài hát Bác Hồ, một tình yêu bao la của
cố nhạc sĩ Thuận Yến.
Hay đọc văn bản Cây tre Việt Nam của Thép Mới, lòng ta cứ mãi ngân nga giai
điệu ngọt ngào của những dòng văn:
"Nhạc của trúc, nhạc của tre là khúc nhạc của đồng quê. Nhớ một buổi trưa nào,
nồm nam cơn gió thổi, khóm tre làng rung lên man mác khúc nhạc của đồng quê.
Diều bay, diều lá tre bay lưng trời...
Sáo tre, sáo trúc vang lưng trời...
Gió đưa tiếng sáo, gió nâng cánh diều.
Trời cao lồng lộng, đồng ruộng mênh mông hãy lắng nghe tiếng hát giữa trời
cao của tre, của trúc..." [5].
Tiếng Việt ngân nga, trầm bổng. Tiếng Việt giàu tính nhạc. Có những bài thơ mới
chỉ đọc lên ta đã nghe ngân lên trong lòng nhạc điệu, say sưa như muốn cất lên lời ca,
tiếng hát. Mời các em đến với bài thơ “Đi học” (Thơ Hoàng Minh Chính) và lắng
nghe ca khúc “Đi học” (nhạc Bùi Đình Thảo) để khẳng định lại một lần nữa một
trong những vẻ đẹp của tiếng Việt đó là giàu tính nhạc. -> Mỗi bài thơ đều có thể vút
lên thành bài hát. Mỗi bài hát làm hồn thơ ngân nga hơn. Thơ hòa nhạc, nhạc quyện
trong thơ. Đó chính là vẻ đẹp tuyệt vời của tiếng Việt chúng ta.
Còn rất nhiều những văn bản trong chương trình Ngữ văn THCS mà giáo viên có
thể lồng ghép để học sinh nhận ra chất nhạc của ngôn ngữ tiếng Việt trong từng tác
phẩm như: Cảnh khuya (Hồ Chí Minh), Một thứ quà lúa non: Cốm (Thạch Lam),
Mùa xuân của tôi (Vũ Bằng) trong chương trình Ngữ văn 7,...
- Tiếng Việt có một hệ thống nguyên âm, phụ âm phong phú và giàu về thanh
điệu [7].

hiện những gì nhẹ nhàng, vui tươi, phấn khởi, hân hoan,... hoặc khi bộc lộ cảm xúc
buồn bã, lo lắng, bi thương, oán thán,... thì dùng thanh điệu nào sẽ mang lại hiệu quả
trọn vẹn nhất cho cách diễn đạt của mình.
- Tiếng Việt có sự kỳ diệu của thanh điệu [7].
“Diều bay, diều lá tre bay lưng trời...
Sáo tre, sáo trúc vang lưng trời...
Gió đưa tiếng sáo, gió nâng cánh diều.”
Những câu văn trong bài Cây tre Việt Nam của Thép Mới được tách ra, ngân nga,
mềm mại như dòng thơ, như câu hát. Dòng đầu của đoạn có những tiếng thanh bằng
chiếm ưu thế (7/8 tiếng) làm toát lên vẻ đẹp êm ả mà quyến rũ.
Hoặc:
"Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng cũng bát ngát mênh mông"
Hai dòng lục bát biến thể được ngân dài miên man, gợi hình ảnh cánh đồng quê
dường như bất tận. Nét rộng lớn, khoáng đạt ấy không chỉ được vẽ lên bằng cảm
nhận, bằng điểm nhìn nghệ thuật mà còn có sự góp phần từ việc sử dụng hiệu quả
phần lớn thanh bằng trong đoạn trên (16 thanh bằng so với 9 thanh trắc).
- Tiếng Việt có đầy đủ khả năng thỏa mãn nhu cầu trao đổi tình cảm, cảm xúc,
phản ánh mọi phương diện của đời sống xã hội [7].
Đặc điểm và giá trị trên đây của tiếng Việt có thể khái quát bằng lời của nhà
nghiên cứu Đặng Thai Mai:
"Tiếng Việt có những khả năng dồi dào về phần cấu tạo từ ngữ cũng như về hình
thức diễn đạt. Từ vựng tiếng Việt qua các thời kỳ diễn biến của nó tăng lên mỗi ngày
một nhiều. Ngữ pháp cũng dần dần trở nên uyển chuyển, chính xác hơn. Dựa vào đặc
tính ngữ âm của bản thân mình, tiếng Việt đã không ngừng đặt ra những từ mới,
10


những cách nói mới hoặc Việt hóa những từ và những cách nói của các dân tộc anh
em và các dân tộc láng giềng, để biểu hiện những khái niệm mới, để thỏa mãn yêu

Mẹ thì nghèoTiếng Việt đẹp như mơ.
Mẹ trầm lặng
Tiếng Việt như tiếng hát”.
Hay tác giả Lưu Quang Vũ cũng đã có những lời thơ gan ruột về tiếng nói dân tộc
mình:
"Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết
Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi
Như vị muối chung lòng biển mặn
Như dòng sông thương mến chảy muôn đời.
...
Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình..."
* Liên hệ một số văn bản để thấy được yêu tiếng nói dân tộc cũng chính là
một biểu hiện của lòng yêu nước:
Ngoài các văn bản “Buổi học cuối cùng” của nhà văn Pháp A. Đô- đê; "Lòng
yêu nước" của tác giả I. Ê- ren- bua trong chương trình Ngữ văn 6, giáo viên có thể
lựa chọn một số văn bản khác ở chương trình Ngữ văn 7 để giáo dục tình yêu nước
của các em qua việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt.
Ví dụ:
- Văn bản “Nam quốc sơn hà”: Việc sử dụng các từ ngữ, giọng điệu, âm
hưởng,... có sức lôi cuốn mạnh, khẳng định chủ quyền dân tộc, ý thức quyết tâm bảo
vệ vững chắc chủ quyền,... khiến bài thơ hào sảng, ngân vọng hùng tráng, xứng đáng
là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta.
12


- Chùm các bài ca dao ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước, con người với
những hình ảnh thiên nhiên đẹp, hình ảnh người lao động bình dị, hệ thống từ láy

Nguyễn Đình Chiểu đã có sự lựa chọn ngôn từ chính xác, mang đúng bản sắc vùng
miền nơi mình sinh sống.
Tuy nhiên, để học sinh thật sự thoải mái, đồng thời giúp các em có kĩ năng lựa
chọn, sử dụng từ ngữ phù hợp khi ứng xử, tôi đã đặt thêm câu hỏi: Vậy nếu là các em,
các em sẽ xưng hô với nàng hầu Kim Liên như thế nào?
Rất nhiều học sinh háo hức để đề xuất phương án, như:
"Thưa rằng: tôi Kiều Nguyệt Nga,
Còn đây tì tất tên là Kim Liên"
hoặc:
"Thưa rằng: tôi Kiều Nguyệt Nga,
Nàng này tì tất tên là Kim Liên"
13


và:
"Thưa rằng: tôi Kiều Nguyệt Nga,
Đây là tì tất tên là Kim Liên"
hay:
"Thưa rằng: tôi Kiều Nguyệt Nga,
Và đây tì tất tên là Kim Liên"
v.v...
Rất nhiều phương án được các em lựa chọn để đưa ra và nhận xét: những cách
diễn đạt mới này có những hiệu quả riêng như nhẹ nhàng, nhã nhặn, khiến hình ảnh
nàng Nguyệt Nga đẹp hơn, phù hợp với cảm nhận của bản thân các em. Nhưng các
em cũng thống nhất cao quan điểm: hoàn toàn tôn trọng văn bản và đặc biệt là tôn
trọng nét độc đáo, khu biệt của văn hóa ứng xử vùng miền ở mỗi địa phương.
Từ rất nhiều tình huống liên hệ tương tự như khi dạy lớp 9 nêu trên, bằng sự
quan sát của bản thân và nắm bắt yêu cầu của cuộc sống, tôi có một số gợi ý để giúp
học sinh rèn luyện ý thức sử dụng tiếng Việt như sau:
- Đối với bản thân học sinh: các em cần nắm vững, hiểu rõ nghĩa của từ; tích cực

ngắn gọn, súc tích; biết vận dụng những từ ngữ có giá trị biểu đạt cao, gây ấn tượng
sâu sắc. Trong mỗi giờ dạy, giáo viên cần vận dụng lồng ghép nội dung giáo dục lòng
yêu nước, tình yêu ngôn ngữ đối với học sinh. Nhà trường cần xây dựng tủ sách thiếu
nhi phong phú, đặc sắc về nội dung và có tính liên hệ đối với chương trình giáo dục
THCS và phù hợp với lứa tuổi; tổ chức các cuộc thi, các phong trào học tập và làm
theo sách. Để làm được điều đó, mỗi thầy cô giáo phải luôn xứng đáng là tấm gương
sáng về đạo đức, về văn hóa ứng xử- trong đó có yêu cầu ứng xử về ngôn ngữ- để học
sinh noi theo.
2.3.4.2. Rèn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ phù hợp chuẩn mực đạo đức trong giao
tiếp cho học sinh
Qua nội dung bài học “Sự giàu đẹp của tiếng Việt”, giáo viên đưa bài tập củng
cố để học sinh liên hệ: Trên mạng xã hội và tin nhắn điện thoại, nhiều lần chúng ta bắt
gặp những cách viết như sau:
a) “No! Vjec ay e ko bit nen e ko noj dc!”
b) FảI LuN LuN Cố gẮg Để cHữ kỦa MìN đẸp HơN ChỮ KủA nG` kHáC
- Theo em, đó có phải tiếng Việt hay không? Chúng ta cần ứng xử với tiếng Việt
như thế nào?
-> Đó không thể gọi là tiếng Việt mà chỉ có thể gọi là “tiếng Việt xộc xệch”,
“tiếng Việt nhếch nhác”, "tiếng Việt lai căng", "tiếng Việt rởm đời",... Nếu tình trạng
cứ tái diễn như thế, sẽ có lúc khi học sinh làm bài kiểm tra bằng dạng ngôn ngữ như
trên thì có lẽ thầy, cô giáo phải phê vào bài làm theo ngôn ngữ của chính các em.
Chẳng hạn: "= Kach ViT nhU kỦa E tHi hÔg BíT tƯơNg lAi kỦa nGuN nGữ TiẾg
VịT tHâN iU sẼ Là nTn" (Bằng cách viết như của em thì không biết tương lai của
tiếng Việt thân yêu sẽ là như thế nào?). Nếu điều đó xảy ra thì số phận của tiếng mẹ
đẻ bi đát, xót xa biết chừng nào! Vì vậy, các em cần bảo vệ, trân trọng, giữ gìn sự
trong sáng của tiếng Việt, tránh sính ngoại, lai căng, làm nghèo tiếng Việt.
Trên đây là ví dụ minh họa cụ thể trong quá trình giảng dạy của tôi. Các cách
làm trong ví dụ này xuất phát từ tình yêu tiếng Việt để đi đến mục tiêu cuối cùng:
khơi gợi dậy tình yêu tiếng Việt của học sinh! Với trách nhiệm "trồng người" và lòng
yêu nghề, yêu học trò sâu sắc, mỗi giáo viên chắc chắn sẽ có những sáng kiến mới,

- Đối với những bài kiểm tra định kỳ (1 tiết, 2 tiết), giáo viên cũng có thể lồng
ghép, tích hợp nội dung giáo dục ý thức sử dụng tiếng Việt để học sinh suy nghĩ, tư
duy về vấn đề đặt ra. Một số dạng câu hỏi thường được sử dụng đó là: Tìm từ thuần
Việt có ý nghĩa tương đương với từ Hán Việt; Trong số những cách diễn đạt sau, cách
nào diễn đạt gợi hình, gợi cảm?; Hai câu thực trong bài Qua Đèo Ngang sử dụng nghệ
thuật nổi bật gì? Tác dụng của thủ pháp nghệ thuật đó?; Tại sao cùng là những từ ngữ
phủ định, nhưng nhà thơ Nguyễn Duy không viết: "Ta đi trọn kiếp con người/ Cũng
chưa đi hết mấy lời mẹ ru" mà lại viết: "Ta đi trọn kiếp con người/ Cũng không đi hết
mấy lời mẹ ru"; hoặc ở mức độ cao hơn (vận dụng cao), giáo viên đặt ra yêu cầu:
Thực trạng sử dụng tiếng Việt hiện nay của giới trẻ và đề xuất của em để giữ gìn sự
trong sáng của tiếng Việt;...
Chúng ta không cần thiết chỉ rõ ra cho học sinh rằng: với câu hỏi này, bài tập kia
tức là thầy cô đang yêu cầu các em tư duy về tiếng Việt. Đó là việc làm thừa, hết sức
khiên cưỡng. Hãy đặt ra những yêu cầu phù hợp với nhận thức của các em, để cho ý
thức về tiếng Việt, tình yêu đối với tiếng Việt thấm vào các em, lan tỏa tự nhiên trong
tâm hồn và biểu hiện sâu sắc, cụ thể trong hành động của các em. Tuy nhiên, cần lưu
ý: Không phải bài kiểm tra, nội dung kiến thức nào, hay tất cả mọi câu hỏi của môn
Ngữ văn đều phải liên quan đến sự giàu đẹp của tiếng Việt, đến ý thức giữ gìn sự
trong sáng, phát huy giá trị tốt đẹp của tiếng Việt. Nếu chỉ loanh quanh với nội dung
ấy tức là chúng ta đang rơi vào chủ quan, áp đặt cục bộ, vô hình chung đã quên mất
những chức năng khác của môn Ngữ văn, là hành động tiêu cực làm nghèo tiếng Việt.
Chúng ta chỉ nên tích hợp nội dung cần liên hệ ở mức độ phù hợp, có tác dụng trực
tiếp và mang lại hiệu quả thực sự đối với học sinh trong từng điều kiện hoàn cảnh,
ngữ cảnh cụ thể.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Sáng kiến này được kế thừa kinh nghiệm từ những năm học trước đây và phổ
biến từ đầu năm học 2016- 2017. Cho đến nay, việc vận dụng sáng kiến kinh nghiệm
đối với bản thân trong hoạt động giáo dục, với đồng nghiệp và nhà trường đã đạt được
những tín hiệu đáng mừng. Cụ thể:
16

Tỉ lệ (%)
Nói tục, chửi bậy

3

9.7

Giảm 35.5%

Nói cộc lốc

8

25.8

Giảm 41.9%

Nói tiếng Việt xen lẫn tiếng
9
29.0
Giảm 71%
nước ngoài không phù hợp
Căn cứ vào kết quả trên, tín hiệu rất đáng mừng khi khảo sát trong một tuần lễ
(tuần học thứ 29) đó là: số học sinh lớp 7B nói tục, chửi bậy chỉ còn 03 học sinh; nói
cộc lốc còn 08 học sinh (giảm 13 em so với thời điểm đầu năm). Tình trạng học sinh
đua đòi, nói pha tạp tiếng Việt với tiếng nước ngoài chỉ còn 09 em (giảm tới 22 em so
với thời điểm tuần 5 của năm học 2016- 2017).
Tất nhiên, nếu chỉ mình sáng kiến kinh nghiệm này thì chưa đủ để giáo dục hành
vi ngôn ngữ của học sinh. Chúng ta cần kết hợp từ nhiều phía, từ nhiều phương pháp,
liên tục trong nhiều thời điểm,… thì chất lượng giáo dục mới có thể toàn diện. Nhưng

1.
2.
3.
4.




Ngữ văn 6, (Tập một), Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên), Nhà xuất bản

Giáo dục, Hà Nội, năm 2015
5. Ngữ văn 6 (Tập hai), Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên), Nhà xuất bản
Giáo dục, Hà Nội, năm 2015
6. Ngữ văn 7, (Tập một), Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên), Nhà xuất bản
Giáo dục, Hà Nội, năm 2015
7. Ngữ văn 7 (Tập hai), Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên), Nhà xuất bản
Giáo dục, Hà Nội, năm 2015
8. Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm, Nhà xuất bản Trẻ,
TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2015
9. 99 phương tiện và biện pháp tư từ tiếng Việt, Đinh Trọng Lạc,
Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, năm 2015

DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:

Nguyễn Lương Tâm

Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Thành Tâm, Thạch Thành

2011

Phòng

A

2012

Phòng

B

2014

Phòng

A

2017

6
Một số biện pháp tích cực để
dạy học thơ trữ tình trong

4.

chương trình Ngữ văn THCS
Sử dụng sơ đồ tư duy để dạy

5.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status