-1-
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua gần 20 năm đổi mới và hội nhập với kinh tế thế giới, kinh tế
đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa
sang nền kinh tế thò trường có sự điều tiết của Nhà Nước, các doanh nghiệp
đã và đang đối mặt với những cơ hội cũng như thách thức cho sự tồn tại của
mình.
Muốn tồn tại trong nền kinh tế có sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay,
các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao nội lực, khả năng cạnh tranh
của chính mình. Để đạt được điều đó, các nhà quản trò doanh nghiệp phải
thực hiện các phương thức quản lý sao cho các bộ phận, các thành viên trong
tổ chức của mình hoạt động nhòp nhàng, hiệu quả theo một mục tiêu chung.
Để thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thò trường hiện nay, các
nhà quản trò cần đưa ra những quyết đònh quản lý một cách chính xác, nhanh
chóng và phù hợp với thực tế, vì vậy, phương thức quản lý theo mệnh lệnh,
giấy tờ không còn phù hợp. Thay vào đó, các doanh nghiệp phải xây dựng
trong tổ chức của mình một phương thức quản lý linh hoạt. Một tổ chức tốt là
tổ chức mà ở đó các thành viên phối hợp hoạt động một cách nhòp nhàng để
đạt được mục tiêu chung của tổ chức. Muốn vậy, các nhà quản trò trong tổ
chức cần được đánh giá đúng đắn hành vi quản lý của họ, từ đó phát huy
những yếu tố tích cực và ngăn ngừa những hạn chế trong việc đưa tổ chức
hoàn thành mục tiêu chung. Để quản lý, điều hành thành công một tổ chức
trong việc hướng đến mục tiêu chung đã đề ra, ban quản lý cấp cao phải biết
phối hợp hoạt động của các bộ phận khác nhau trong tổ chức của mình một
cách tốt nhất, cung cấp cho các nhà quản trò các bộ phận những động cơ tích
cực để họ hoạt động trong lợi ích bao trùm của tổ chức. Muốn vậy, cần phải
-2-
cho kế toán trách nhiệm quản lý; từ đó nhà quản trò sẽ có nhiều thời
gian hơn trong việc nâng cao năng lực, mở rộng các loại hình dòch vụ
để thỏa mãn nhu cầu của thò trường.
3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ giới hạn vào việc tập trung nghiên cứu những vấn đề lý
luận về kế toán trách nhiệm quản lý kết hợp với tìm hiểu thực trạng của một
doanh nghiệp cụ thể, một bộ máy kế toán cụ thể. Từ đó, đưa ra những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác kế toán, giúp cho các nhà quản
trò đánh giá được thành quả quản lý của mình trong việc thực hiện mục tiêu
chung.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghóa
duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp lôgich, phương pháp thống kê,
phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp phỏng vấn,
phương pháp quan sát…để hệ thống hóa những vấn đề lý luận và đánh giá
thực tiễn. Thông qua đó đề xuất những giải pháp đáp ứng được mục tiêu
nghiên cứu.
5. Bố cục của luận văn
Luận văn được thực hiện bao gồm 74 trang, ngoài phần mở đầu, kết
luận bao gồm 3 chương:
Chương 1 - Những vấn đề lý luận chung về kế toán trách nhiệm quản lý
Chương 2 - Thực trạng tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm quản lý tại
Công ty kiểm toán và tư vấn A&C
Chương 3 - Một số ý kiến về xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm quản lý
tại Công ty kiểm toán và tư vấn A&C
-4-
1.2.Nhu cầu thông tin kế toán nói chung và thông tin kế toán trách nhiệm
quản lý nói riêng đối với hoạt động của một tổ chức
1.2.1. Thông tin kế toán đối với hoạt động của một tổ chức
Thông tin là những dữ liệu đã được xử lý nhằm mang lại lợi ích cho người
nhận và sử dụng nó trong việc nâng cao hiệu quả cho việc ra quyết đònh của
mình. Bản chất của thông tin kế toán là phản ánh chi phí đã bỏ ra trong quá trình
hoạt động ở một tổ chức để đạt được các mục tiêu chung. Thông tin kế toán được
biểu hiện dưới hình thái giá trò. Để thông tin đưa ra dưới dạng hữu ích, thông tin
được tổng hợp thành các báo cáo kế toán đáp ứng cho những nhu cầu của người
sử dụng thông tin.
Bất kỳ một tổ chức nào cũng cần thông tin kế toán để tồn tại và phát
triển. Tổ chức kinh tế cần thông tin kế toán để xác đònh kết quả kinh doanh trong
kỳ hoạt động của mình. Tổ chức phi chính phủ cần thông tin kế toán để xác đònh
mức độ phục vụ của mình đối với cộng đồng, xã hội... Tóm lại, thông tin kế toán
có vai trò quan trọng trong một tổ chức.
Thông tin kế toán không những cần thiết cho người ra quyết đònh quản lý
bên trong doanh nghiệp mà còn cần cho cả những người bên ngoài doanh nghiệp
như các chủ nợ, các cơ quan, tổ chức quan tâm đến hoạt động của doanh nghiệp
nhằm phục vụ cho việc ra các quyết đònh kinh tế của họ.
1.2.2. Nhu cầu thông tin kế toán trách nhiệm quản lý đối với hoạt động của
một tổ chức
-6-
Đối với hệ thống kế toán trách nhiệm quản lý, thông tin của nó thể hiện
hành vi quản lý của các cấp quản trò khác nhau trong tổ chức. Thông qua các
dòng thông tin này các nhà quản trò ở cấp cao có thể đánh giá đúng đắn thành
quả quản lý của các nhà quản trò cấp thấp hơn trong việc thực hiện các mục tiêu
chung. Từ đó, các nhà quản trò có thể đưa ra những quyết đònh thích hợp để phát
-
Trọng yếu
-
Có liên quan tới những người có thẩm quyền
-
Thông tin chỉ có ích khi chi phí mang lại thông tin này thấp hơn giá trò sử
dụng nó.
-7-
2. Sự phân cấp trong tổ chức
Việc phân cấp, phân chia trách nhiệm trong cơ cấu của một tổ chức là xác
đònh trách nhiệm của các thành viên trong tổ chức, xác đònh quyền ra quyết đònh
của mỗi cấp bậc quản trò trong tổ chức. Sự phân cấp trong một tổ chức không chỉ
liên quan đến một số ít các nhà quản trò cao cấp mà còn liên quan đến các nhà
quản trò khác trong tổ chức.
Việc phân cấp trong một tổ chức có những ưu điểm và hạn chế như sau
+ Ưu điểm:
-
Các nhà quản trò cấp cao giảm bớt được việc giải quyết những công
việc hàng ngày để họ tập trung hơn trong việc phát triển chiến lược, ra
các quyết đònh ở mức cao hơn và phối hợp các hoạt động của tổ chức
dễ dàng hơn.
+ Hạn chế:
-
Các nhà quản trò cấp thấp sẽ ra những quyết đònh mà chưa có sự am
hiểu đầy đủ về phạm vi chung. Trong khi đó, các nhà quản trò cao cấp
có ít những thông tin chi tiết về hoạt động hơn là các nhà quản trò cấp
thấp. Để tránh xảy ra việc này, tất cả các thông tin ở các cấp khác
nhau cần phải chuyển cho giám đốc điều hành và các nhà quản trò cao
cấp khác để họ có những điều chỉnh thích hợp khi cần thiết.
-
Trong một tổ chức có sự phân cấp rõ rệt có thể xuất hiện tình trạng
thiếu cộng tác giữa các nhà quản trò được phân cấp với nhau. Để tránh
tình trạng này, cần phải xác đònh rõ ràng chiến lược và phổ biến cho
toàn tổ chức.
-
Ở những nơi có sự phân cấp mạnh mẽ, các ý kiến về sự đổi mới sẽ khó
khăn hơn khi phổ biến trên toàn tổ chức. Nhiều bộ phận trong tổ chức
có thể có những ý tưởng xuất sắc nhưng nếu không có sự điều hành
mạnh mẽ ở trung tâm nó sẽ không thể chia sẻ kinh nghiệm với các bộ
phận khác.
Tổ chức cần phải thúc đẩy các cá nhân thực hiện công việc của mình phù
hợp với mục tiêu của tổ chức. Mỗi cá nhân đều có mục tiêu riêng của mình, mục
tiêu của họ không nhất thiết phải phù hợp với mục tiêu chung của tổ chức. Để
thúc đẩy các cá nhân trong tổ chức, tổ chức cần có hệ thống đánh giá công việc
đònh quản lý một cách chính xác, kòp thời và hiệu quả là một đòi hỏi quan trọng
đối với các nhà quản trò. Do đó, việc cần nhận biết được những thông tin kinh tế
-10-
cần thiết về tình hình hoạt động kinh tế tài chính một cách đầy đủ, chính xác, và
trung thực là một yêu cầu cấp thiết.
Muốn điều hành quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được hiệu quả,
nhà quản trò cần xác lập mục tiêu, xây dựng kế hoạch và triển khai việc thực
hiện mục tiêu của mình. Trong quá trình hoạt động, nhà quản trò phải không
ngừng kiểm tra, đôn đốc và đánh giá việc thực hiện mục tiêu chung của các cấp
thừa hành thông qua việc phân tích, tính toán hiệu quả của từng hoạt động, từng
khâu, từng sản phẩm ,vv…
Kế toán trách nhiệm quản lý là một công cụ để các nhà quản trò cấp cao
đo lường và đánh giá thành quả của các nhà quản trò từng bộ phận trong việc
thực hiện mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp.
4.2.Các trung tâm trách nhiệm
Cơ sở của hệ thống kế toán trách nhiệm là sự thiết lập cho mỗi bộ phận
trong tổ chức như một trung tâm trách nhiệm riêng biệt.
Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận trong một tổ chức mà ở đó các nhà
quản trò có quyền và trách nhiệm đối với thành quả hoạt động của trung tâm. Có
3 loại trung tâm trách nhiệm phổ biến.
Trung tâm chi phí
Là trung tâm trách nhiệm mà ở đó, người đứng đầu trung tâm này chỉ có
trách nhiệm về kiểm soát chi phí trong phạm vi quản lý của mình mà không có
quyền đối với việc tiêu thụ sản phẩm.
Trung tâm lợi nhuận
Là trung tâm trách nhiệm mà ở đó nhà quản trò trung tâm này phải chòu
trách nhiệm về lợi nhuận đạt được trong đơn vò mình. Lợi nhuận bao gồm doanh
+
Quá trình lập kế hoạch cũng thể hiện cách thức về việc phân bố các
nguồn lực cho những bộ phận, những nơi có thể sử dụng hiệu quả các
nguồn lực này.
+ Kế hoạch xác đònh mục tiêu và chiến lược, nó có thể xem như tôn chỉ
cho việc đánh giá việc thực hiện chúng.
b) Trách nhiệm và trình tự lập kế hoạch
Mỗi cấp quản trò đều có trách nhiệm đối với phạm vi kiểm soát của mình.
Họ phải có những cam kết và kiểm soát việc thực hiện chúng.Vì vậy, trách
nhiệm lập kế hoạch ở cấp nào thì nhà quản trò ở cấp đó phải thực hiện. Quá trình
này được thể hiện qua sơ đồ sau
Sơ đồ1:
Quá trình lập kế hoạch
Ban quản trò cao cấp
Nhà quản trò cấp
trung gian
Nhà quản trò cấp
cơ sở
Nhà quản trò cấp
cơ sở
Nhà quản trò cấp
trung gian
Nhà quản trò cấp
-
Tất cả các kế hoạch các cấp đều được cấp quản lý cao hơn xem xét,
trước khi chấp thuận.
Như vậy, tất cả các cấp đều phải được tham gia quá trình lập kế hoạch.
Mỗi cấp đều góp phần cho việc lập kế hoạch thống nhất. Các nhà quản trò cao
cấp sẽ dựa trên những kế hoạch chi tiết bên dưới để quyết đònh những chính
sách lớn hơn, đồng thời giúp ích cho việc lập kế hoạch cho tổng thể toàn Công
ty.
4.3.2. Phân loại chi phí và Phân bổ chi phí
a) Phân loại chi phí
Chi phí tồn tại trong tất cả các dạng tổ chức. Đối với những nhà quản trò
thì chi phí là mối quan tâm hàng đầu, bởi vì lợi nhuận thu được nhiều hay ít chòu
ảnh hưởng trực tiếp của những chi phí phát sinh. Do đó, vấn đề đặt ra là làm sao
kiểm soát được các khoản chi phí. Nhận diện, phân tích các hoạt động sinh ra
chi phí để có thể quản lý chúng, từ đó mới có thể đưa ra những quyết đònh đúng
đắn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để phục vụ cho hệ
thống kế toán trách nhiệm quản lý, chi phí được phân loại như sau:
• Phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí
-14-
Nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết
đònh của nhà quản trò. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của nó nghóa là xem
xét việc biến động chi phí khi mức độ hoạt động thay đổi. Khi mức hoạt động
kinh doanh thay đổi, các nhà quản trò cần phải thấy trước chi phí sẽ biến động tốt
hay xấu và biến động bao nhiêu tương ứng với mức hoạt động.
Theo mục đích này, chi phí được chia thành biến phí, đònh phí và chi phí
và kiểm soát chi phí.
b) Phân bổ chi phí
Trong mỗi doanh nghiệp bên cạnh các chi phí phát sinh trực tiếp tại các
bộ phận, phòng ban thì tồn tại các khoản chi phí chung phục vụ cho tất cả các bộ
phận. Các khoản chi phí này không bóc tách được riêng rẻ cho từng bộ phận gọi
là chi phí chung. Để đánh giá thành quả quản lý của các bộ phận một cách tương
đối đầy đủ, các khoản chi phí này cần được phân bổ cho các đối tượng liên quan.
Có nhiều cơ sở để phân bổ chi phí chung cho các bộ phận. Tuy nhiên, sự phân bổ
đôi khi tùy tiện nên đưa đến việc phản ánh sai lệch thông tin. Để khắc phục
nhược điểm này, nhiều tổ chức ngày nay đã chọn việc không phân bổ chi phí
chung hoặc áp dụng phương pháp phân bổ dựa trên hoạt động gọi tắt là ABC
(Activity Base Costing). Theo phương pháp này các yếu tố chi phí sản xuất
chung sẽ được nhận diện theo từng loại hoạt động đã gây ra chi phí, và chính các
nguyên nhân gây ra chi phí này sẽ được lựa chọn làm tiêu thức phân bổ phù hợp
với từng loại hoạt động.
4.3.3. Phân tích chênh lệch
-16-
Một trong những yêu cầu của nhà quản trò là phải biết được tại sao họ đạt
được những thành quả và tại sao không đạt được những thành quả. Từ đó tìm
hiểu nguyên nhân và cố gắng khắc phục những hạn chế đồng thời phát huy
những ưu điểm của mình.
Phân tích chênh lệch là một công cụ hữu ích giúp cho các nhà quản trò có
thể thấy rõ được những chênh lệch quan trọng giữa kế hoạch và thực hiện, giữa
kỳ thực hiện này so với kỳ thực hiện trước. Trên cơ sở phân tích, tính toán được
chênh lệch thuận lợi và bất lợi, các nhà quản trò sẽ tập trung chú ý vào các bộ
phận, các hoạt động đi lệch khỏi mục tiêu chung để khắc phục, sửa chữa, đồng
thời phát huy và tận dụng cơ hội dựa trên những chênh lệch thuận lợi.
đánh giá tốt trách nhiệm quản lý của các nhà quản trò các cấp trong tổ chức do
các báo cáo này đã loại bỏ các khoản doanh thu và chi phí không kiểm soát
được.
Báo cáo thành quả thường chú ý đến việc phân tích chênh lệch.Việc phân
tích chênh lệch giữa thực hiện và kế hoạch giúp cho nhà quản trò đánh giá được
thành quả quản lý của một trung tâm chính xác và đúng đắn hơn.
a) Đánh giá trách nhiệm quản lý của trung tâm chi phí
-
Được đánh giá thông qua việc trung tâm có hoàn thành được kế hoạch và
mục tiêu đã đề ra hay không.
-
Được đánh giá qua việc phân tích chênh lệch giữa chi phí thực tế và chi
phí kế hoạch. Thành quả của các nhà quản trò trung tâm này sẽ được đánh
giá dựa vào khả năng kiểm soát chi phí của họ trong bộ phận.
-18-
-
Xác đònh các nguyên nhân chủ quan và khách quan tác động đến tình hình
thực hiện kế hoạch.
Bảng 1:
Báo cáo thực hiện chi phí của bộ phận A
Tháng (Q)
Đơn vò tính: VNĐ
Chỉ tiêu
Chi phí nguyên vật liệu
+
Chi phí nhân công
+
Chi phí ….
+
Chi phí thuê ngoài
Cộng biến phí
Đònh phí kiểm soát được
+
Chi phí bảo trì, sửa chữa
+
Chi phí nhân …
Đònh phí không kiểm soát được
Cộng đònh phí
Tổng chi phí
b) Đánh giá trách nhiệm quản lý của trung tâm lợi nhuận
STT
Chỉ tiêu
Kế hoạch
Thực hiện
Chênh lệch
Số tiền
1
Tổng doanh thu
2
Doanh thu kiểm soát được
3
Doanh thu không kiểm soát được
4
Tổng biến phí
5
Biến phí kiểm soát được
Kế hoạch
Thực hiện
Chênh lệch
Số tiền
11
Số dư bộ phận kiểm soát được
12
Đònh phí không kiểm soát được
13
Lợi nhuận bộ phận
%
c) Đánh giá trách nhiệm quản lý của trung tâm đầu tư
Trung tâm đầu tư là một dạng mở rộng của trung tâm lợi nhuận, trong đó
nhà quản trò có nhiều quyền hạn và trách nhiệm hơn, ngoài việc đưa ra quyết
đònh ngắn hạn như cơ cấu sản phẩm, giá bán, chi phí họ còn kiểm soát được các
quyết đònh về đầu tư. Do đó, ngoài việc đo lường về lợi nhuận thực hiện so với
kế hoạch, trung tâm đầu tư còn phải được đánh giá thông qua việc so sánh giữa
lợi nhuận thực hiện và tài sản đầu tư.
Chúng ta xem xét các chỉ tiêu đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư
Không khuyến khích các nhà quản trò các bộ phận hướng đến mục tiêu
chung.
+ Lợi nhuận còn lại (RI)
Là số tiền còn lại sau khi trừ đi chi phí sử dụng vốn
RI = Lợi nhuận – chi phí sử dụng vốn
RI = Lợi nhuận – (vốn đầu tư x %chi phí sử dụng vốn)
Chỉ tiêu RI là chỉ tiêu thường dùng để khắc phục hạn chế của chỉ tiêu ROI
trong việc đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư. Tuy nhiên, chỉ tiêu này phản
ánh số tuyệt đối nên không thể sử dụng để đánh giá thành quả của các trung tâm
có quy mô khác nhau. Để khắc phục nhược điểm này ta nên dùng chỉ tiêu tỷ lệ
lợi nhuận còn lại trên vốn (%RI)
Là tỷ lệ giữa lợi nhuận còn lại so với vốn đầu tư
%RI =
RI
Vốn đầu tư
x 100 %
-22-
Kết luận chương 1
Trong một tổ chức nhu cầu về thông tin tài chính là một yêu cầu vô cùng
cấp thiết. Thông tin có chất lượng tốt sẽ giúp cho nhà quản trò doanh nghiệp đề
ra các quyết đònh chính xác và kòp thời.
Để đáp ứng với sự thay đổi mạnh mẽ trong môi trường kinh doanh, các
doanh nghiệp đã đưa nhiều phương thức quản lý mới vào thực hiện. Đối với các
nghiệp - tài chính - kế toán - thuế - đầu tư.
Công ty được thành lập để hoạt động, thực hiện dòch vụ kiểm toán, kế
toán, tài chính nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, tạo việc làm ổn đònh, nâng
cao thu nhập cho người lao động, đóng góp vào ngân sách nhà nước và phát triển
Công ty ngày càng lớn mạnh.
Hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính là một lónh vực mới ra đời từ khi
mở cửa nền kinh tế hội nhập với thế giới. Quá trình hình thành và phát triển của
công ty gắn liền với sự phát triển kinh tế của đất nước trong thời kỳ đổi mới. Với
việc thu thập có chọn lọc những kiến thức, kinh nghiệm của các chuyên gia và
qua quá trình hoạt động thực tiễn, Ban Giám đốc công ty xây dựng được một đội
ngũ nhân viên luôn nhiệt tình công tác, có trách nhiệm và tận tâm với khách
hàng của mình.Vì vậy, công ty luôn được khách hàng tín nhiệm.
Công ty đã xây dựng được một tiêu chuẩn về quản lý chất lượng công
việc phục vụ cho chính hoạt động của mình và không ngừng cải tiến để thích
ứng với tình hình mới.
2. Cơ cấu tổ chức công ty – trách nhiệm và quyền hạn của các phòng ban
-24-
2.1. Sơ đồ tổ chức công ty theo chức năng
Giám Đốc
Sơ đồ2:
Phó
GĐ
Trưởng
phòng
Phòng
kiểm
toán 1
Phó
GĐ
Trưởng
phòng
Phòng
kiểm
toán 5
Phó
GĐ
Trưởng
phòng
Phòng
kiểm
toán 3
Phòng
kiểm
toán
XDCB
2.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của những người đứng đầu các bộ phận
kiện mở rộng loại hình dòch vụ, nâng cao chất lượng dòch vụ cung cấp cho
khách hàng. Có quyền đề nghò mức chi giao tiếp, bồi dưỡng cho các cộng
tác viên để thực hiện công việc đặc thù của mình.