Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường nước cho học sinh lớp 12 THPT lang chánh qua (mục 3 bài 14 sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên địa lí 12, chương trình cơ bản) - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT LANG CHÁNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC CHO
HỌC SINH LỚP 12 TRƯỜNG THPT LANG CHÁNH
(Qua mục 3 – Bài 14: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên,
Sách giáo khoa Địa lí 12, chương trình cơ bản)

Người thực hiện: Trịnh Thị Vinh
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: môn Địa


THANH HÓA NĂM 2017

MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................2
...............................................................................................................................3
1. MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
1.1. Lí do chọn đề tài...............................................................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu.......................................................................................................................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................................................2

2. NỘI DUNG.......................................................................................................2



1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết nước đóng vai trò thiết yếu vô cùng quan trọng
không chỉ đối với con người mà đối với cả mọi sinh vật trên Trái Đất. Nước cần
cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và toàn bộ các mặt
khác của cuộc sống. Nói đến vai trò quan trọng của nước không ai có thể phủ
nhận. Thế nhưng điều đáng buồn là hàng ngày trên thế giới các vấn đề có liên
quan tới nước như “ Thiếu nước sạch toàn cầu – hiểm họa giết chết hàng triệu
người”, “4000 trẻ em chết vì thiếu nước sạch mỗi ngày”, “mỗi năm 1,8 triệu trẻ
em chết vì thiếu nước sạch”…. vẫn diễn ra [4]. Thậm chí ở Việt Nam tình trạng
này cũng không hề hiếm và vẫn đang đe dọa tới cuộc sống hàng ngày của người
dân như “hơn nửa triệu người Miền Tây thiếu nước ngọt”, “Hà Nội – những
dòng sông chết: Sông Tô Lịch nhuộm màu ô nhiễm”, “xâm nhập mặn ở Đồng
bằng Sông Cửu Long”…..[4] Trước hiểm họa khôn lường như vậy nhưng nhiều
người vẫn thờ ơ và ngang nhiên sử dụng nước một cách lãng phí hoặc không
biết bảo vệ tài nguyên nước mặc cho cả nhân loại đang nêu cao tinh thần bảo vệ
môi trường. Các hành động như vứt rác bữa bãi xuống ao, hồ, sông, suối,… hay
thải nước thải trực tiếp ra môi trường nước vẫn diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi
và gần như trở thành thói quen của nhiều người, nhiều học sinh.
Bản thân là một giáo viên, tôi thực sự cảm thấy buồn và hoang mang khi
quê hương Yên Định của mình xảy ra sự kiện “Nhà máy thuốc sâu chôn chất
độc xuống lòng đất làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường đất, nước”.
Ngay cả địa phương Lang Chánh nơi tôi công tác hiện tượng ô nhiễm nước diễn
ra cũng khá nghiêm trọng như vụ việc nước thải ô nhiễm làm cá chết hàng loạt
trên sông Âm. Đáng lo ngại hơn khi bản thân vô tình nghe được một câu
chuyện buồn của bác nông dân chăn nuôi lợn phải vứt bỏ cả một con lợn nặng
60 – 70 kg bị nhiễm bệnh xuống cả sông Âm thay vì chôn cất nó để tránh dịch
bệnh lây lan.

nhau từ Internet, và các tài liệu của nhiều tác giả
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
Đề tài có khảo sát một số mẫu nước tại khu vực nhà máy sản xuất giấy Bãi Bùi –
Lang Chánh, khu vực sông Âm và một số kênh rãnh nơi các hộ gia đình thải
nước thải.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Đây là phương pháp được áp dụng trong việc thống kê ý thức bảo vệ môi trường
nước của học sinh lớp 12 THPT Lang Chánh.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Khái niệm môi trường và ô nhiễm môi trường nước
* Môi trường là gì?
Tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam ngày 29 tháng 11
năm 2005 quy định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân
tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát
triển của con người và sinh vật”.[3]
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học,
sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động
của con người. Ðó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực
vật, đất, nước...
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Ðó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định... ở các cấp khác nhau như:
2


Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ
tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,...
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả
các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống,

ao, hồ, sông, suối.
2.1.2. Vai trò của môi trường nước đối với đời sống con người
Hàng ngày chúng ta tiếp xúc với nước và sử dụng nước cho những mục
đích khác nhau nhưng có lẽ không phải ai cũng hiểu được hết tầm quan trọng,

3


cũng như vai trò của nước đối với sự sống con người nói riêng và sự sống trên
hành tinh nói chung. Vậy nước có những vai trò quan trọng như thế nào?
* Nước đối với cơ thể người và động vật
Đối với cơ thể con người nước chiếm 70% ở lúc sơ sinh và giảm xuống
còn 60% khi trưởng thành,85% khối lượng bộ não được cấu tạo từ nước. Trong
cơ thể nước đóng vai trò là dung môi cho những phản ứng hóa học trong cơ thể
xảy ra. Nước vận chuyển những nguyên tố dinh dưỡng đến toàn bộ cơ thể. Điều
hòa thân nhiệt bằng tuyến mồ hôi…
Con người vẫn có thể sống sót nếu nhịn ăn 2 tháng, nhưng không thể tồn
tại được nếu thiếu nước khoảng 3-4 ngày. Nếu cơ thể mất đi 2% lượng nước thì
khả năng làm việc sẽ giảm đi 20%. Nếu mất đi 10% lượng nước thì cơ thể sẽ tự
đầu độc và nếu mất 21% lượng nước sẽ dẫn đến tử vong. Do đó cơ thể luôn cần
phải được cung cấp đủ lượng nước cần thiết để đảm bảo sự hoạt động ổn định
của mình. Nhưng việc uống nhiều nước quá cũng không phải là tốt vì khi đó
thận sẽ phải làm việc quá tải và nếu tình trạng diễn ra trong một thời gian dài sẽ
dẫn đến những biến chứng nguy hiểm.
Với động vật như chó, mèo thì nước cũng chiếm một vài trò quan trọng để
duy trì sự sống như: Tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong thức ăn, vận chuyển vật
chất….
* Nước đối với cuộc sống hàng ngày
Chắc hẳn cuộc sống của chúng ta sẽ bị đảo lộn rất nhiều nếu bị mất nước
trong một thời gian. Đa số hoạt động sinh hoạt hàng ngày của chúng ta đều gắn

Điều này sẽ dẫn đến việc ô nhiễm nguồn nước xung quanh và trực tiếp ảnh
hưởng đến sức khỏe của người dân xung quanh đó.
2.1.4. Nguyên nhân gây ô nhiễm nước
Có 2 nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước là ô nhiễm tự nhiên và ô
nhiễm nhân tạo
* Ô nhiễm tự nhiên
Là do mưa,tuyết tan, lũ lụt, gió bão… hoặc do các sản phẩm hoạt động
sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng. Cây cối, sinh vật chết đi, chúng bị
vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ. Một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau đó
ăn sâu vào nước ngầm, gây ô nhiễm hoặc theo dòng nước ngầm hòa vào dòng
lớn. Lụt lội có thể làm nước mất sự trong sạch, khuấy động những chất dơ
trong hệ thống cống rãnh, mang theo nhiều chất thải độc hại từ nơi đổ rác và
cuốn theo các loại hoá chất trước đây đã được cất giữ. Nước lụt có thể bị ô
nhiễm do hoá chất dùng trong nông nghiệp, kỹ nghệ hoặc do các tác nhân độc
hại ở các khu phế thải. Công nhân thu dọn lân cận các công trường kỹ nghệ bị
lụt có thể bị tác hại bởi nước ô nhiễm hoá chất. Ô nhiễm nước do các yếu tố tự
nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt,...) có thể rất nghiêm trọng, nhưng không
thường xuyên, và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái chất lượng
nước toàn cầu.
* Ô nhiễm nhân tạo
Từ sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt (domestic wastewater): là nước thải phát sinh từ các
hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, cơ quan trường học, chứa các chất thải trong
quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con người. Thành phần cơ bản của nước thải
sinh hoạt là các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học (cacbohydrat, protein, dầu
mỡ), chất dinh dưỡng (photpho, nitơ), chất rắn và vi trùng. Tùy theo mức sống
và lối sống mà lượng nước thải cũng như tải lượng các chất có trong nước thải
của mỗi người trong một ngày là khác nhau. Nhìn chung mức sống càng cao thì
lượng nước thải và tải lượng thải càng cao.
5

trong nông nghiệp làm cho nguồn nước cũng bị ảnh hưởng. Lượng hóa chất tồn
dư sẽ ngấm xuống các tầng nước ngầm gây ảnh hưởng tới chất lượng nước.
2.1.5. Hậu quả
Khi nước bị ô nhiễm nhất là bị nhiễm các kim loại nặng sẽ gây độc cho
con người, gây ra nhiều bệnh hiểm nghèo như ung thư, đột biến. Đặc biệt đau
lòng hơn là nó là nguyên nhân gây nên những làng ung thư.
Nếu nước bị nhiễm các chất hữu cơ tổng hợp bao gồm các chất nhiên
liệu,chất màu, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng, các phụ gia trong
dược phẩm thực phẩm thường độc và có độ gây ô nhiễm môi trường mạnh, gây
ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người.

6


Hay vi khuẩn có hại trong nước bị ô nhiễm có từ chất thải sinh hoạt của
con người, động vật có thể gây ra bệnh tả, thương hàn và bại liệt. Dĩ nhiên khi
nước bị ô nhiễm thì các sinh vật sinh sống trong môi trường nước cũng sẽ bị
chết hoặc bị biến đổi gen. Nếu con người sử dụng các động vật này thì đương
nhiên con người cũng sẽ bị mắc bệnh
Nguy hiểm hơn con người sẽ không có nước sạch để sử dụng. Theo như
dự đoán của những nhà phân tích thì trong tương lai nước sạch sẽ là một nguồn
tài nguyên quý hiếm không khác gì dầu mỏ ở những thập kỷ trước và thậm trí
nước còn có tầm quan trọng hơn rất nhiều. Dầu mỏ có thể được thay thế bằng
khí đốt và những nguồn nhiên liệu khác. Nhưng nước thì không. Sẽ không khó
tưởng tượng ra viễn cảnh xung đột giữa những quốc gia xung quanh việc chiếm
hữu nguồn nước sinh hoạt. Thực tế thì nhu cầu nước đã tăng 6 lần so với 70 năm
qua. Do dân số gia tăng, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu sẽ mất đi
khoảng 1/3 nguồn nước sử dụng trong 20 năm tới; sẽ có khoảng 2/3 dân số thế
giới thiếu nước sạch trong 25 năm tới. Hàng năm, có khoảng 3-5 triệu người
chết vì các bệnh có liên quan đến nước.

hạn nên các nội dung về môi trường còn sơ sài chưa cụ thể. Đa số đều nêu lên
thực trạng chung về vấn đề môi trường mà chưa có nội dung đào sâu về từng
loại môi trường nói riêng. Dẫn tới nhận thức về vấn đề ô nhiễm môi trường nước
còn sơ sài.
Một số cuộc thi bảo vệ môi trường đã được tổ chức trong trường học,
song nhìn chung, vẫn còn mang nặng tính hình thức. Do vậy ý thức bảo vệ môi
trường vì thế chưa hình thành rõ nét trong tầng lớp học sinh.
Ngay cả gia đình của các em đa phần có bố mẹ đều là những người nông
dân, thuộc dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận
thức từ các bậc cha mẹ về vấn đề môi trường còn lạc hậu và chưa quan tâm đúng
mức. Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức của bản thân học sinh.
Trong tư tưởng của nhiều học sinh còn nghĩ rằng việc ô nhiễm môi trường nước
chỉ xảy ra ở một nơi nào đó rất xa xôi như ở nước ngoài hay ở các thành phố có
nhiều nhà máy công nghiệp chứ không phải là nơi miền quê nông thôn các em
đang sinh sống. Dẫn tới nhiều học sinh có thái độ bàng quan và thờ ơ đối với
việc bảo vệ môi trường. Đây cũng là lí do để nhiều học sinh còn có các hành
động đáng lên án như vứt rác bừa bãi vào ao, hồ, sông , suối.... sử dụng nước
một cách lãng phí chưa tiết kiệm nước....
Trong cuộc sống, nhiều học sinh chưa được sử dụng nguồn nước sạch
đúng nghĩa. Bởi vì khu vực gia đình các em sinh sống là ở nông thôn, nơi mà
trình độ dân trí còn thấp và chưa được đầu tư đồng đều, đúng mức cho hệ thống
cấp nước sạch phục vụ cho sinh hoạt. Bà con thường sử dụng trực tiếp từ nguồn
nước giếng đào, thậm chí vào mùa khô còn sử dụng nước mặt (ao hồ, sông
suối…) cho nhu cầu nước sinh hoạt. Các bể lọc thường được đầu tư sơ sài, mang
tính tự phát, lọc bằng bể cát là chủ yếu. Với phương pháp này chỉ phần nào lọc
bỏ được những kim loại nặng còn các độc tố khác, các vi rút và vi khuẩn thì
không hề được loại bỏ.
2.3. Các giải pháp .
Bài 14: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên gồm 3 nội dung chính:
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên sinh vật, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và sử

gây ô nhiễm nước là gì? Để gợi ý cho học sinh giáo viên có thể cho các em quan
sát các hình ảnh nổi bật gây ô nhiễm môi trường nước như lũ lụt, bão làm nước
bị ô nhiễm, hay nước thải từ các nhà máy công nghiệp, rác thải sinh
hoạt….Thực tế cho thấy rằng bản thân học sinh cảm thấy rất thích thú khi được
quan sát các mẫu vật trực tiếp và quan sát các hình ảnh thực tế. Lúc này qua các
câu hỏi dẫn dắt, gợi ý của giáo viên học sinh dễ dàng nhận biết được biểu hiện
và nguyên nhân gây ô nhiễm nước.
Nắm bắt được tâm lí thích xem tranh ảnh, vi deo của học sinh, giáo viên
tiếp tục cho học sinh quan sát các hình ảnh thực tế về ô nhiễm nước trên thế
giới, ô nhiễm nước ở Việt Nam và ô nhiễm nước tại địa phương. Khi chọn hình
ảnh nguồn nước địa phương bị ô nhiễm bản thân tôi đã chọn hình ảnh nước thải
của các nhà máy sản xuất giấy tại Lang Chánh và hình ảnh cá chết hàng loạt trên
sông Âm – sự kiện nóng trong năm tại địa phương. Chứng kiến các hình ảnh này
đa số các em đều nhận thức được rằng tình trạng ô nhiễm nước đang diễn ra
hàng ngày, hàng giờ và diễn ra tại nhiều nơi kể cả môi trường nơi các em đang
sinh sống.

9


Nước trên Sông Âm đổi màu đen, đục, cá chết hàng loạt
Để giúp các học sinh hiểu rõ hơn về thực trạng ô nhiễm nước bản thân tôi
tiếp tục đưa ra các con số cụ thể về tình trạng ô nhiễm nước tại Việt Nam. Hiện
nay theo các nguồn tài liệu của các tổ chức bảo vệ môi trường, ở nước ta, 70%
các dòng sông, 45% vùng ngập nước, 40% bãi biển đã bị ô nhiễm, huỷ hoại về
môi trường. Đây là một con số đáng báo động về tình trạng ô nhiễm môi trường
nước. Và đương nhiên khi nguồn nước bị ô nhiễm sẽ đặt con người vào nhiều
mối đe dọa. Đến đây bản thân tôi tiến hành cho các em tự thảo luận tìm ra hậu
quả của ô nhiễm nguồn nước. Kết quả cho thấy rằng đa số các em đều chỉ ra
được những hậu quả khôn lường khi nguồn nước bị ô nhiễm. Để tổng kết lại

dài vô tận liệu có đủ sức làm ô nhiễm cả một dòng sông. Đương nhiên là có thể
và khả năng còn rất cao bởi vi khuẩn có thể dễ dàng lây lan mầm bệnh từ nơi
này qua nơi khác thông qua môi trường nước. Việc xả nước thải của các nhà
máy xuống sông, xuống biển cũng sẽ đẩy con người tới thảm cảnh đau lòng do
phải đứng trước sự lựa chọn 1 trong 2 “ Bạn chọn cá tôm hay chọn nhà máy”.
Sử dụng thuốc trừ sâu cũng sẽ dễ dàng gây ô nhiễm cho tất cả các loại môi
trường đất, nước, không khí.
Để tác động vào tâm lí của các em giáo viên tiếp tục cho học sinh quan sát
các hình ảnh về tình trạng khan hiếm nước trên thế giới khi những người đàn
ông phải tắm từ một lỗ rò rỉ trên ống nước, người phụ nữ phải đi một quãng
đường xa mới lấy được một can nước….Từ đó giáo viên khẳng định rằng sử
dụng nước một cách tiết kiệm, tránh gây ô nhiễm nước là điều cần thiết để bảo
vệ cuộc sống của chính chúng ta.

2 người đàn ông đang tắm từ lỗ rò rỉ
của ống dẫn nước

Người tị nạn ở Kenya đi xin nước

Hạn hán ở Châu Phi
12


2.3.3. Biện pháp 3: GV tổ chức trò chơi ô chữ. Qua đó lồng ghép nội dung
giáo dục bảo vệ môi trường nước cho HS
Sau khi kết thúc việc tìm hiểu các kiến thức lí thuyết về ô nhiễm nước, để
thay đổi không khí giờ học theo tinh thần “Học mà chơi, chơi mà học” bản thân
tôi tiến hành tổ chức trò chơi ô chữ. Thông qua trò chơi này học sinh sẽ thể hiện
được khả năng trả lời nhanh các câu hỏi về môi trường. Đồng thời cũng giúp
giáo viên kiểm tra được mức độ lĩnh hội kiến thức của từng học sinh ở hoạt


B

Y
N


I
I
T
H
C


S
R
I
T

N

I

H

N
Ề U Đ Ỏ
M
Ả I


của con người. Vì vậy đề tài đã đóng góp một phần vào việc nâng cao ý thức
trách nhiệm bảo vệ môi trường nước cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục.
Giúp tôi có thêm kinh nghiệm trong giáo dục học sinh và bảo vệ môi trường.
Gia đình tôi hiện nay cũng đang áp dụng các biện pháp này để sử dụng tài
nguyên nước một cách tiết kiệm và hợp lí. Bản thân tôi cảm thấy thật sự thoải
mái khi được đóng góp một phần công sức trong việc bảo vệ môi trường nước.
2.4.2. Đối với học sinh
Giúp các em hiểu sâu hơn về nguyên nhân, biểu hiện, thực trạng và hậu
quả của ô nhiễm nước. Nếu biết sử dụng tài nguyên nước đúng cách, hợp lí sẽ là
cách để các em chia sẻ với những thách thức của nhân loại. Từ đó giúp các em ý
thức hơn trong việc bảo vệ môi trường nước. Thực tế ý thức của nhiều học sinh
đã có sự thay đổi theo hướng tích cực. Các em đã nhận thức đúng đắn được tầm
quan trọng của tài nguyên nước, hiểu sâu hơn về tình hình ô nhiễm nước trên thế
giới và có ý thức hơn trong việc bảo vệ tài nguyên nước.

14


Để điều tra về sự thay đổi nhận thức trong bảo vệ môi trường nước cho
học sinh bản thân tôi có tiến hành khảo sát qua phiếu thông tin trước và sau tiết
dạy.
PHIẾU THÔNG TIN
1. Theo em môi trường nước có quan trọng không?
 Không quan trọng
 Rất quan trọng
 Không quan tâm
2. Nước thải của gia đình bạn là loại nào?
 Nước thải sinh hoạt
 Nước thải chăn nuôi
 Nước thải do làm nghề ( Nghề…………………)

Lớp

Tổng
số hs

Trước
Sau
Có ý thức
Không có ý
Có ý thức
Không có ý
thức
thức
Số
Tỉ lệ
Số
Tỉ lệ
Số
Tỉ lệ
Số
Tỉ lệ
lượng
% lượng % lượng % lượng %
12A1
30
20
67
10
33
30

94
6
6
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội, là hành vi đạo đức của
con người. Nếu môi trường trong lành sẽ tạo điều kiện cho học sinh phấn khởi
học tập, phát huy tiềm năng của bản thân. Ngược lại nếu môi trường xung quanh
bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng xấu tới chất lượng cuộc sống và thành tích học tập của
các em. Chính vì thế giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh nhất là môi
trường nước là cần thiết. Tuy nhiên để thực hiện thành công người giáo viên
phải thực sự khéo léo trong việc thiết kế bài giảng cũng như sử dụng các phương
pháp dạy học thích hợp để tác động vào tâm lí của các em, làm thay đổi nhận
thức của các em theo hướng tích cực. Đồng thời phải có sự phối hợp giữa gia
đình, nhà trường và xã hội thì việc giáo dục thực sự mới có hiệu quả.
3.2. Kiến nghị
Đối với nhà trường cần phải tăng cường hơn nữa công tác giáo dục môi
trường cho các em
Thường xuyên tổ chức các phong trào thi đua theo từng loại môi trường
cụ thể
Khen thưởng kịp thời và thường xuyên đối với các học sinh có các hoạt
động tích cực trong tuyên truyền và bảo vệ môi trường.
Tạo mọi điều kiện để giáo viên thực hiện tốt việc giáo dục môi trường cho
học sinh.
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 12 tháng 05 năm 2017.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status