HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
THI DON VIT
ảNH HƯởNG ĐạO ĐứC NHO GIáO
ĐếN GIáO DụC ĐạO ĐứC TRONG GIA ĐìNH
ở VIệT NAM HIệN NAY
TểM TT LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: CH NGHA DUY VT BIN CHNG
V CH NGHA DUY VT LCH S
Mó s: 62 22 03 02
H NI - 2017
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Trần Nguyên Việt
2. PGS.TS. Lê Văn Lợi
Phản biện 1 .......................................................................................................
Phản biện 2 .......................................................................................................
Phản biện 3 .......................................................................................................
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án
cấp Học viện họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi ...... ngày ...... tháng ...... năm 2017
cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước bị cản trở.
Chính vì vậy, việc kế thừa những giá trị tích cực, khắc phục, hạn chế
mặt tiêu cực của đạo đức Nho giáo trên lập trường đạo đức cách mạng của
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với thực tiễn của
2
cách mạng nước ta để xây dựng đạo đức gia đình ở Việt Nam nói riêng,
gia đình văn hóa mới nói chung ở nước ta hiện nay là vấn đề mang ý nghĩa
cấp thiết. Đề tài: “Ảnh hưởng Đạo đức Nho giáo đến giáo dục đạo đức
trong gia đình ở Việt Nam hiện nay” do chúng tôi lựa chọn để làm đề tài
luận án của mình chính là sự định hướng tới mục đích nói trên.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đến giáo dục
đạo đức trong gia đình ở Việt Nam trong lịch sử và những vấn đề đặt ra từ
ảnh hưởng đó đến giáo dục đạo đức trong gia đình Việt Nam hiện nay,
luận án đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần
phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho
giáo đến giáo dục đạo đức trong gia đình, góp phần vào sự nghiệp xây
dựng gia đình văn hóa mới ở nước ta hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất: Nghiên cứu nguồn gốc, nội dung đạo đức Nho giáo.
Thứ hai: Đánh giá thực trạng ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đến giáo
dục đạo đức trong gia đình ở Việt Nam hiện nay và một số vấn đề đặt ra.
Thứ ba: Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm
phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho
giáo đến việc giáo dục đạo đức trong gia đình ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
dục đạo đức trong gia đình ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận án góp phần tìm hiểu ảnh hưởng đạo đức Nho giáo đến đạo đức
trong gia đình ở Việt Nam hiện nay. Chỉ ra những khó khăn và thuận lợi
trong việc phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của
đạo đức Nho giáo đối với việc giáo dục đạo đức trong gia đình, xây dựng
gia đình mới ở Việt Nam hiện nay.
Luận án góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch
định chủ trương, chính sách phát triển văn hóa con người Việt Nam, đặc
4
biệt là việc tiếp thu các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc góp phần
xây dựng gia đình văn hóa mới.
Luận án sẽ là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập
môn triết học nói chung và triết học phương Đông nói riêng, cũng như các
môn về khoa học xã hội. Luận án cũng là tài liệu quan trọng cho những ai
quan tâm đến đạo đức, Nho giáo và giáo dục đạo đức gia đình.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, mục
lục, phụ lục, luận án gồm 4 chương, 11 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NHO GIÁO VÀ ĐẠO ĐỨC
NHO GIÁO
1.1.1. Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Vấn đề đạo đức nói chung và đạo đức Nho giáo nói riêng luôn được
giới nghiên cứu quan tâm và từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiều học
giả đều tập trung bàn về vấn đề con người với tư cách là đối tượng của một
học thuyết với mục đích làm rõ cách thức thực hiện mục tiêu chính trị
bằng đạo đức, tức là lấy đạo đức để cảm hóa con người trong việc thiết lập
và duy trì trật tự xã hội.
Ngoài ra có rất nhiều các bài viết, bài báo đăng tải trên các tạp chí,
sách, đã đề cập sâu và rộng về Nho giáo chủ yếu trên bình diện chính trị,
đạo đức, xã hội, triết lý...
1.2. NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN GIA ĐÌNH VÀ ĐẠO ĐỨC
GIA ĐÌNH
Đây là mảng đề tài hết sức quan trọng trong đời sống xã hội nói chung
và mỗi cá nhân nói riêng được đề cập dưới nhiều góc độ nghiên cứu liên
ngành và chuyên ngành như: Triết học, xã hội học, tâm lý học, giáo dục
học... Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường hiện nay thì chủ đề này
được nhiều tác giả đặc biệt quan tâm nghiên cứu.
6
Các công trình nghiên cứu đã chỉ rõ vai trò, vị trí của gia đình trong xã
hội và đối với mỗi cá nhân, đặc biệt là mặt đạo đức. Từ việc phân tích giá
trị to lớn của gia đình các tác giả đã đi đến khẳng định vai trò của gia đình
trong việc hình thành nhân cách đạo đức của con người.
Một số công trình đã khẳng định gia đình là tế bào của xã hội, nơi
ươm mầm của một đời người, chính vì vậy dù bất luận trong trường hợp
nào thì việc phát huy những mặt tích cực và hạn chế tiêu cực là hết sức cần
thiết đối với việc giáo dục thế hệ trẻ ngay từ trong môi trường gia đình.
Bên cạnh đó một số tác giả đi sâu nghiên cứu từ góc nhìn văn hóa, qua tìm
hiểu văn hóa truyền thống, các tác giả đã phân tích làm rõ gia đình và đạo
đức gia đình trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
1.3. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẠO ĐỨC NHO
nhận thấy rằng, các nhà nghiên cứu nhìn chung đã có những nhận định
đánh giá về Nho giáo và đạo đức Nho giáo ở hai mặt tích cực và tiêu cực
cũng như ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần của nước ta, đặc biệt là
đến đạo đức và lối sống gia đình của con người Việt Nam.
Thứ ba, vấn đề giáo dục đạo đức nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm
của con người, trước hết là đối với những người thân trong gia đình, sau
đó mở rộng ra cộng đồng và toàn bộ xã hội mà nó thuộc về là cách tiếp cận
từ cái riêng đến cái chung và cuối cùng, là tìm ra hạt nhân hợp lý của văn
hóa ứng xử ở cấp độ khái quát. Với sự phát triển của xã hội trong nền kinh
tế thị trường thì những vấn đề về lệch chuẩn đạo đức như lãnh cảm, thờ ơ,
vô trách nhiệm đến suy thoái đạo đức đã đẩy xã hội đến với những hệ lụy
mà việc giải quyết chúng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
Thứ tư, nghiên cứu đạo đức Nho giáo, trong đó có giáo dục đạo đức
gia đình cũng đã được tiếp cận ở các mức độ khác nhau. Trên cơ sở kế
thừa những thành quả của các công trình đi trước, chúng tôi tiếp tục đi sâu
vào phạm trù Ảnh hưởng của đạo đức nho giáo đến giáo dục đạo đức
trong gia đình từ cách tiếp cận triết học mang tính khách quan, toàn diện.
Trên tinh thần đó luận án cần tiếp tục làm rõ một số nội dung sau:
Một là, nghiên cứu nguồn gốc, nội dung đạo đức Nho giáo và tiếp tục
làm sáng tỏ một số khái niệm, phạm trù có liên quan đến đề tài luận án
như: đạo đức Nho giáo, gia đình, đạo đức gia đình...
Hai là, nghiên cứu thực trạng ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đến
đạo đức gia đình ở Việt Nam hiện nay từ đó chỉ ra những yếu tố cần tiếp
8
tục kế thừa và phát huy thì cho đến nay thì chưa có một công trình nào giải
quyết một cách đầy đủ. Đây chính là vấn đề chủ yếu mà luận án cần chú
trọng giải quyết.
Ba là, từ thực trạng ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đến giáo dục đạo
- Thời kỳ thứ hai: Hán Nho.
- Thời kỳ thứ ba: Tống nho, Minh nho.
- Thời kỳ thứ tư: Minh Nho và Thanh Nho.
2.1.2. Quan niệm của Nho giáo về đạo đức
Với tư cách là học thuyết chính trị - đạo đức, Nho coi đạo đức là
phương tiện để thực hiện mục đích chính trị. Nói cách khác, các nhà
sáng lập Nho giáo đề cao đạo đức trong việc thiết lập trật tự xã hội và
tiến tới xây dựng mô hình xã hội lý tưởng. Về thực chất, mục đích xây
dựng mô hình xã hội lý tưởng theo tinh thần Nho giáo không phải từ tổ
chức xã hội cấp thấp lên cấp cao hơn, mà là “khôi phục” mô hình xã hội
được xác nhận [theo truyền thuyết] là xã hội thời Nghiêu Thuấn. Mô
hình đó được xây dựng và vận hành theo nguyên tắc đạo đức thông suốt
từ vua tới thường dân, theo đó vua coi dân như con, mọi người trong xã
hội đó coi nhau như anh em trong một nhà, của cải trong xã hội đều là
của chung; kẻ dưới phục tùng, kính trọng người trên, người trên làm
mẫu mực về mọi mặt cho kẻ dưới.
Để thực hiện mục đích đó, Nho giáo tập trung xây dựng các chuẩn
mực đạo đức trên nền tảng năm mối quan hệ nhân luân mà Mạnh Tử
gọi đó là ngũ luân, trong đó lấy các mối quan hệ giữa các thành viên
trong gia đình làm điểm xuất phát. Năm mối quan hệ cơ bản của con
người trong xã hội (Ngũ luân) gồm: Vua - tôi, cha - con, chồng - vợ,
anh - em, bạn - bè. Trong đó có 3 mối quan hệ gia đình và 2 mối quan
hệ xã hội. Đến Đổng Trọng Thư, năm mối quan hệ đó được qui về ba
mối cơ bản, gọi là Tam cương (gồm vua - tôi, cha - con, chồng - vợ).
Dù là ngũ luân hay tam cương thì các mối quan hệ gia đình vẫn áp đảo
và làm nền tảng.
10
Đường lối trị nước của Nho giáo cũng chính là đường lối trị nước của
11
2.2. ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO VỚI TƯ CÁCH NHÂN TỐ CHỦ ĐẠO CỦA
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ
2.2.1. Gia đình và đạo đức gia đình
Gia đình là một đơn vị xã hội, một thiết chế xã hội có lịch sử lâu đời
nhất nhưng lại bền vững nhất. Nguồn gốc của gia đình bắt nguồn từ mối
quan hệ nam nữ, từ việc sinh con đẻ cái nối dõi tông đường và từ nhu cầu
nuôi dưỡng, giáo dục rất tự nhiên. Mặc dù xuất phát từ nhu cầu tự nhiên,
nhưng gia đình lại là một thiết chế xã hội, chịu sự quy định bởi những thiết
chế trong xã hội và trình độ phát triển của xã hội đương thời. Từ đó Luận
án tập trung làm rõ các khái niện gia đình và đạo đức gia đình .
2.2.2. Những nhân tố chủ yếu góp phần hình thành đạo đức gia
đình trong Nho giáo ở Việt Nam
Thứ nhất, đó là sự chi phối của cái bản địa đối với Nho giáo trong sự
du nhập, tiếp biến văn hóa.
Thứ hai, xu hướng xây dựng và củng cố mô hình nhà nước phong kiến
trung ương tập quyền đã tạo đà cho sự tăng trưởng của Nho giáo ở Việt
Nam từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XV.
Thứ ba, sự độc tôn Nho giáo trong lĩnh vực chính trường từ thế kỷ XV
là điều kiện tốt nhất để học thuyết này chi phối một cách mạnh mẽ nhất
đến đạo đức gia đình và xã hội ở nước ta.
Thứ ba, sự độc tôn Nho giáo trong lĩnh vực chính trường từ thế kỷ XV
là điều kiện tốt nhất để học thuyết này chi phối một cách mạnh mẽ nhất
đến đạo đức gia đình và xã hội ở nước ta.
Thứ tư, giới trí thức Nho học Việt Nam.
2.2.3. Một số nội dung và phương pháp cơ bản trong giáo dục đạo
đức gia đình Việt Nam thời phong kiến
2.2.3.1. Các chuẩn mực đạo đức trong gia đình Việt Nam
hệ giữa các thành viên trong xã hội và cuối cùng, bằng các hình thức phụ trợ
nhưng không kém phần hiệu quả, đó là các gia huấn do các nhà nho sáng tác,
và cuối cùng, là hình thức tự tu để “tề gia”.
Một là giáo dục thông qua trường lớp. Đây là hình thức giáo dục
mang tính chính qui, cao nhất là ở Quốc Tử Giám, nơi đào tạo những
người có nguồn gốc từ các gia đình quí tộc và hoàng gia. Từ thời Lê sơ,
13
đối tượng đi học ở đây được mở rộng thông qua xét tuyển tới một số tầng
lớp khác trong xã hội nhưng rất hạn chế. Phần lớn việc giáo dục đạo đức
gia đình ở các cấp địa phương và đặc biệt là vai trò của những ông đồ làng
và những người chủ gia đình.
Hai là bằng việc ban bố và thi hành luật pháp. Trong lịch sử chế độ
phong kiến Việt Nam, đặc biệt là từ thế kỷ XI, khi Nho học nhận được sự
quan tâm của các triều đại thì việc ban hành các văn bản luật pháp (Hình luật,
Hình thư, Quốc triều hình luật, Hoàng triều luật lệ) với nội dung về cơ bản, là
luật pháp hóa các chuẩn mực đạo đức để trừng phạt các hành vi vi phạm đạo
đức gia đình, vi phạm các nguyên tắc hoạt động của nhà nước, v.v.
Ba là các gia huấn. Ngoài việc tham gia vào lĩnh vực giáo dục ở các
cấp độ khác nhau, các nhà nho Việt Nam trong lịch sử còn là những người
trước tác ra những tác phẩm có ý nghĩa giáo dục đạo đức cho con người từ
trong gia đình ra ngoài xã hội. Trong số các trước tác đó, phải kể đến các
loại hình gia huấn trong lịch sử, tức là những tác phẩm liên quan đến huấn
đạo trong gia đình nhằm giáo dục cách ứng xử giữa người với người theo
tinh thần Nho giáo và ở mức độ nhất định, có sự bổ sung cần thiết từ các
học thuyết khác đang hiện diện ở Việt Nam.
Chương 3
ẢNH HƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐẾN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
TRONG GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG
nay rất cần đến các hình thức giáo dục, giáo huấn đạo đức của Nho giáo.
Phương thức truyền tải các nội dung giáo huấn Nho giáo có hiệu quả
thường thông qua ca dao, tục ngữ, truyền thuyết, v.v.
Ba là, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về xây dựng gia
đình văn hóa mới được thực hiện bằng sự kế thừa biện chứng các giá trị
đạo đức gia đình trong Nho giáo.
3.2. THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐẾN
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.2.1. Những ảnh hưởng có ý nghĩa tích cực của đạo đức Nho giáo
đến giáo dục đạo đức trong gia đình ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, đạo đức Nho giáo góp phần nhất định trong việc giáo dục kỷ
cương, nề nếp gia đình và củng cố tinh thần trách nhiệm đối với gia đình,
làng- xã.
15
Thứ hai, đạo đức Nho giáo góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm
của cha, mẹ, của những người lớn tuổi, trở thành tấm gương cho con cháu
noi theo.
3.2.2. Những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo đến giáo
dục đạo đức trong gia đình ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, mặt bảo thủ, lạc hậu của đạo đức Nho giáo là một trong
những rào cản tạo nên sự bất bình đẳng giới trong việc phân công lao động
và hưởng thụ các quyền lợi trong gia đình và xã hội.
Thứ hai, mặt bảo thủ, lạc hậu của đạo đức Nho giáo là một trong
những rào cản trong quá trình xây dựng gia đình văn hoá mới.
Thứ ba, lề giáo của đạo Nho ăn sâu vào đạo đức gia đình nhiều khi
gây nên sự lãng phí, phiền toái trong đời sống gia đình, xã hội.
3.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC NHO
được. Bản chất con người mang tính sinh học xã hội, do đó nó không thể
tách rời tổ chức xã hội đầu tiên mà từ đó nó được sinh ra trên nền tảng của
cái sinh học. Chính vì vậy, muốn xã hội tốt thì trước hết phải xây dựng các
mối quan hệ gia đình tốt.
Do đó, chỉ có thông qua giáo dục gia đình thế hệ trẻ mới được tiếp thu
những điều tối thiểu trong văn hóa ứng xử tốt đẹp, từ đó mới hình thành
nhân cách, lối sống, ứng xử với mọi người xung quanh với xã hội. Những
chuẩn mực giá trị tốt đẹp như lòng yêu nước, tình yêu quê hương đất nước,
đức tính thủy chung, cần cù sáng tạo trong lao động; bất khuất, kiên cường
vượt qua mọi khó khăn, thử thách… đều được hình thành, giữ gìn, vun đắp
và phát huy trong mỗi gia đình Việt Nam. Môi trường đó trước hết là từ mỗi
gia đình, tức là từ mỗi tế bào của xã hội. Các gia đình chịu trách nhiệm trước
xã hội về sản phẩm của gia đình mình, phải có trách nhiệm nuôi dưỡng và
giáo dục con cái, cung cấp cho xã hội những công dân có ích.
Việc xây dựng gia đình trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế
hiện nay, Đảng, Nhà nước, toàn xã hội và mỗi cá nhân cần tập trung hành
động cụ thể, thiết thực:
17
Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền thông qua các phương
tiện truyền thông và hoạt động giáo dục để nâng cao nhận thức của mỗi cá
nhân về vị trí, vai trò của gia đình đối với sự tồn tại, phát triển của xã hội.
Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà
nước, chính quyền các cấp đối với công tác gia đình; từ đó nâng cao nhận
thức cho các thành viên trong gia đình trong việc thực hiện chủ trương,
đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Thứ ba, nâng cao trình độ dân trí của người dân, góp phần thực hiện
quyền bình đẳng, thắt chặt tình yêu thương và tinh thần trách nhiệm trong
gia đình; tạo cơ sở cho việc xây dựng một gia đình hòa thuận, hạnh phúc,
Bốn là, đảm bảo quyền tự do dân chủ của cá nhân. Đây là điểm chúng
ta cần hướng tới để xây dựng gia đình văn hóa.
4.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY MẶT TÍCH
CỰC, HẠN CHẾ MẶT TIÊU CỰC CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐỐI VỚI
VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
4.2.1. Đẩy mạnh việc phát triển kinh tế gia đình, kết hợp chặt chẽ
giữa gia đình với xã hội trong việc khôi phục ảnh hưởng tích cực của
đạo đức Nho giáo đối với việc giáo dục đạo đức trong gia đình để xây
dựng gia đình văn hoá mới ở Việt Nam hiện nay
Lịch sử tồn tại và phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng: loài
người tồn tại, phát triển là do ba loại sản xuất quy định: Sản xuất ra con
người, sản xuất của cải vật chất, sản xuất đời sống tinh thần. Trong đó sản
xuất của cải vật chất là quan trọng nhất và mang tính quyết định. Chính vì
vậy sản xuất vật chất và hoạt động kinh tế của mỗi một gia đình là chức
năng tự nhiên trong mọi thời đại. Gia đình muốn tồn tại và phát triển bền
vững trước hết phải phát triển kinh tế đây là cơ sở cho việc ổn định và xây
dựng phát triển đạo đức gia đình.
Kinh tế đầy đủ chính là yếu tố đảm bảo cho một gia đình ổn định, phát
triển và hạnh phúc. Nếu gia đình mà kinh tế không đầy đủ chưa đáp ứng được
những điều kiện về vật chất và tinh thần thì nó cũng không thể đảm bảo thực
hiện được đầy đủ các chức năng cơ bản của gia đình và hạnh phúc của mỗi
một thành viên.
19
Để đảm bảo các mục tiêu trên Đảng và Nhà nước phải có các giải
pháp đồng bộ, nhằm hỗ trợ, giúp đỡ các gia đình có khả năng tự vươn lên
và phát triển. Có chính sách năng động và cụ thể hướng vào việc phát triển
kinh tế gia đình, nâng cao mức sống cho gia đình.
văn hóa ngoại lai đang tràn từ bên ngoài vào thông qua nền kinh tế thị
trường. Chính vì vậy, những người theo quan điểm thứ hai này cho rằng phải
giáo dục nền nếp, gia phong, đạo đức trong gia đình trước khi giáo dục kiến
thức văn hóa.
4.2.3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc khắc
phục những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo đối với việc giáo
dục đạo đức trong gia đình để xây dựng gia đình văn hoá mới ở Việt Nam
hiện nay
Đạo đức và pháp luật có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đạo đức và
pháp luật đều hướng mọi người tự kìm hãm ham muốn cá nhân để tuân
theo trật tự, quy luật chung của xã hội. Đạo đức và pháp luật đều điều
chỉnh hành vi của con người trong xã hội. Tuy nhiên chức năng điều chỉnh
hành vi của pháp luật là cưỡng chế, bắt buộc. Còn chức năng điều chỉnh
hành vi của đạo đức là bằng dư luận xã hội, bằng tự vấn lương tâm. Chính
vì vậy giáo dục đạo đức không thể tách rời giáo dục sự hiểu biết về pháp
luật. Pháp luật sẽ giúp đạo đức ngăn chặn những hành vi trái đạo đức,
đồng thời biểu dương khích lệ những hành vi đạo đức tốt đẹp, bảo vệ
những nhân tố đạo đức mới đang được hình thành và tránh được những
ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo.
Chính vì vậy trong giai đoạn hiện nay cần tăng cường vai trò điều tiết
của pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc
khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo đối với việc
xây dựng gia đình văn hoá mới ở Việt Nam hiện nay.
Để làm được điều đó trước hết chúng ta phải hoàn thiện hệ thống
chính sách, pháp luật để xây dựng gia đình văn hóa là mục tiêu của Đảng
và Nhà nước. Bên cạnh đó cần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phải
nâng cao trình độ dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủ pháp
21
KẾT LUẬN
Nho giáo là học thuyết chính trị - đạo đức do Khổng Tử sáng lập hơn
2500 năm, có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn trong tất cả lĩnh vực của đời
sống kinh tế - xã hội - chính trị - văn hóa - gia đình của các nước phương
Đông đồng văn với Trung Hoa.
Một trong những vấn đề mà Khổng Tử quan tâm trong việc xây dựng
học thuyết chính trị - đạo đức của mình là làm thế nào để đạo đức đóng vai
trò chủ đạo trong việc thực hiện mục đích chính trị. Đạo đức được thể hiện
qua các mối quan hệ người, tức là sự phản ánh ứng xử đạo đức giữa người
với người mà cơ sở đầu tiên là các mối quan hệ gia đình. Theo Nho giáo,
gia đình là tế bào của xã hội, là cơ sở để hình thành đạo đức xã hội, còn xã
hội là một gia đình lớn. Gia đình cũng là trường học đầu tiên để con người
rèn luyện và trưởng thành. Đây là nơi có vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc gìn giữ, phát triển và truyền thụ những giá trị văn hoá tinh thần cao
quý từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Từ việc nghiên cứu nội dung đạo đức cơ bản của Nho giáo, đặc biệt là
đạo đức trong các mối quan hệ gia đình, trên cơ sở đó làm rõ ảnh hưởng của
nó đến gia đình Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện tại, luận án rút ra một
số kết luận sau đây:
1. Đạo đức học là nội dung quan trọng của Nho giáo, trong đó có đạo
đức gia đình với tư cách là nền tảng đạo đức xã hội dựa trên các mối quan hệ
giữa các thành viên trong gia đình với các chuẩn mực đạo đức bất di bất dịch
mà con người phải tuân thủ. Tuy nhiên, đạo đức Nho giáo nói chung, đạo
đức gia đình nói riêng, khi vào Việt Nam, trải qua quá trình lịch sử hơn hai
ngàn năm đã có những biến đổi do sự tiếp biến giữa Nho giáo với các yếu tố
bản địa và với các học thuyết khác được du nhập và tồn tại song hành với nó
trong lịch sử dân tộc. Những biến đổi đó hoàn toàn do tồn tại xã hội Việt
Nam qua từng giai đoạn lịch sử cụ thể qui định, do đó những chuẩn mực,