Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay - Pdf 34

Bài tập lớn học kỳ

Môn Luật Tài Chính Việt Nam

A. LỜI MỞ ĐẦU
Áp dụng thuế giá trị gia tăng (GTGT) là một xu thế tất yếu của nhân loại, thực
tế hiện nay đã có hơn 120 nước áp dụng thuế GTGT đã chứng minh cho điều đó.
Thuế GTGT là loại thuế gián thu quan trọng trong việc điều tiết nhập khẩu, sản xuất,
lưu thông hàng hóa, dịch vụ của nước ta. Thuế GTGT là công cụ chủ yếu để nhà
nước khuyến khích hoặc hạn chế đối với các mặt hàng, dịch vụ nhất định thông qua
đó huy động một nguồn thu nhập của người tiêu dùng đóng góp vào ngân sách Nhà
nước. Thực tiễn áp dụng thuế GTGT ở nước ta trong những năm qua cho thấy sự tác
động lớn, nhiều mặt đến đời sống kinh tế, xã hội. Sau đây em xin tìm hiểu vấn đề:
“Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam hiện
nay”.

B. NỘI DUNG
I. Một số vấn đề cơ bản về pháp luật thuế giá trị gia tăng
1. Sự ra đời và phát triển của thuế giá trị gia tăng trên thế giới và tại Việt
Nam
Nếu như thuế đã xuất hiện từ rất lâu đời thì thuế GTGT có thể coi là loại thuế
hiện đại, áp dụng chính thức lần đầu tiên tại Pháp năm 1954, mặc dù đã được các nhà
nghiên cứu kinh tế từ những năm 1920 ở các quốc gia khác nhau. Đến năm 1968,
thuế này được nhập vào thuế lưu thông đánh vào dịch vụ và thuế địa phương đánh
vào lưu thông bán lẻ thành một loại thuế thống nhất chung thu ở giai đoạn bán Chỉ
hơn hai mươi năm sau khi ra đời hình thức sơ khai đầu tiên, thuế GTGT đã được coi
là một trong những điều kiện tiên quyết để gia nhập khối EC (năm 1977). Cho đến
nay, loại thuế này đã được áp dụng ở trên 120 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Ở Việt Nam, trước năm 1990, thuế doanh thu áp dụng với các cơ sở sản xuất
kinh doanh thuộc thành phần kinh tế tập thể và cá thể. Điều lệ thuế công thương
nghiệp ban hành theo Nghị quyết số 200/NQ-TVQH ngày 18/01/1966 quy định loại

vào của doanh nghiệp kia. Đây cũng là một biểu hiện của tính trung lập kinh tế của
thuế GTGT.
3. Pháp luật thuế giá trị gia tăng
Pháp luật thuế GTGT là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban
hành điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình đăng ký, kê khai, nộp thuế,
quản lý và quyết toán thuế GTGT.
Các quan hệ này bao gồm: Nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý
thuế GTGT, gắn liền với sự tham gia của Nhà nước; nhóm các quan hệ phát sinh
trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT đối với Nhà nước; nhóm các quan hệ
phát sinh trong quá trình xử lý vi phạm và khiếu nại về thuế GTGT.
Pháp luật thuế GTGT có các đặc điểm cơ bản sau:
- Thứ nhất, pháp luật thuế GTGT có tác động trong phạm vi rộng, đến tất cả
các đối tượng trong xã hội (mọi đối tượng có thu nhập, sử dụng một phần thu nhập
phục vụ đời sống).
LỚP NO1_TL4_NHÓM 2

2

Phạm Việt Nghĩa_340756


Bài tập lớn học kỳ

Môn Luật Tài Chính Việt Nam

- Thứ hai, chỉ có thể được ban hành khi các điều kiện áp dụng đạt đến mức độ
nhất định. Những điều kiện ở đây chủ yếu là tiêu chuẩn về kế toán, chế độ chứng từ
hóa đơn và khả năng quản lý của chính các cơ quan tham gia quản lý thu thuế GTGT.
Ban hành Luật thuế GTGT được coi là bước đột phá trong quá trính cải cách,
hoàn thiện về hệ thống pháp luật thuế. Để đảm bảo tính hiệu quả, pháp luật thuế



Bài tập lớn học kỳ

Môn Luật Tài Chính Việt Nam

tuyên truyền giải thích các luật thuế mới, phản ánh kịp thời những gương điển hình
thực hiện tốt các luật thuế mới cũng như những khó khăn vướng mắc trong việc thực
hiện các luật thuế mới.
- Các cơ sở kinh doanh và mọi tầng lớp nhân dân đều hưởng ứng và đồng tình
thực hiện pháp luật thuế GTGT do nhận thức được sự tiến bộ và ưu việt của pháp luật
thuế GTGT.
- Sự phấn đấu nỗ lực của ngành Thuế quan và ngành Hải Quan từ việc chuẩn bị
triển khai đến việc tổ chức thực hiện pháp luật thuế GTGT.
2. Một số yếu tố gây vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật thuế
giá trị gia tăng
2.1. Thuế suất thuế GTGT khá cao.
Mức thuế suất thuế GTGT 10% tính cho các hàng hóa, dịch vụ thông thường
cho tiêu dùng là khá cao, làm giảm sức mua, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá gặp nhiều
khó khăn. Mức thuế suất 10% được quy định tại khoản 3 Điều 8 Luật thuế GTGT
năm 2008.
Mặc dù theo lý luận, thuế GTGT do người tiêu dùng trả, không gây ảnh hưởng
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhưng nếu thuế suất cao,
giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ sẽ cao, người tiêu dùng khó chấp nhận, tiêu thụ
sẽ gặp khó khăn, các doanh nghiệp muốn bán được hàng buộc phải hạ giá bán và bị
thua lỗ. Để tránh bị thua lỗ, các doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất.
2.2. Thuế GTGT làm đảo lộn mức thuế phải nộp.
Thuế GTGT được thiết kế với mức thu tương đương thuế doanh thu với mục
tiêu ổn định quan hệ phân phối giữa Nhà nước với nền kinh tế xét trên tổng thể,
nhưng thực tế có làm đảo lộn mức thuế phải nộp của các ngành khác nhau. Có ngành

thêm khó khăn cho doanh nghiệp.
2.5. Tình trạng gian lận thuế GTGT
Một số nguyên nhân gây nên tình trạng gian lận về thuế GTGT:
- Tính mới của thuế GTGT: Tính mới của thuế GTGT thể hiện ở những điểm:
Cơ sở tính thuế là GTGT chứ không phải doanh thu hay lợi nhuận; Quy trình thu và
quản lý thuế mang tính công nghệ; Diện chịu thuế với thuế suất 0% khác cơ bản diện
không chịu thuế; Khấu trừ thuế khác nhau giữa các mặt hàng chịu thuế GTGT và mặt
hàng không chịu thuế GTGT; Hoá đơn GTGT và hoá đơn thường... Khái niệm thuế
GTGT đầu vào, thuế GTGT đầu ra và đặc biệt là thuế GTGT đầu ra bằng 0 đồng còn
quá mới mẻ đối với người kinh doanh. Những điểm nói trên không chỉ mới đối với
người nộp mà đối với cả cơ quan thu thuế
- Cơ sở kế toán quốc dân chưa hình thành hoặc chưa được chuẩn bị: Các cơ sở
kinh doanh quy mô dưới doanh nghiệp tư nhân chưa có sự quan tâm đúng mức đến
chế độ kế toán quốc dân mà phản ánh hoạt động kinh doanh theo logic thô sơ. Thậm
chí, họ cho rằng sổ sách kế toán là công cụ của cơ quan Nhà nước kiểm tra, kiểm soát
họ mà không nghĩ rằng sổ sách, tài khoản, chứng từ,... là những phương tiện căn bản
giúp họ tiếp cận hoạt động kinh doanh một cách hệ thống để đánh giá, đo lường và
LỚP NO1_TL4_NHÓM 2

5

Phạm Việt Nghĩa_340756


Bài tập lớn học kỳ

Môn Luật Tài Chính Việt Nam

phân tích kết quả kinh doanh cũng như dự báo tương lai. Thêm nữa, nền kinh tế Việt
Nam vẫn là nền kinh tế tiền mặt. Mọi thanh toán và giao dịch đều có thể dùng tiền

6

Phạm Việt Nghĩa_340756


Bài tập lớn học kỳ

Môn Luật Tài Chính Việt Nam

máy kiểm tra chuyên dùng, camera, cân điển tử...
- Sự yếu kém về mặt nhận thức của một bộ phận khá lớn công chúng và thói
quen mua hàng lấy hoá đơn chưa hình thành.
Mặt khác, hiện nay hoá đơn bất hợp pháp đa dạng và phong phú chưa từng có
và trở thành hàng hoá được mua bán công khai. Vấn đề này đã làm đau đầu cơ quan
thuế hơn bao giờ hết. Trước đây khi thực hiện thuế doanh thu sử dụng hoá đơn giả,
chỉ có thể ăn gian thuế trên số hàng bán ra, còn bây giờ, với hoá đơn giả, Nhà nước
không những không thu được đồng thuế nào mà ngược lại còn phải chi thêm để hoàn
thuế.
2.6. Về việc khấu trừ thuế GTGT và xét giảm thuế GTGT
Cách tính thuế đầu vào được khấu trừ trong trường hợp kinh doanh hàng hoá
chịu thuế GTGT còn nhiều phức tạp (Điều 12 Luật thuế GTGT 2008, Điều 9 Nghị
định 123/2008 và các văn hản hướng dẫn thi hành Luật thuế GTGT). Những qui định
về khấu trừ khống và xét giảm thuế GTGT còn thiếu chặt chẽ, rườm rà, mang tính
chắp vá.
2.7. Về hai phương pháp tính thuế và hai loại hoá đơn
Ở nước ta thực hiện thuế GTGT đã đáp ứng hai phương pháp tính thuế cả hai
loại hoá đơn, áp dụng phương pháp khấu trừ và hoá đơn GTGT đối với các doanh
nghiệp đủ điều kiện hạch toán kế toán và áp dụng phương pháp trực tiếp thêm GTGT
cả sử dụng hoá đơn thông thường đối với các hộ kinh doanh nhỏ. Việc áp dụng đồng
thời hai cách tính thuế GTGT và hai loại hoá đơn trong điều kiện nền kinh tế nước ta

xuất kinh doanh bình thường, Chính phủ, Bộ tài chính đã phải giảm 50% thuế GTGT
cho một số mặt hàng, mở rộng thêm một số đối tượng không chịu thuế GTGT… Tất
cả những xử lý theo hướng "vướng đâu gỡ đấy" đã làm cho biểu thuế suất biến
dạng ,trên thực tế gây nên sự bất hợp lý mới cho sự cạnh tranh bình đẳng của doanh
nghiệp.
Tạo ra hai sân chơi khác nhau trong nền kinh tế. Hiện nay thuế GTGT được
tính theo hai phương pháp là phương pháp trực tiếp và phương pháp khấu trừ.
Khi các đơn vị thực hiện theo phương pháp khấu trừ cung ứng hàng hoá, dịch
vụ cho các đơn vị thực hiện theo phương pháp trực tiếp thi những đơn vị này không
được khấu trừ, trong khi trong giá trị hàng hoá đã có phần thuế GTGT nên đã làm cho
thuế đánh chồng chéo lên thuế. Ngược lại, khi các đơn vị thực hiện theo phương pháp
trực tiếp có quan hệ giao dịch cung ứng dịch vụ, hàng hoá cho các đơn vị thực hiện
thuế theo phương pháp khấu trừ thuế GTGT, thực chất đơn vị nhận phải trả phần thuế
GTGT chìm trong giá bán mà đơn vị trực tiếp đã nộp. Từ cách thực hiện như trên ta
thấy hiện đang tồn tại hai sân chơi khác nhau mà mỗi sân chơi chỉ chơi theo một
hình, chính vì vậy đang hình thành hai xu hướng là một số đơn vị đang nộp thuế theo
phương pháp khấu trừ chuyển sang nộp theo phương pháp trực tiếp và ngược lại, tuỳ
thuộc vào chiến lược khách hàng của họ và dĩ nhiên là ngành thuế khó lòng giải
quyết ngay đưọc. Hơn nữa, trong thực tế thu thuế tính thưo phương pháp trực tiếp rất
khó chính xác, nên vẫn chủ yếu tính theo phương pháp khoán (đối với hộ nhỏ) như
LỚP NO1_TL4_NHÓM 2

8

Phạm Việt Nghĩa_340756


Bài tập lớn học kỳ

Môn Luật Tài Chính Việt Nam

Đề nghị chỉ sử dụng hai mức thuế suất: 0% cho hàng hoá xuất khẩu và 10%
LỚP NO1_TL4_NHÓM 2

9

Phạm Việt Nghĩa_340756


Bài tập lớn học kỳ

Môn Luật Tài Chính Việt Nam

cho mọi loại hàng hoá bán nội địa. Thuế suất thống nhất sẽ góp phần bịt được những
kẽ hở do chênh lệch thuế suất gây ra. Để giảm số lượng thuế suất còn 2 mức, thì phải
bảo đảm các yêu cầu sau:
- Xác định mức thuế suất phải bảo đảm không làm ảnh hưởng lớn đến nguồn
thu của Ngân sách Nhà nước, đồng thời phải nuôi dưỡng nguồn thu cho Ngân sách
Nhà nước.
- Mức thuế suất phải bảo hộ được sản xuất trong nước.
- Mức thuế suất phải bảo đảm công bằng quyền lợi và nghĩa vụ giữa các doanh
nghiệp, đảm bảo ổn định thị trường trong nước, không có biến động lớn về giá cả và
không ảnh hưởng đến đời sống nhân dân.
- Về quản lý và sử dụng hoá đơn chứng từ:
Bộ tài chính nên nghiên cứu lại giấy in hoá đơn, chứng từ và ký hiệu, mã hiệu
của từng loại hoá đơn, chứng từ để chống in giả, nối mạng về quản lý và sử dụng hoá
đơn của đối tượng nộp thuế trên máy vi tính trong toàn quốc. Mặt khác, Bộ tài chính
cần phải phối hợp với các cơ quan pháp luật để kiểm tra, phát hiện và xử lý, nghiêm
các trường hợp vi phạm về chế độ quản lý ,sử dụng hoá đơn, yêu cầu các doanh
nghiệp phải tự kiểm tra nội bộ, mua bán hàng hoá, dịch vụ phải ghi rõ tên, địa chỉ, mã
số thuế của người bán. Đồng thời mở rộng khuyến khích các doanh nghiệp tự in hoá

trọng tính ổn định tương đối của hệ thống thuế, tránh sự thay đổi quá nhanh và nhiều
làm cho các nhà quản lý thuế và người nộp thuế rơi vào tình trạng lúng túng trong thi
hành, gây nên sự hoài nghi của các nhà đầu tư, làm phương hại đến lợi ích của người
nộp thuế, tăng trưởng kinh tế và lợi ích của quốc gia.
- Hình thành và phát triển nhóm tư vấn thuế:
Hình thành nhóm tư vấn thuế là một nhu cầu cần thiết đối với các đối tượng
chịu thuế, nộp thuế trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Nhiều
nước trên thế giới coi dịch vụ tư vấn thuế là một nghề, đây là dịch vụ cung cấp các
thông tin, kiến thức, kinh nghiệm và sự hiểu biết về lĩnh vực thuế. Vì vậy nên sớm
hình thành nhóm tư vấn thuế trong cơ cấu tổ chức bộ máy nghành thuế. Bộ phận này
có tính độc lập tương đối với bộ phận trực tiếp quản lý thu thuế.
- Cải cách hành chính thuế:
Mục tiêu của cải cách hành chính thuế phải đảm bảo yêu cầu đơn giản hoá thủ
tục, các văn bản thuế phải đảm bảo nguyên tắc, đơn giản, dễ hiểu, dễ làm, dễ kiểm
tra. Để đẩy mạnh công tác cải cách hành chính thuế, Bộ tài chính và ngành thuế nên
chú ý những vấn đề sau: Rà soát lại toàn bộ những văn bản hướng dẫn thi hành luật
thuế, nghiên cứu, xem xét làm rõ cách giải thích, từ ngữ và nội dung, tính thống nhất
và kế thừa của các văn bản. Mẫu kê khai thuế, nộp thuế cần thống nhất với chế độ kế
toán, thống kê, đơn giản hoá các mẫu biểu qui định trong thu, nộp, hoàn thuế.
- Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về thuế:
Do thực hiện quy trình quản lý thu thuế mới, đối tượng nộp thuế tự tính thuế,
kê khai và nộp thuế nên công tác tuyên truyền hướng dẫn, giải thích thật cụ thể về nội
dung chính sách thuế, quy trình quản lý thuế, cách ghi chép hoá đơn chứng từ, cách
LỚP NO1_TL4_NHÓM 2

11

Phạm Việt Nghĩa_340756




TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trường Đại học Luật Hà nội, Giáo trình luật thuế Việt Nam , Nxb. Công
an, Hà Nội, 2008.
2. Luật thuế GTGT năm 2008.
3.

Trần Minh Hiền, Pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam và phương hướng hoàn

thiện, Luận văn thạc sĩ, 2006.
4. Nguồn tham khảo từ Internet.

LỚP NO1_TL4_NHÓM 2

13

Phạm Việt Nghĩa_340756




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status