Đạo hiếu trong nho giáo và ý nghĩa của nó đối với giáo dục đạo đức gia đình ở việt nam hiện nay - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------------

NGUYỄN HỒNG PHONG

ĐẠO HIẾU TRONG NHO GIÁO VÀ Ý NGHĨA
CỦA NÓ ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠO ĐƢ́C
GIA ĐÌ NH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Triế t ho ̣c

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------------

NGUYỄN HỒNG PHONG

ĐẠO HIẾU TRONG NHO GIÁO VÀ Ý NGHĨA
CỦA NÓ ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠO ĐƢ́C
GIA ĐÌ NH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Triế t ho ̣c
Mã số : 60.22.03.01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa ho ̣c: TS. Dƣơng Văn Duyên

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................2
1. Lý do chọn đề tài................................................................................................2
2. Tổ ng quan tin
̀ h hin
̀ h nghiên cƣ́u đề tài ...........................................................3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................8
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................8
5. Cơ sở lý luâ ̣n và phƣơng pháp nghiên cƣ́u .....................................................8
6. Đóng góp của luâ ̣n văn ......................................................................................9
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn .......................................................9
8. Kế t cấ u của luâ ̣n văn .........................................................................................9
NỘI DUNG ..............................................................................................................10
CHƢƠNG 1: ĐẠO HIẾU TRONG NHO GIÁO VÀ GIÁO DỤC .....................10
ĐẠO ĐƢ́C GIA ĐÌ NH ............................................................................................10
1.1. Đa ̣o hiếu trong Nho giáo ..............................................................................10
1.1.1. Nho giáo và vị trí đạo hiếu trong đạo đức Nho giáo .............................10
1.1.3. Đạo hiếu trong Nho giáo Việt Nam .......................................................33
1.2. Giáo dục đạo đức gia đình ...........................................................................42
1.2.1. Khái niệm gia đình, đạo đức gia đình và giáo dục đạo đức gia đình ...42
1.2.2. Vị trí, nội dung giáo dục đạo đức gia đình ............................................45
1.2.3. Chủ thể và phương pháp giáo dục đạo đức gia đình ............................52
Tiểu kết chương 1 ..................................................................................................59
CHƢƠNG 2. THƢ̣C TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐƢ́C GIA ĐÌ NH VIỆT NAM
HIỆN NAY VÀ Ý NGHĨA ĐẠO HIẾU VỚI GIÁO DỤC ĐẠO ĐƢ́C ...............62
GIA ĐÌ NH Ở NƢỚC TA .........................................................................................62
2.1. Thƣ ̣c tra ̣ng giáo du ̣c đa ̣o đƣ́c gia đin
̀ h Viêṭ Nam hiện nay .......................62
2.1.1. Những thành tựu đạt được.....................................................................62
2.1.2. Những ha ̣n chế .......................................................................................70

Gia đình Việt Nam hiện nay, vốn là nơi duy trì các giá trị đạo đức truyền
thống, nhưng lại đang đứng trước thách thức, sự tấn công của những quan niệm tư
tưởng mới, lối sống mới. Mặt trái của cơ chế thị trường đang hàng ngày hàng giờ
làm suy thoái đạo đức của một bộ phận trong xã hội. Thực tế cho thấy rằng, trong
đời sống xã hội đã có những biểu hiện coi nhẹ những giá trị truyền thống, chạy theo
thị hiế u không lành mạnh: Tệ sùng bái văn hóa ngoa ̣i lai , coi thường những giá trị
văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, vị kỷ… đang gây

2


hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Không ít trường hợp vì đồng tiền mà chà
đạp lên tình nghĩa gia đình, vợ chồng, cha con, anh em... Trong khi đó , tình trạng
giáo dục đạo đức gia đình bị buông lỏng, thâ ̣m chí là xem nhe; ̣ thái độ và hành vi đối xử
của con cái đối với cha mẹ đang diễn ra một cách tuỳ tiện và trái với đạo đức.
Để thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị đạo đức truyền thống của
gia đình Việt Nam cần nghiên cứu nội dung đa ̣o hiếu trong Nho giáo và ý nghĩa của
nó đối với giáo dục đạo đức gia đình ở Việt Nam hiê ̣n nay để phát huy những giá trị
của đa ̣o hiếu trong Nho giáo và ý nghiã của nó đối với giáo du ̣c đạo đức gia đình ở
Việt Nam hiê ̣n nay nhằm xây dựng đạo đức gia đin
̀ h Việt Nam trong thời đ ại mới,
xây dựng gia đình bình đẳng, tiến bộ, ấm no; đẩ y lùi những biểu hiện tiêu cực,
xuống cấp của đạo đức gia đin
̀ h là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa quan trọng
trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn

trên, học viên chọn đề tài :

“Đạo hiếu trong Nho giáo và ý nghĩa của nó đố i với giáo dục đạo đức gia đình ở

toàn xã hội. Vì vậy, vấn đề này đã được một số nhà nghiên cứu về Nho giáo đề cập
đến qua mô ̣t số công triǹ h nghiên cứu như:
Bàn về đạo đức Nho giáo, tác giả Quang Đạm trong tác phẩm Nho giáo xưa
và nay khẳng định: “Khổng Khâu và các đồ đệ trực tiếp hoặc gián tiếp của “Phu
Tử” dành công phu nhiều nhất vào sự giảng dạy, trau dồi các đức hiếu đễ, đức nhân
và đức lễ. Đi từ đáy tháp lên tới đỉnh tháp, chúng ta sẽ cố gắng một mặt tìm hiểu
chung tất cả các đức trên đây, mặt khác tập trung sự chú ý nhiều hơn vào hiếu đễ,
nhân và lễ…Nếu ta coi đức nhân là đức lớn tập trung tinh túy của tất cả các đức
khác, thì chúng ta có thể kết luận rằng, Khổng giáo coi hiếu đễ là gốc của tất cả mọi
đức nói chung… Hiếu đễ không phải chỉ là đức tốt của người làm con làm em mà
còn luyện cho con người trở thành hữu đạo, hữu đức trong nước trong thiên hạ nữa”
[13, tr.130]. Nhà nghiên cứu Quang Đạm đã từ nhiều luận điểm trong Ngũ Kinh, Tứ
Thư…và nhiều tài liệu diễn giải của những danh Nho về sau để nêu lên mấy nguyên
lý lớn nhất của chữ hiếu: Sự thân và thủ thân gắn liền với nhau; suốt đời thiện kế,
thiện thuật; dương danh hiển thân, cách báo hiếu tốt nhất [13, tr.178].
Đi sâu khai thác đạo hiếu ở cấp độ sâu hơn phải kể đến tác phẩm “Chữ hiếu
trong nền văn hoá Trung Hoa” của tác giả Tiêu Quần Trung. Với bốn chương, tác
giả đã đề cập tới khởi nguồn, diễn biến, ý nghĩa của đạo hiếu và bước đầu nêu lên
những suy nghĩ về lịch sử của hiếu đạo với các giá trị đương đại. Theo ông, từ
Khổng Tử đến Hiếu Kinh là hoàn thành lý luận hiếu đạo của Nho gia. Về sau, nhà

4


Hán dùng hiếu để trị thiên hạ, còn văn hóa hiếu đạo thời Ngụy, Tấn, Tùy, Đường là
loại suy tôn và biến dị. Tác giả cũng đưa ra nhận định về đỉnh cao ngu hiếu thời
Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Trên cơ sở đó, Tiêu Quần Trung đã nghiên cứu mối
quan hệ giữa hiếu đạo và việc báo hiếu, ông không chỉ nêu ra tác dụng lịch sử của
hiếu đạo mà còn khẳng định giá trị hiếu đạo trong quan hệ gia đình, xã hội, quốc gia
và dân tộc. Ông khẳng định: “Hiếu đạo trong xã hội cổ đại Trung Quốc đã phát huy

hệ đứng dọc trong gia đình và dòng họ, có ý nghĩa quan trọng nhất trong các
nguyên tắc ứng xử gia đình. Đạo hiếu thể hiện trước hết ở việc con cháu phải nuôi
dưỡng ông bà cha mẹ. Đây là yêu cầu tối thiểu đối với mỗi thành viên trong gia
đình.” [11, tr.156]. Không những thế, theo Phan Đại Doãn: “Hiếu không dừng ở đạo
đức, mà xa hơn còn là phạm trù tín ngưỡng, một tín ngưỡng thế tục, hiếu còn là điều
luật xã hội mọi người phải tuân thủ.” [11, tr.175].
Quan điểm của Phan Đại Doãn thể hiện trong tác phẩm khá sâu sắc và mang
tính gợi mở cao. Vấn đề các triều đại đều có ý thức sử dụng pháp luật để pháp lý
hóa tư tưởng hiếu hay tông pháp hóa gia đình và dòng họ là một thực tế lịch sử.
Nhưng sự tông pháp hóa đó ảnh hưởng đến tư duy, hành động và việc hình thành
nhân cách con người Việt Nam như thế nào cần có sự luận giải rõ hơn nữa.
Trần Nguyên Việt với bài viết “Đạo hiếu Việt Nam qua cái nhìn lịch đại” đã
luận giải khái niệm hiếu, quan điểm hiếu đạo theo tiến trình phát triển lịch sử tư
tưởng Việt Nam. Trần Nguyên Việt cho rằng: “Tinh thần trung hiếu thời Trần đã để
lại cho các triều đại phong kiến Việt Nam về sau một bài học sâu sắc mà triều đại
nào không biết phát huy nó đều gặp phải khó khăn trong việc điều hành đất nước và
đặc biệt, không thể thắng được kẻ thù xâm lược” 94, tr.36 và chủ trương “lấy hiếu
trị thiên hạ” (Minh Mệnh chính yếu) đã làm cho đạo hiếu trở thành cái chủ đạo
trong lối sống của nhiều gia đình cũng như chuẩn mực đạo đức trong văn hóa ứng
xử xã hội mang tính luân lý người Việt” 94, tr.41…Trên cơ sở đó, Trần Nguyên
Việt rút ra một số đặc điểm trong đạo hiếu Việt Nam: Đạo hiếu thiên về hoạt động
thực tiễn hơn là lập thuyết; đạo hiếu Việt Nam chịu ảnh hưởng của nhiều học thuyết
triết học, chính trị - đạo đức, tôn giáo và các yếu tố bản địa; thừa nhận đạo hiếu như
một lẽ tự nhiên, người Việt Nam chấp nhận và tuân thủ việc luật pháp hóa các hành
vi đạo đức, coi những quy phạm đạo hiếu đã được luật pháp hóa ấy như những
chuẩn mực đạo đức để điều chỉnh, định hướng hành vi đạo đức của mình.

6





Tóm lại, trong các công trình có liên quan trực tiếp và gián tiếp, đạo hiếu của
Nho giáo đã được nghiên cứu ở các tầng bậc khác nhau. Mối liên hệ giữa đạo hiếu
của Nho giáo đối với việc giáo dục đạo đức con người cũng đã được đề cập song
chỉ dừng lại ở những gợi mở khoa học, những tiếp cận ban đầu hoặc tư tưởng phái
sinh trong tổng thể một vấn đề lớn. Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc thành tựu nghiên
cứu của các nhà nghiên cứu đi trước, luận văn tập trung khai thác trên bình diện
triết học một cách hệ thống, chi tiết vấn đề “Đạo hiếu trong Nho giáo và ý nghĩa của
nó đối với giáo dục đạo đức gia đình ở Việt Nam hiện nay”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu nội dung đa ̣o hiếu trong Nho giáo và đánh giá ý nghĩa của nó đối
với giáo du ̣c đạo đức gia đình ở Viê ̣t Nam hiện nay để xây dựng gia đình Viê ̣t Nam
ngày càng tiến bộ, hạnh phúc.
Nhiêm
̣ vu ̣ nghiên cứu của đề tài:
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết hai nhiệm vụ sau:
Làm sáng tỏ nội dung đa ̣o hiếu trong Nho giáo, giáo dục đạo đức gia đình , vị
trí đạo hiếu trong đạo đức Nho giáo.
Phân tích thực tra ̣ng giáo du ̣c đa ̣o đức gia đình Viê ̣t Nam hiện nay và ý nghĩa
của đa ̣o hiếu trong Nho giáo đến giáo dục đạo đức gia đình ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài: Đạo hiếu trong Nho giáo.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu bằng việc chỉ khảo cứu đạo đức trung,
hiếu của Nho giáo ở Trung Quốc (Nho giáo Nguyên Thủy, Nho giáo thời Hán, Nho
giáo thời Tống) và phân tích nội dung của nó trong Nho giáo Việt Nam qua các đại
biểu nho học chọn lọc. Trên cơ sở đó, đánh giá ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục
đạo đức gia đình ở Viê ̣t Nam hiện nay.

cứu và giảng dạy triết học.
Luận văn có thể trở thành tư liệu tham khảo cho các chuyên ngành liên quan.
8. Kế t cấ u của luâ ̣n văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bố cục của đề tài gồm có hai chương,
chương 1 có 2 tiết, chương 2 có 2 tiết và danh mục tài liệu tham khảo.

9


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: ĐẠO HIẾU TRONG NHO GIÁO VÀ GIÁO DỤC
ĐẠO ĐƢ́C GIA ĐÌ NH
1.1. Đa ̣o hiếu trong Nho giáo
1.1.1. Nho giáo và vị trí đạo hiếu trong đạo đức Nho giáo
Nho giáo và quá trình phát triển
Nho giáo được sáng lập bởi Khổng Tử ở Trung Quốc cách đây hơn 2500
năm. Ông sinh năm 551 TCN, ở nước Lỗ, trong một gia đình quý tộc sa sút. Khi
còn nhỏ, tuy gia cảnh nghèo khó nhưng ông vẫn có điều kiện học sớm và rất ham
học. Chứng kiến chế độ tông pháp nhà Chu bị đảo lộn, đạo lý nhân luân suy đồi,
Khổng Tử muốn đem tài sức mình ra giúp vua, với hy vọng lập lại trật tự lễ, nghĩa
của nhà Chu và cải thiện cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Nhưng không được
vua nước Lỗ trọng dụng, ông chu du đến các nước chư hầu với mong muốn được
mang lý tưởng cải tạo xã hội ra giúp nước, trị dân, cứu đời nhưng không thành.
Cuối đời Ông biên soạn Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ và Kinh Xuân
Thu. Đến năm 479 TCN Khổng Tử qua đời. Trong cuộc đời dạy học của mình,
những lời dạy của ông đã được các học trò ghi lại và tập hợp lại thành bộ “Luận
Ngữ”. Về sau Tăng Sâm đã viết nên cuốn Đại học, học trò của Tăng Sâm là Mạnh
Tử đã viết nên cuốn Trung Dung.
Sang thời Chiến quốc, Mạnh Tử đã ra sức bảo vệ Nho giáo, thường xuyên tỏ
thái độ tôn sùng vương đạo, khinh bỉ bá đạo, tôn sùng nhân, nghĩa, khinh bỉ thói

óc nhà Nho những nỗi băn khoăn khó quyết định. Đến cuối triều đại nhà Thanh một
số nhân vật tiêu biểu đã hấp thụ được nhiều tư tưởng mới ở Tây Âu về “tự do”,
“bình đẳng”, “dân chủ”. Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu cũng muốn xây dựng và
phát triển Trung Quốc theo hướng công nghiệp và chú trọng phát triển khoa học kỹ
thuật, nhưng cuối cùng họ đi đến “cải lương” và “duy tâm” dưới ngọn cờ của hoàng
đế triều Thanh. Mãi cho đến 1911 cách mạng Tân Hợi đã giành thắng lợi, Trung
Quốc mới bắt đầu từ vũng bùn phong kiến dần dần bứt lên. Đến đây lịch sử Nho
giáo gắn liền với các triều đại phong kiến Trung Quốc cơ bản đã kết thúc, song
những ảnh hưởng của nó vẫn tồn tại cho đến ngày nay.

11


Đạo hiếu trong Nho giáo và vị trí đạo hiếu trong đạo đức Nho giáo
Nho giáo là học thuyết chính trị, đạo đức chủ trương dùng lễ trị và đức trị để
quản lý xã hội. Nho giáo coi gia đình là một phạm trù lớn, chứa đựng nhiều nội
dung thâm thúy, ý nghĩa sâu xa có nhiều ảnh hưởng đến những phạm trù khác về
đạo đức và cuộc sống con người. Trên tinh thần đó, Nho giáo nêu cao nguyên lý
thiên hạ quốc gia và dẫn giải rằng: Gốc của thiên hạ là nước, gốc của nước là nhà,
gốc của nhà là bản thân (Thiên hạ chi bản tại quốc, quốc chi bản tại gia, gia chi bản
tại thân) [6, tr.13]. Chính vì thế, muốn trị nước trước hết phải yên nhà (Dục trị kỳ
quốc giả, tiên tề kỳ gia) [6, tr.21]. Các nho sĩ coi vấn đề “tề gia” là gốc của nước và
thiên hạ, muốn “trị nước” trước hết phải giữ yên được nhà. Chủ trương Nho giáo là
tìm cách xây dựng gia đình, gia tộc thành những bức tường mạnh mẽ. Đạo Khổng
xem gia đình là một trong ba khâu không thể thiếu của hoạt động con người: Tu thân,
tề gia, trị quốc. Bậc quân tử trước hết phải làm cho nhà mình tề chỉnh thì dân chúng
mới làm theo, do đó mà tề chỉnh được mọi nhà dân, trị yên được cả nước.“Một nhà
nhân hậu thì cả nước dấy lên nhân hậu. Một nhà lễ nhượng thì cả nước dấy lên lễ
nhượng” (Nhất gia nhân, nhất quốc hưng nhân; nhất gia nhượng, nhất quốc hưng
nhượng) [6, tr.20].

nhất của đạo làm con.
Đạo hiếu trong Nho giáo được xem là một khái niệm đạo đức nền tảng, là cái
gốc của mọi vấn đề về đạo đức, chính trị, là chuẩn mực trong xã hội, tiêu chuẩn rèn
luyện và đánh giá nhân cách con người và lấy hiếu để buộc người với người. Hiếu
vốn là một nội dung quan trọng của đạo đức gia đình phong kiến, đó là: “Nết đầu trong
trăm nết”. Trong hệ tư tưởng Nho giáo, quan niệm hiếu của các Nho sĩ mỗi thời tuy có
khác nhau nhưng chung quy lại đạo hiếu được lý giải theo hai nghĩa cơ bản:
Đạo hiếu theo nghĩa hẹp, là sự hiếu thuận đối với cha mẹ của con cái, là sự
kính yêu, phụng dưỡng cha mẹ, vâng theo di huấn của tổ tiên, thực hiện đầy đủ
giỗ… Lòng hiếu của những người cùng huyết thống còn được gắn với đễ, hiếu đễ
tức là lòng kính yêu đối với anh chị.
Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh sự hiếu thuận đối với cha mẹ và xem đó là
một phẩm chất đạo đức cao đẹp của con người. Ông nói: “Làm cha mẹ, ai cũng lo
cho con, sợ con phóng túng mà hư thân mất nết, sợ con theo bạn xấu mà làm
chuyện phi pháp, mắc vòng tù tội. Cho nên đi chơi nhà ai thì nên cho cha mẹ biết

13


trước, phòng khi giao du với kẻ chẳng xứng đáng thì cha mẹ khuyên can” (phụ
mẫu tại, bất viễn du; du tất hữu phương) [8, tr.58] hay “Làm con nên xem xét chí
hướng của cha. Đến khi cha thác, người con được trọn quyền hành động, cho nên
phải nhớ tới những việc làm của cha. Nhưng khi cha thác trong ba năm, bấy giờ
người con đương để tang, cho nên chẳng có vui sướng gì mà cải tạo, vì vậy nên
được gọi là hiếu” (phụ tại, quan kỳ chí. Phụ một, quan kỳ hạnh. Tam niên vô cải ư
phụ chi đạo, khả vị hiếu kỹ) [8, tr.58].
Bên cạnh lòng hiếu đối với cha mẹ, Khổng Tử còn nhấn mạnh sự kính yêu
của em đối với anh và gọi đó là đễ. Do đó, Khổng Tử cho rằng “Làm con khi vào
thì thảo với cha mẹ, khi ra thì kính anh chị và người lớn tuổi” (Đệ tử nhập tắc hiếu;
xuất tắc đễ) [8, tr.6]. Đây là chuẩn mực cơ bản nhất của đạo hiếu và là quy phạm sơ

đạo”, chế độ tông pháp của nhà Chu bị đảo lộn, đạo lý nhân luân suy đồi “vua
không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi, cha không phải đạo cha, con không phải
đạo con” (quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử) [101, tr.28].
Trước bối cảnh xã hội như vậy, các nhà tư tưởng có tâm huyết đua nhau tìm
kiếm nguyên nhân và đưa ra các giải pháp nhằm ổn định trật tự xã hội. Đây là thời
kỳ tư tưởng Triết học Trung Quốc phát triển nở rộ, nhiều triết thuyết xuất hiện như:
Nho gia, Pháp gia, Mặc gia, Đạo gia… Người ta gọi đó là thời kỳ “bách hoa đề
phóng, bách gia tranh minh” (trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng). Trong số bách
gia xuất hiện thời Tiên Tần ở Trung Quốc thì Nho giáo là một trong những học
thuyết có sức sống lâu dài nhất. Hơn 2000 năm của chế độ phong kiến Trung Quốc,
đã trải qua bao triều đại khác nhau, bao biến động, thăng trầm của xã hội nhưng địa
vị thống trị của Nho giáo trong thượng tầng kiến trúc vẫn được giữ vững. Các triều
đại Phong kiến Trung Quốc xem Khổng Tử là người thầy của muôn đời “Vạn thế sư
biểu”. Khổng Tử cho rằng, xã hội loạn lạc là bởi con người “vô đạo”, cần đưa con
người trở về “hữu đạo” bằng con đường giáo hóa. Đạo hiếu là một trong những
phạm trù đạo đức cơ bản của Nho giáo để giáo hóa con người góp phần ổn định trật
tự xã hội. Nối tiếp tinh thần trên, các nhà Nho đời sau tiếp tục bổ sung và củng cố
luận điểm đó của Khổng Tử.
Quan niệm về đạo hiếu của Nho giáo Trung Quốc
Quan niệm về đạo hiếu của Nho giáo nguyên thủy

15


Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, chế độ tông pháp bị suy yếu, kết cấu gia đình
đơn hệ bắt đầu xác lập. Luân lý đạo hiếu lúc này có sự dịch chuyển phù hợp với
thực tế xã hội nên gắn với luân lý gia đình hơn là luân lý dòng tộc. Khổng Tử coi
trọng hiếu và coi đó là cơ sở để định hình nhân cách trong các mối quan hệ giữa
người với người. Thiên “Học nhi” sách Luận ngữ viết: Hữu Tử nói rằng: “Đã làm
người có nết hiếu, nết đễ, ít ai ham xúc phạm đến người trên. Người không ham xúc

Hiếu của sỹ đem coi lòng tôn kính cha mẹ mình chuyển sang thờ phụng quân
vương và bậc trưởng thượng. “Cố dĩ hiếu sự quân tắc trung; dĩ kính sự trưởng tắc
thuận; trung thuận bất thất dĩ sự kỳ thượng, nhiên hậu năng bảo kỳ lộc vị, nhi thủ kỳ
tế tự. Cái sĩ chi hiếu dã” [7, tr.26].
Hiếu của dân thường là dùng đạo của trời, chia lợi của đất, tằn tiện của mình
nuôi nấng, phụng dưỡng tri ân cha mẹ.[7, tr.30].
Nho giáo nguyên thủy bàn nhiều về hiếu đễ, đề cao tột bậc hai chữ ấy và cho
rằng, hiếu bắt đầu bằng thờ phụng cha mẹ, giữa là thờ vua, cuối cùng là lập thân.
Nho giáo nguyên thủy tập trung lý giải, định rõ nội dung của hiếu đễ nhất là hiếu,
nhưng không đưa ra được một định nghĩa chung. Thường thì tuỳ theo trường hợp cụ
thể mà nội dung của hiếu được giảng giải khác nhau. Mặc dù có nhiều cấp độ, nhiều
cách giải thích, thậm chí là chia làm nhiều loại, nhưng Hiếu Kinh cũng chép rằng:
“Từ thiên tử tới bầy chúng thứ. Hiếu không nề thứ tự trước sau. Đều tìm cội rễ từ
đâu. Lo gì đức hiếu ai hầu kém ai” [7, tr.31]. Cho nên, hiếu là cái đạo đức vừa cao
siêu vừa bình dị, khó mà so sánh cao thấp cho rõ ràng. Nhìn chung, đạo hiếu trong
quan niệm của Nho giáo nguyên thủy có những nội dung cơ bản sau:
Một là, phải phụng dưỡng, đối đãi với cha mẹ bằng chân tình.
Đạo hiếu bắt đầu từ việc phụng dưỡng cha mẹ. Quan niệm này xuất hiện sớm
trong lý luận dưỡng thân truyền thống của người Trung Hoa. Sinh mệnh thực tại của
con người dù sao cũng hữu hạn, quý trọng sự sống của cha mẹ cho nên phải phụng
dưỡng cha mẹ cũng là tuân theo cái nguyên lý ấy. Sách Hiếu Kinh viết: “Dùng đạo của
trời, xơi lợi của đất, cần kiệm chi tiêu để phụng dưỡng cha mẹ, đức hiếu của dân ta là
như vậy” [7, tr.31].
Khổng Tử cũng nhấn mạnh rằng, nếu chỉ đơn thuần thỏa mãn về nhu cầu vật
chất thì mới chỉ là một phần rất nhỏ của đạo hiếu, quan trọng là thái độ kính trọng
cha mẹ trong việc phụng dưỡng. Thực chất đó cũng chính là đáp ứng cả hai mặt vật

17



18


nhà thì hiếu thảo với cha mẹ, ra ngoài thì kính nhường bậc huynh trưởng. Thận
trọng lời nói mà thành thực, yêu khắp mọi người mà gần gũi người nhân đức. Còn
Mạnh Tử phát triển về đễ và cho rằng, kính trọng anh mình là kính trọng các bậc
trưởng thượng. Dùng nguyên tắc đối đãi với anh em để cư xử với các bậc trưởng thượng,
đem nó ra ngoài xã hội gọi là Nghĩa. Ông viết, thương cha mẹ đó là sự phát hiện đầu tiên
của lòng nhân, kính trọng bậc huynh trưởng là bộc lộ đầu tiên của đức nghĩa.
Tuân Tử cho rằng: “Cầm thú có cha con mà không có tình phụ tử, có giống
đực giống cái mà không có nghĩa lứa đôi. Cho nên đạo làm người là phải biết biện
biệt” [85, tr.236]. Nghĩa là phải biết phân biệt các mối quan hệ mà đối xử cho có
tình có nghĩa. Bên cạnh đó, chính ở đây chúng ta gặp lại yêu cầu “nuôi đi liền với
kính” của Khổng Tử vì xét ra nếu nuôi cha mẹ mà không kính thì có gì khác nuôi
chó ngựa đâu, cũng giống như cầm thú có tình cha con mà không có tình phụ tử.
Quan niệm phụng dưỡng gắn liền với kính trọng là đòi hỏi hiếu thảo từ tâm
của Nho giáo nguyên thủy. Đây là một quan điểm rất tích cực đối với xã hội đương
thời và gần với quan điểm hiện đại. Tính song trùng của giá trị vật chất và tinh thần
đã trở thành tiêu chí để đánh giá hành động của một nhân cách cá thể. Cách nhìn
nhận cá thể theo hướng này đã tạo ra một hành lang mang tính pháp lý nội tâm để
định hướng tư tưởng và hành động của con người khiến cho việc thực hiện những
nghĩa vụ của con cái đối với cha mẹ được điều chỉnh từ điểm xuất phát và trở thành
bản năng tất nhiên thay vì ý nghĩa phục tùng. Nhưng sự điều chỉnh bên trong do các
cá nhân tự quyết định trong khi sự điều chỉnh ấy lại phải biểu hiện thành hành động
bên ngoài. Vì thế, yêu cầu người con nuôi dưỡng, báo hiếu với cha mẹ từ tâm, Nho
giáo nguyên thủy cũng đồng thời đề ra những quy định để thẩm định hành động
hiếu ngay từ bên ngoài theo những quy tắc cụ thể.
Hai là, phụng sự cha mẹ bằng lễ.
Khi Mạnh Ý Tử hỏi về hiếu, Khổng Tử đáp: “Vô vi”, rồi sau Phàn Trì không
hiểu nghĩa hai chữ ấy mới hỏi lại, Khổng Tử giải thích “sống thì lấy lễ mà thờ, chết

ý nghĩa của việc tế trời đất, tế tổ tiên thì cai trị đất nước cũng dễ như nắm một vật
trong bàn tay vậy” [71, tr.72].
Quan niệm hiếu lễ gắn với việc tế lễ trời đất và tổ tiên này thực chất là sản
phẩm của tồn tại xã hội đương thời. Nó hữu dụng trước hết bởi nó tạo dựng được
một cơ chế phục tùng từ trên xuống dưới theo diễn tiến tề gia, trị quốc, bình thiên

20


hạ. Tất nhiên, cùng với sự vận động và phát triển của xã hội, càng về sau việc tế lễ
mang tính hình thức ngày càng giảm. Đến thời Tuân Tử đã thấy ông xếp theo hàng
ngang ba đối tượng của lễ gồm: Trời - đất, tổ tiên và quân - sư. “Đối tượng của lễ là
ba nguồn gốc: Trời đất là nguồn gốc của sự sống, tổ tiên là nguồn gốc của giống
nòi, vua và thầy là nguồn gốc của bình trị… Ba nguồn gốc đó mà mất một thì con
người hết yên. Cho nên lễ là trên thờ trời, dưới thờ đất, tôn kính tổ tiên mà quý
trọng vua và thầy” [49, tr.77].
Như vậy, trong quan niệm lễ, một cách thông thường theo truyền thống, lễ
được gắn với việc thực hiện các quy định về tế lễ. Song, càng về sau, với tư cách là
những quy định về mọi mặt liên quan đến con người trong xã hội, lễ với nghĩa là tế
lễ ngày càng được giảm bớt. Trong xu hướng chung đó, đạo hiếu gắn với lễ được
chú trọng ở nhiều nội dung khác mang tính giáo dục, nhân bản hơn.
Khổng Tử quan niệm nội dung chủ yếu của hiếu là thuận, cho nên người ta
hay dùng cụm từ hiếu thuận. Thuận nghĩa là không làm trái. Không làm trái tức là
không trái với lễ. Người con lấy lễ để làm thước đo hành vi của mình, song trong tư
tưởng của Khổng Tử, người con không được mù quáng mà phải biết so sánh, suy
xét. Nếu yêu cầu của cha mẹ hợp với tiêu chuẩn của lễ thì phải tận tâm, tận lực mà
làm, khi yêu cầu của cha mẹ không hợp với lễ thì cần phải biết xử lý cho phù hợp.
Cụ thể: Theo lễ, người làm con phải vấn hỏi cha mẹ thường xuyên. Vì vậy, “khi cha
mẹ còn sống thì con không được đi xa, có đi đâu thì phải cho cha mẹ biết” (Phụ
mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương) [85, tr.140]. Yêu cầu này của Nho Tiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status