ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
LÊ THỊ HÀ MY
TƢ TƢỞNG ĐẠO ĐỨC TRONG PHÚC ÂM VÀ Ý NGHĨA
CỦA NÓ ĐỐI VỚI XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
Hà Nội - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
LÊ THỊ HÀ MY
TƢ TƢỞNG ĐẠO ĐỨC TRONG PHÚC ÂM VÀ Ý NGHĨA
CỦA NÓ ĐỐI VỚI XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tôn giáo học
Mã số: 60.22.03.09
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Đỗ Thị Hoà Hới
Hà Nội - 2017
(Mt 10,32) nghĩa là Phúc âm thánh Ma-thê-ô, đoạn 10, câu 32.
(Mc 4,26-29) nghĩa là Phúc âm thánh Mác-cô, đoạn 4, câu 26 đến 29
(Mc 4, 26.29) nghĩa là Phúc âm thánh Mác-cô, đoạn 4, câu 26 và câu 29.
- Cách trích dẫn tài liệu tham khảo: Để trong dấu […], Số đứng trƣớc là
số thứ tự tài liệu trong phần DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
cuối khóa luận. Số sau là số trang của tài liệu đó.
2.
Kí hiệu tên sách trong Phúc âm.
- Mt: Phúc âm theo thánh Ma-thê-ô
- Mc: Phúc âm theo thánh Mác-cô
- Lc: Phúc âm theo thánh Lu-ca
- Gio: Phúc âm theo thánh Gio-an.
4
MỤC LỤC
MỤC LỤC ..................................................................................................................1
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................6
CHƢƠNG 1. KHÁI LƢỢC CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG GIÁO VÀ CÁC
SÁCH PHÚC ÂM ......................................................................................................6
1.1 Khái lƣợc chung về Đạo đức tôn giáo nói chung và đạo đức Công giáo nói
riêng .......................................................................................................................16
1.1.1. Khái lược chung về đạo đức tôn giáo .....................................................16
1.1.2. Đạo đức Công giáo ..................................................................................26
1.2. Khái lƣợc chung về các sách Phúc Âm .......................................................35
1.2.1. Tiền đề ra đời và quá trình hình thành các sách Phúc Âm ...................35
1.2.2. Cấu trúc và nội dung cơ bản của các sách Phúc Âm .............................41
ngƣời, duy trì đạo đức xã hội và góp phần duy trì làm phong phú thêm bản
sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Đảng và Nhà nƣớc ta đã có sự đổi mới trong
nhận thức và đề ra chính sách tôn trọng và phát huy các giá trị văn hóa và
đạo đức trong tôn giáo. Trong Nghị quyết 24 ngày 16/10/1990 của Bộ
Chính trị đã khẳng định: “Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công
cuộc xây dựng xã hội mới”. Đạo đức tôn giáo có yêu cầu đòi hỏi cao, gắn
với sự thôi thúc bên trong con ngƣời. Trong đó có đạo đức Công giáo qua
quá trình tồn tại lâu dài ở Việt Nam cũng đƣợc thừa nhận chúng đóng vai
trò hết sức quan trọng. Trƣớc thực tế còn nhiều đau khổ, do nhu cầu nội tại,
họ đến với Công giáo để tìm trong đó sự an ủi, xoa dịu, tìm chốn yên tĩnh
lắng đọng sâu sắc của tâm hồn hay tìm cho mình một ý nghĩa sống xác đáng
của chính họ. Công giáo đã du nhập và bén rễ ở nƣớc ta cho đến nay nhiều
6
thế hệ đã có những nghiên cứu về các giá trị lịch sử văn hóa - đạo đức, ở
góc độ này hay góc độ khác có nhiều công trình lớn nhỏ có giá trị. Song
trong điều kiện mới ở Việt Nam và thế giới đang vận động nhanh chóng
nhiều vấn đề cũ lại trở lên nóng. Trong đó chúng tôi chú ý đến sự cần thiết
trở lại đi sâu tìm hiểu nội dung quan niệm về tƣ tƣởng đạo đức trong các
sách Phúc Âm. Tìm hiểu đặt trong bối cảnh mới vai trò của chúng có tác
động nhất định trong việc điều chỉnh suy nghĩ và hành vi của con ngƣời
Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay. Mà trƣớc hết đối với tín đồ theo đạo
Công giáo và sau nữa nó có tác dụng lan tỏa đến tầng lớp nhân dân khác
trong xã hội. Với đặc điểm là một cộng đồng quốc gia đa tôn giáo đa dân
tộc, có tâm thức khoan dung về tôn giáo văn hóa nhƣ Việt Nam trong đời
sống tín ngƣỡng, tôn giáo hết sức phong phú và đa dạng đó thì mặc dù đạo
Công giáo du nhập vào nƣớc ta chƣa lâu, so với Nho giáo, Phật giáo....
nhƣng cho đến hiện nay đạo Công giáo đã thu hút đƣợc số lƣợng tín đồ
đáng kể. Từ thực tế đó có thể thấy rằng, cần phải tiếp tục trở lại tìm hiểu nội
Tôn giáo, số 1 năm 2009 của tác giả Đỗ Minh Hợp.
2.2 Các công trình nghiên cứu về Công giáo, đạo đức Công giáo
Công giáo du nhập vào Việt Nam từ năm 1533 nhƣng phải đến thế kỷ
XIX các nhà Nho nhƣ Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hòa Đƣờng, Nguyễn Bá
Am và Trần Đình Hiên mới bƣớc đầu nghiên cứu giáo lý của đạo Công
giáo. Cuối thế kỷ XIX, khi có sự xung khắc giữa Công giáo với dân tộc bên
cạnh những hiểu lầm, ngộ nhận của triều đình và nho sĩ về giáo lý, đã có
những ngƣời Việt Nam lên tiếng về những giá trị tốt đẹp của Công giáo nhƣ
Đặng Đức Tuấn, Nguyễn Trƣờng Tộ, Nguyễn Lộ Trạch... Đến đầu thế kỷ
XX, có một số tác phẩm của Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh... là những
đánh giá mới đi sâu hơn công nhận về một số giá trị đạo đức và văn hóa của
một tôn giáo ngoại lai từng bị hiểu nhầm là “đồng nhất” “đồng hành” cùng
chủ nghĩa thực dân chống lại nền độc lập của dân tộc. Nhìn nhận của họ sát
hơn giá trị đạo đức Công giáo.
8
Từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, Đảng và Nhà nƣớc ta đã luôn
quan tâm tới vấn đề tôn giáo, vấn đề Công giáo đã đƣợc nhiều học giả thời
kỳ đó nghiên cứu nhƣ: tác giả Hà Huy Tú với “Tìm hiểu nét đẹp văn hóa
Thiên Chúa giáo” (2002), NXB.Văn hóa thông tin, Hà Nội. Tác giả Đặng
Nghiêm Vạn với “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam”
(2003), NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Trong đó đã đƣa ra nhiều nhận
định làm rõ thêm về khía cạnh giá trị của văn hóa, đạo đức trong tôn giáo
nói chung, Công giáo nói riêng.
Trong những năm gần đây, trong Giáo hội đã xuất hiện những học giả
đi sâu tìm hiểu các giá trị Công giáo, với các công trình của Ki-tô hữu về
Kinh Thánh và nền đạo đức học Ki-tô giáo nhƣ : Phan Văn Chức, Trần
Phúc Nhân, Vũ Văn Thiện, Nguyễn Bình Tĩnh… Chúng tôi rất lƣu ý đến
pháp luận và cả các phƣơng pháp nghiên cứu tôn giáo học chuyên ngành,
kết hợp liên ngành. Khảo sát thực tiễn về việc du nhập, hình thành phát
triển Công giáo tại Việt Nam. Nội dung ảnh hƣởng qua lại giữa lối sống đạo
của ngƣời Việt Công giáo với ảnh hƣởng của nó tới lối sống của ngƣời Việt
trong truyền thống và hiện đại. Chúng tôi kế thừa nhiều kết quả nghiên cứu
trong các công trình này đồng thuận nhiều nhận định về chủ đề đạo đức
Công giáo có cơ sở. Đây là cụm công trình có nhiểu gợi ý cho chúng tôi
tiếp tục đi sâu tìm hiểu.
Chúng tôi còn đƣợc kế thừa các kết quả nghiên cứu về tìm hiểu tƣ
tƣởng đạo đức trong Kinh Thánh. Nổi bật nhất đƣợc tác giả Trƣơng Nhƣ
Vƣơng khảo cứu rất chi tiết và cụ thể trong cuốn sách: “Tìm hiểu quan niệm
đạo đức trong Kinh Thánh”, NXB Tôn giáo, Hà Nội năm 2005. Trong đó,
đã chỉ ra đƣợc nguồn gốc hình thành một số nội dung tƣ tƣởng đạo đức rất
cơ bản của Kinh Thánh. Qua đó ngƣời đọc có thái độ trân trọng và phát huy
các giá trị tốt đẹp. Tham khảo sách còn cho chúng tôi hiểu rằng, cần tập
trung khảo sát sâu thêm nội dung tƣ tƣởng đạo đức trong sách Phúc Âm và
chỉ ra ý nghĩa hiện nay của chúng trong điều kiện mới là việc cần thiết.
10
Theo chúng tôi, cần chú ý thêm trong cuốn sách “Đại cƣơng lịch sử
Triết học phƣơng Tây” (2006), NXB Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
của các tác giả Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh và Nguyễn Anh Tuấn, cho
rằng: Giá trị tƣ tƣởng đạo đức của Kitô giáo ở triết học cổ đại, trung đại
không đối lập con ngƣời với thế giới, quan hệ giữa ngƣời với ngƣời, mà nhƣ
các quy luật bắt nguồn từ “bản chất của các sự vật”. Do vậy mà đạo đức
Kitô giáo có thể coi nhƣ là sự kế tục các quy luật tự nhiên trong xã hội loài
ngƣời, đạo đức do Thiên Chúa ban tặng cho con ngƣời. Nó không những
siêu việt tối thƣợng “đứng trên” những quy luật tự nhiên, mà còn đem lại
những quy tắc đạo đức thiêng liêng hóa cho con ngƣời đƣợc thể hiện dƣới
truyền thống đồng hành cùng dân tộc, ngƣời Công giáo Việt Nam tiếp tục
dấn thân đƣa phong trào thi đua yêu nƣớc phát triển trong thời kỳ đất nƣớc
hội nhập” của Uỷ ban đoàn kết Công giáo Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu
Tôn giáo số 11 năm 2008.
Nhìn chung, điểm lại các công trình nghiên cứu trên phần lớn tiếp cận
từ góc độ lịch sử triết học là chính, đã đề cập lý giải về vấn đề cơ sở, nguồn
gốc và các nội dung tƣ tƣởng đạo đức trong Kinh Thánh, bao gồm cả Kinh
Thánh Tân ƣớc và Kinh thánh Cựu ƣớc. Bên cạnh đó cũng đã chỉ ra đƣợc
quá trình du nhập, lan tỏa giá trị đạo đức, văn hóa Công giáo vào đời sống
tinh thần ngƣời dân Việt Nam và vai trò của đạo đức tôn giáo trong đời
sống tinh thần của dân tộc nói chung, đời sống đạo đức nói riêng. Do vậy,
trong luận văn này ngƣời viết có ý thức kế thừa ngƣời đi trƣớc và có mong
muốn tiếp cận tƣ tƣởng đạo đức trong Phúc Âm nghiên cứu từ góc độ tôn
giáo học. Vấn đề “cũ” sẽ hiển lộ dƣới góc độ phƣơng pháp nghiên cứu tôn
giáo học, để bƣớc đầu đánh giá đầy đủ hơn, cụ thể một cách khách quan
hơn về tƣ tƣởng đạo đức tôn giáo, nhƣ là một bộ phận cấu thành của ý thức
tôn giáo, của giáo lý Công giáo, còn là yếu tố thần học chi phối, nền tảng cơ
sở cấu thành tạo nên đời sống đạo của giáo dân. Những cơ sở nền tảng đạo
đức đó chứa đựng đậm đặc trong sách Phúc Âm, ngày nay đƣợc truyền bá
rộng rãi chi phối đến lối sống giáo dân Việt Nam. Từ đó, sẽ đem đến cái
nhìn vừa khái quát vừa đầy đủ sâu sắc, cập nhật sát thực tiễn đời sống đạo
12
tại Việt Nam hiện nay hơn. Luận văn vừa làm rõ về ý nghĩa ảnh hƣởng của
tƣ tƣởng đạo đức đó trong đời sống tín đồ Công giáo Việt Nam hiện nay nói
riêng và có thêm ý nghĩa đối với sự lan tỏa tới lối sống con ngƣời Việt Nam
chúng ta nói chung đặt trong tƣơng quan tình hình mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:
3.1. Mục đích:
văn cũng nêu lên và phân tích những ý nghĩa của các tƣ tƣởng đạo đức này
đối với lối sống đạo của ngƣời Kitô hữu và với xã hội Việt Nam hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu:
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, các
nguyên tắc phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm chính sách của
Đảng và Nhà nƣớc ta về tôn giáo, đạo đức để phân tích những vấn đề đặt ra.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn tiếp cận từ góc độ Tôn giáo học và các phƣơng pháp nghiên
cứu tôn giáo học để chỉ ra vai trò, vị trí, nội dung tƣ tƣởng đạo đức trong
Phúc Âm và vai trò chức năng của chúng trong hệ thống cấu trúc, chức
năng của đạo Công giáo nhƣ một thực thể xã hội. Đồng thời chúng tôi sử
dụng bao gồm phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, phƣơng pháp so sánh,
phƣơng pháp lôgic, lịch sử,…
6. Đóng góp của luận văn:
Luận văn trên cơ sở tiếp cận Tôn giáo học, xem xét một cách hệ thống
chỉnh thể cấu trúc Công giáo, tập trung hệ thống hóa, phân tích nội dung cơ
bản của những tƣ tƣởng đạo đức đƣợc thể hiện qua Phúc Âm giúp cho
ngƣời đọc hiểu đầy đủ, sâu sắc hơn về nội dunng tƣ tƣởng đạo đức trong
14
sách Phúc Âm, cách thức lan tỏa vào cộng đồng giá trị nội dung đó và ý
nghĩa hiện thời các tƣ tƣởng đạo đức Công giáo. Luận văn cũng góp phần
làm rõ các điều kiện, tiền đề cho sự hình thành tƣ tƣởng đạo đức trong Phúc
Âm, đồng thời có thể thấy đƣợc phần nào phƣơng cách phát huy vai trò, ý
nghĩa của những tƣ tƣởng đạo đức ấy đối với lối sống đạo của Kitô hữu, đối
với xã hội Việt Nam hiện nay. Từ đó, phân tích sự tác động của các yếu tố
khách quan và chủ quan tác động đến sự lan tỏa đạo đức Công giáo trong
giá trị đạo đức, văn hóa, nghệ thuật...Chính từ góc nhìn hệ thống chức năng
mà có thể nói, tôn giáo ra đời từ cơ sở văn hóa, những giá trị văn hóa đó và
đồng thời có vai trò tác động trở lại tƣơn đối độc lập, đã góp phần khẳng
định sự tồn tại của tôn giáo trong xã hội ngày nay là đảm nhận một hệ thống
các vai trò nhất định. Đây là cơ sở lý thuyết để chúng tôi làm căn cứ phân
tích về chủ đề đạo đức Công giáo trong sách Phúc Âm.
Tuy vậy, xung quanh vấn đề đạo đức tôn giáo cho tới nay vẫn còn rất
nhiều những quan điểm khác nhau đƣợc đƣa ra. Có quan điểm tả khuynh
cho rằng, tôn giáo không có đạo đức riêng, đạo đức tôn giáo chỉ là sự vay
mƣợn rồi “chƣng cất” khái quát thành đạo đức chung của nhân loại. Lập
luận đƣa ra cho sự giải thích này là ở chỗ cho rằng, loài ngƣời vốn đã có đời
16
sống đạo đức, có trƣớc tôn giáo. Rằng khi con ngƣời chƣa có ý niệm gì về
giáo lý, về niềm tin, sự thờ cúng tôn giáo thì trong thực tế đời sống họ đã có
những quy ƣớc, chuẩn mực trong cƣ xử, trong quan hệ giữa con ngƣời với
nhau – đó chính là đạo đức mà về sau các tôn giáo mới có. Bên cạnh đó,
những ngƣời theo quan niệm này cũng nhận thấy rằng các các giá trị, chuẩn
mực trong tôn giáo là những giá trị, chuẩn mực của đạo đức thế tục đã đƣợc
“thiêng” hoá từ thực tại.
Ý kiến khác lại cho rằng, trong Thần học các tôn giáo có hệ đạo đức
thiêng liêng riêng. Và đạo đức tôn giáo là thứ đạo đức hoàn toàn khác biệt
và thậm chí đối lập với các loại mức độ đạo đức trần thế. Rồi có hai loại ý
kiến cực đoan: Một, cho rằng đạo đức tôn giáo hoàn toàn mang tính áp đặt,
duy tâm, yếu thế, bi quan. Hai, có ý kiến trái chiều, ngƣợc lại rằng, chỉ có
tôn giáo mới đem lại cho con ngƣời đạo đức đích thực, thần thánh thiêng
liêng. Vì vậy, đạo đức tôn giáo là cao quý, duy nhất, tuyệt đối mọi ngƣời
đều cần tuân thủ, hƣớng theo.
Rõ ràng qua thực tiễn đa dạng của đời sống đạo đức và tôn giáo phong
dù có đặc điểm phản ánh “hƣ ảo” không trực tiếp mà đã thiêng hóa nên đạo
đức tôn giáo đều khẳng định giá trị tối cao của niềm tin vào các lực lƣợng
thiêng, siêu nhiên nhƣ Thần, Thánh, Thiên Chúa, Thƣợng Đế,... Và đạo đức
Công giáo trong Kinh Thánh nói chung, trong Phúc Âm nói riêng coi đó là
chuẩn mực cao nhất của các giá trị khác về cách ứng xử riêng cho con
ngƣời. Từ niềm tin tôn giáo là “hạt nhân” sẽ phát sinh tạo thành hệ thống
những quy định, quy phạm đạo đức khác mà các tín đồ của từng tôn giáo
luôn phải tuân thủ theo. Đó là vị trí tối thƣợng của niềm tin tôn giáo trong
hệ thống đạo đức tôn giáo. Mặc dù, nội dung đạo đức tôn giáo bắt nguồn từ
nhu cầu thực tại chính đáng của con ngƣời là luôn hƣớng đến điều thiện, có
tinh thần nhân ái, hiếu thảo với cha mẹ,... nhƣng đều có lớp vỏ thần bí là
những điều Thần nhập, Mặc khải,… Nguyễn Hữu Vui đã khẳng định:
“Trong hệ thống những giá trị chuẩn mực tôn giáo, bên cạnh những điều
khuyên răn, cấm đoán tạo nên nội dung riêng của đạo đức tôn giáo, còn có
18
những điều khuyên răn, cấm đoán không hề có nội dung tôn giáo, mà là
biểu hiện các mối quan hệ thuần túy xã hội” [86, tr.46 ].
Đặc trƣng đạo đức tôn giáo đƣợc hình thành hệ thống trên hạt nhân cơ
sở niềm tin vào Thƣợng Đế, Thiên Chúa,… nhƣng lại gắn với đời sống thế
tục và lồng ghép với hệ thống tƣ tƣởng tôn giáo, bao gồm nhiều yếu tố,
nhiều học thuyết nhƣ: triết học, kinh tế, đạo đức. Trong đó, Thần học đƣợc
ghi chép ở Kinh Thánh bao giờ cũng chiếm vị trí trung tâm. Và tùy thuộc
vào những điều kiện lịch sử các thời đoạn của một tôn giáo cụ thể mà có thể
kết cấu và nội dung thần học có thể biến đổi khác nhau, đƣợc giải thích
khác nhau. Tuy nhiên, với hạt nhân niềm tin tôn giáo trong thần học tôn
giáo tất cả đều chú trọng vào việc thuyết minh sự tồn tại của Đấng tối cao,
Thiên Chúa, Thƣợng Đế. Thuyết minh về tính thiêng liêng của Kinh điển,
Kinh Thánh và những lời răn dạy về đạo đức tôn giáo. Tôn giáo đã đổ
thực hành một số nghi lễ, mà quan trọng hơn là tự nhắc mình tự giác sống
theo những quy tắc đạo đức giới luật tôn giáo nhất định qua nhắc, tụng Kinh
sách…
Hơn thế, tín đồ tôn giáo luôn có sự giao tiếp, có tƣơng tác với đồng
đạo, chịu sự giám sát quy định nghiêm ngặt của tổ chức tôn giáo. Do đó
càng bảo đảm lối sống thực hành các chuẩn mực đạo đức tôn giáo và tổ
chức tôn giáo. Trong những sinh hoạt thƣờng ngày, tín đồ cần phải trông
cậy vào niềm tin tôn giáo. Trong hệ thống những quy phạm và chuẩn mực
đạo đức tôn giáo thì những quy phạm và chuẩn mực về “đức tin thần thánh”
bao giờ cũng có tính bao trùm và giữ vai trò chủ đạo. Còn những quy phạm
và chuẩn mực về đạo đức cách ứng xử của con ngƣời với con ngƣời, của
con ngƣời với tự nhiên thƣờng chỉ đƣợc biểu hiện nhƣ là sự sinh động, hiện
thực cụ thể hoá của những quy phạm và chuẩn mực về “đức tin thần thánh”.
Có thể thấy đặc điểm này trong Kinh sách giáo lý của đạo Ki tô: Khi điều
răn đầu tiên và tiên quyết phải luôn giữ vững đối với các tín đồ Công giáo
là phải thƣờng hằng “tin và kính thờ Thiên Chúa trên hết mọi thứ”. Điều
này cũng có nghĩa là phải tin vào Thiên Chúa và luôn thực hành các điều
20
răn khác của Chúa, nhƣ: Không đƣợc lấy danh Thiên Chúa làm điều phàm
tục, Thảo kính với cha mẹ, không giết ngƣời, không gian dâm, không tham
của ngƣời, không làm chứng dối, không đƣợc ham muốn vợ chồng ngƣời
khác v.v... Còn với tín đồ Phật giáo, niềm tin vào Tam bảo, tin vào Phật và
tin vào những lời Phật dạy, tin vào tăng đoàn, cũng có nghĩa là phải tin và
thực hiện một cách nghiêm túc Ngũ giới, thập thiện, lục hòa… của Nhà
Phật: Không sát sinh, Không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không
uống rƣợu say. Với tín đồ Islam, thì luôn đặt sự tôn thờ Đấng Alla và tiên
tri Môhamét làm nguyên tắc tối thƣợng và triệt để thực hành các điều răn và
dạy của Đấng Alla…
tr.100]. Điểm mạnh của đạo đức tôn giáo là ngoài những điều phù hợp với
tình cảm, đạo đức nó còn thực hiện đƣợc thông qua tình cảm, niềm tin tôn
giáo đƣợc khoác tấm áo thiêng, hào quang sự thiêng. Do đó, nội dung chuẩn
mực đạo đức tôn giáo đƣợc các tín đồ dễ dàng tiếp thu, kết hợp với niềm tin
tôn giáo tạo thành đức tin thiêng liêng có đủ sức kiềm tỏa chế ngự sự trỗi
dậy của bản năng bên trong tâm hồn và điều chỉnh hiệu quả hành vi ứng xử
của họ, trong quan hệ với tự nhiên cộng đồng và với chính mình. Hoạt động
tôn giáo của thiết chế tổ chức tôn giáo nhƣ là sức mạnh thực tại sẽ tạo thành
sức điều chỉnh của cộng đồng, xã hội, làm tăng hiệu quả chuẩn mực đạo
đức hƣớng thiện của tôn giáo sẽ trở nên mạnh mẽ, quyết liệt hơn.
Ở trên đã cho thấy nội dung đạo đức tôn giáo nhờ có mạng lƣới thiết
chế, tổ chức tôn giáo định hƣớng con ngƣời đến những giá trị nhân bản, góp
phần tích cực vào việc hoàn thiện đạo đức cá nhân. Bất kì trong giáo lý
Kinh sách tôn giáo nào cũng đề cao, nhấn mạnh đến tình thƣơng yêu con
ngƣời và coi đó là chuẩn mực quan trọng để con ngƣời hoàn thiện bản thân
mình. Tình yêu thƣơng con ngƣời trong quan niệm của các tôn giáo đƣợc
giải thích qua các hình tƣợng hình ảnh mang tính biểu trƣng cao và để tiếp
thu. Hệ thống thiết chế sẽ cụ thể hóa hành vi bằng những hành động yêu
thƣơng, tôn trọng con ngƣời, sẵn sàng giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn.
Tinh thần thƣơng yêu con ngƣời của đạo Công giáo cũng nhƣ tinh thần từ bi
22
trong đạo Phật không chỉ hƣớng đến con ngƣời, mà còn đến cả muôn vật.
Đạo Công giáo, đạo Phật đều kêu gọi lòng yêu thƣơng, nhân đạo và bảo vệ
sự sống. Trong quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, đạo Công giáo, đạo
Phật luôn muốn biến yêu thƣơng thành hành động bố thí, cứu giúp ngƣời
nghèo khó. Đạo Công giáo cũng đề cập đến tình yêu rộng lớn, đó là yêu
thƣơng bản thân, yêu thƣơng tha nhân và yêu thiên nhiên. Tình yêu tha
nhân trong đạo Công giáo không chỉ đơn thuần là tình yêu trong tâm tƣởng
thì cần phải chú ý nhiều hơn nữa đến mối quan hệ giữa đạo đức cá nhân và
đạo đức xã hội, giữa đạo đức trần thế và đạo đức tôn giáo. Những chuẩn
mực đạo đức đƣa ra không chỉ có tác dụng hoàn thiện nhân cách cá nhân mà
quan trọng hơn là những chuẩn mực đạo đức đó phải phù hợp và đồng điệu
với lợi ích xã hội hiện thời và bảo đảm sự phát triển bền vững. Vì vậy,
những vấn đề xƣa cũ vẫn rất cần thiết đƣợc soi chiếu, phân tích, lý giải
trong điều kiện mới là nhƣ vậy.
Một mặt, các nhân tố khách quan bên ngoài không ngừng tác động đến
trong quá trình vận động và phát triển của các tôn giáo, đạo đức tôn giáo.
Mặt khác tôn giáo, đạo đức tôn giáo luôn đƣợc các nhà thần học bổ sung và
phân tích làm phong phú thêm bằng các chú giải mới, vấn đề phát triển hệ
thống đạo đức tôn giáo gắn chặt với biến động của đạo đức trần thế trong
từng giai đoạn của lịch sử từng dân tộc, nhân loại. Điểm cốt lõi của một tôn
giáo ngoại lai đƣợc chấp nhận là tôn giáo đó là vừa phải thỏa mãn những
yêu cầu về mặt tinh thần của dân tộc những cũng phải đồng thời phù hợp
với những giá trị nhân loại, giá trị là đặc trƣng của từng quốc gia, dân tộc đã
tồn tại trƣớc khi tôn giáo đó du nhập, vừa phải giữ đƣợc các giá trị cốt tủy
căn tính.
Việt Nam là một quốc gia đa tộc ngƣời, đa tôn giáo, đang đổi mới rất
nhanh nên các nhà nghiên cứu tôn giáo đã chú ý đến điểm này. Với trƣờng
hợp đạo đức Công giáo ngoài các chuẩn mực và giá trị đạo đức phổ quát,
còn có sức mạnh các tổ chức và hệ thống hoạt động tôn giáo cách thức điều
24
chỉnh hành vi đạo đức của các tín đồ. Các tín đồ Công giáo hiện nay trong
khi thực hành đạo đức tôn giáo vẫn có liên hệ mật thiết với các vai trò chức
năng khác của tôn giáo nhƣ chức năng giáo tiếp, chức năng liên kết, chức
năng điều chỉnh,.. Khi thực hiện chức năng đền bù hƣ ảo, đạo đức tôn giáo
với tính thiêng đem đến cho con ngƣời niềm tin tôn giáo động lực mạnh mẽ