Triết lý nhân sinh trong phúc âm và ý nghĩa của nó đối với lối sống của tín đồ công giáo việt nam hiện nay - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ XUÂN HIỂN

TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG PHÚC ÂM
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI LỐI SỐNG
CỦA TÍN ĐỒ CÔNG GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ XUÂN HIỂN

TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG PHÚC ÂM
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI LỐI SỐNG
CỦA TÍN ĐỒ CÔNG GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: CNDVBC&CNDVLS
Mã số: 62.22.03.02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. LÊ THỊ VÂN HẠNH
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN TIẾN SĨ CẤP ĐHQG

Người hướng dẫn khoa học

1Mcb

: 1 Ma-ca-bê

2 Tm

: 2 Ti-mô-thê

2Mcb

: 2 Ma-ca-bê

Cv

: Công vụ Tông đồ

Ga

: Gio-an

GH

: Giáo hội

GHCG

: Giáo hội Công giáo

Gl


Mt

: Mát-thêu

NCS

: Nghiên cứu sinh

Nxb

: Nhà xuất bản

Pl

: Phi-líp-phê

Rm

: Rô-ma

St

: Sáng thế

Tp.

: Thành phố

UBĐKCGVN


giải quyết ..........................................................................................................31
Chương 2: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÚC ÂM VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN,
TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG PHÚC ÂM............................. 34
2.1. Khái quát về Phúc âm và một số khái niệm liên quan .......................................34
2.2. Những điều kiện dẫn đến sự ra đời của triết lý nhân sinh trong Phúc âm .........42
2.3. Các tiền đề lý luận dẫn đến sự ra đời của triết lý nhân sinh trong Phúc âm...........56
Chương 3: NỘI DUNG CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG PHÚC ÂM ................... 74
3.1. Quan niệm về lẽ sống trong Phúc âm.................................................................74
3.2. Quan niệm về lối sống trong Phúc âm ...............................................................89
3.3. Một số nhận xét về triết lý nhân sinh trong Phúc âm.......................................104
Chương 4: Ý NGHĨA CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG PHÚC ÂM ĐỐI
VỚI LỐI SỐNG TÍN ĐỒ CÔNG GIÁO VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA,
KHUYẾN NGHỊ ....................................................................................................................112

4.1. Ý nghĩa của triết lý nhân sinh trong Phúc âm đối với lối sống của tín đồ
Công giáo Việt Nam .......................................................................................112
4.2. Lối sống của tín đồ Công giáo ở Việt Nam hiện nay - những vấn đề đặt
ra và khuyến nghị đối với Đảng, Nhà nước....................................................133
KẾT LUẬN.............................................................................................................................148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN...............................................................................................150
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..............................................................................151
PHỤ LỤC

1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội phương Tây hiện đại đang đứng trước một sự thật là, dù khoa

văn hóa, nhân văn của tín ngưỡng, tôn giáo đang tồn tại, tích hợp chúng
nhằm làm phong phú thêm văn hóa tinh thần người Việt truyền thống theo
tinh thần "tôn giáo là văn hóa" của Hồ Chí Minh. Muốn vậy, trước hết chúng
ta cũng cần quán triệt quan điểm, chính sách đối với tôn giáo của Đảng ta là:
Đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội
mới. Xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động
lực để phát triển đất nước, văn hóa phải đặt ngang hàng với kinh tế, chính
trị. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đi đôi với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân
loại. Phát triển văn hóa để xây dựng con người phát triển toàn diện. Ngày
nay, đất nước ta đang ở thời kỳ phát triển đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh" và đã đạt được những thành công nhất định. Mức sống và chất lượng
sống của người dân đã từng bước được cải thiện. Những thành quả của công
cuộc "Đổi mới đất nước" tạo ra những tiền đề có tính quyết định cho sự phát
triển toàn diện con người.
Kitô giáo là một tôn giáo thế giới, đang tồn tại ở hầu khắp các nước
trên thế giới. Kitô giáo đề cao cái đẹp tinh thần, cái thiện, đạo đức thánh
thiện, tình yêu tha nhân. Tại Việt Nam, Kitô giáo, gồm cả đạo Công giáo và
đạo Tin lành, từ lâu đã trở thành tôn giáo của một bộ phận dân cư không nhỏ;
trong đó đạo Công giáo có tín đồ đông đảo hơn và có bề dày truyền thống
hơn. Đạo Công giáo đã và đang hòa nhập, đồng hành cùng với văn hóa Việt,
góp phần làm phong phú văn hóa Việt nhờ những giá trị tốt đẹp mà nó mang
lại. Các giá trị văn hóa nhân sinh của đạo Công giáo thể hiện cô đọng nhất
trong Phúc âm, với nội dung triết lý nhân sinh sâu sắc, phản ánh những giá trị
căn bản nhất của bản chất người, giúp con người hoàn thiện đạo đức, lối sống
của mình. Triết lý nhân sinh của Phúc âm đề cập tới những chiều cạnh nền
tảng của tồn tại người như những nguyên lý sinh tồn của con người, cơ sở bản

3


4


Để đạt tới mục đích đó, luận án sẽ giải quyết những nhiệm vụ cơ
bản sau:
- Nêu rõ hoàn cảnh và các tiền đề dẫn tới sự ra đời của triết lý
nhân sinh trong Phúc âm.
- Phân tích và hệ thống hóa các nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh
trong Phúc âm.
- Làm rõ ý nghĩa của triết lý nhân sinh trong Phúc âm đối với lối sống của
tín đồ Công giáo Việt Nam hiện nay.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án được triển khai dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo nói chung và đạo Công giáo nói
riêng. Đồng thời có tham khảo một số lý thuyết khác nghiên cứu về tôn giáo,
như: Lý thuyết thực thể tôn giáo, lý thuyết xung đột, văn hóa vùng - lịch sử và
tâm lý học tôn giáo.
Luận án được tiến hành với việc sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời luận án
sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành, như phương
pháp nghiên cứu của nhân học tôn giáo, triết học tôn giáo, tôn giáo học,
chính trị học, sử học; và các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác, như hệ
thống - cấu trúc, nguyên tắc thống nhất giữa lôgíc với lịch sử, phân tích với
tổng hợp...
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu triết lý nhân sinh của đạo
Công giáo được trình bày trong sách Phúc âm của Kinh thánh Tân ước và
biểu hiện, ý nghĩa đối với lối sống của tín đồ Công giáo Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu gồm: bốn văn bản Phúc âm của các Thánh Mátthêu, Lu-ca, Mác-cô, Gio-an trong Kinh thánh Tân ước và các văn kiện của

5

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Triết lý nhân sinh trong Phúc âm là một trong các nội dung quan trọng
nhất của sách Tân ước. Do đó, việc nghiên cứu Phúc âm nói chung và triết lý
nhân sinh trong Phúc âm nói riêng đã được các nhà khoa học, các giáo phụ,
các nhà biện hộ giáo và học giả của Hội Thánh nghiên cứu trên các phương
diện khác nhau. Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về Phúc
âm và triết lý nhân sinh trong Phúc âm. Ở nước ta, việc nghiên cứu Phúc âm
nói chung và triết lý nhân sinh trong Phúc âm nói riêng cho đến nay chưa
thật sự nhiều.
Với mục đích tìm hiểu những nghiên cứu đã thực hiện liên quan đến
hướng nghiên cứu của luận án, làm rõ những kết quả đã đạt được và đặt ra
những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận án của mình, NCS tìm
đọc và tổng quan những nghiên cứu về triết lý nhân sinh trong Phúc âm và ảnh
hưởng của nó đến lối sống của tín đồ Công giáo Việt Nam hiện nay như sau.
1.1. Những công trình nghiên cứu về hoàn cảnh ra đời của triết lý
nhân sinh trong Phúc âm
1.1.1. Nghiên cứu về điều kiện ra đời của triết lý nhân sinh trong
Phúc âm
Về điều kiện kinh tế - xã hội và chính trị cho sự ra đời của triết lý nhân
sinh trong Phúc âm, có thể khẳng định rằng, triết lý Kitô giáo là đối tượng
nghiên cứu từ rất lâu của nhiều thế hệ các học giả. Song, không hiểu tại sao
các điều kiện kinh tế - xã hội và chính trị cho sự ra đời của nó lại ít được bàn
luận. Ngay cả các công trình nghiên cứu mác xít về lịch sử tư tưởng triết học
phương Tây trung cổ [58], trong đó triết học Kitô giáo chiếm ưu thế tuyệt đối,
từ lập trường lý luận là quan niệm duy vật về lịch sử, cũng không phân tích
sâu sắc và toàn diện các điều kiện này.

7





Trong cuốn "Tôn giáo học nhập môn" (Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2006),
khi phân tích điều kiện chính trị - xã hội cho sự ra đời tư tưởng triết lý nhân
sinh của Kitô giáo, các tác giả nêu bật một thực tế là vốn ra đời trong lòng các
giáo phái khắc kỷ, chống đối lại Do Thái giáo bị giáo điều hóa, xuyên tạc và
chính quyền La Mã, Kitô giáo nguyên thủy ngay từ đầu đã tự tuyên bố mình
là học thuyết của dân nghèo bị áp bức, của những người cùng khổ và bị tù
đày. Với tính cách là học thuyết mang tính "an ủi", định hướng nghị lực của
những người bị áp bức vào các lý tưởng tôn giáo, Kitô giáo nguyên thủy
không những đối lập với những kẻ cầm quyền, chịu sự truy nã tàn bạo từ phía
chính quyền, mà còn chứa đựng những yếu tố cấp tiến. Đó là việc không chấp
nhận những chuẩn tắc sinh hoạt (lối sống) đã hình thành. Mặc dù không mang
tinh thần cách mạng tích cực, nhưng với việc tuyên bố nguyên tắc bình đẳng
giữa người với người và tuân giữ điều đó, sự ra đời của triết lý nhân sinh Kitô
giáo là lời thách thức đối với trật tự xã hội phân biệt đẳng cấp đương thời.
Bài học về nhân sinh quan cơ bản được rút ra từ đó là cần học hỏi văn
hóa khoan dung và hòa bình trong thế giới vốn có đầy rẫy những xung đột.
Tin và yêu, cam chịu và hy vọng là những phẩm chất cần thiết để xác lập
nhân sinh quan dựa trên tình yêu tha nhân như Chúa Giêsu đã dạy: "Hãy
thương yêu người ta như mình ta vậy". Như vậy, tư tưởng triết lý nhân sinh cơ
bản của Kitô giáo là tư tưởng về tội lỗi và cứu rỗi con người. Con người mắc
tội trước Chúa và chính điều này làm cho mọi người trở nên bình đẳng.
Nhưng con người có thể thanh tẩy tội lỗi, nếu họ ý thức là họ mắc tội, nếu họ
hướng ý nghĩ của mình vào việc thanh tẩy tội lỗi, biết ăn năn và sám hối [155,
tr.90-91]. Tư tưởng này có ý nghĩa rất quan trọng đối với định hướng tư tưởng
của luận án.
Từ những nguồn tài liệu đã được NCS sưu tầm, có thể khẳng định rằng,
các điều kiện kinh tế - xã hội cho sự ra đời tư tưởng triết lý nhân sinh trong
Phúc âm chưa được nghiên cứu thỏa đáng. Vì vậy NCS sẽ phải phân tích

kiện cho người Do Thái tiếp thu có chọn lọc và phát triển tinh hoa triết học
Hy Lạp, tôn giáo Ba Tư để tiếp tục củng cố, bảo vệ niềm tin tôn giáo của dân

10


tộc mình và hình thành tôn giáo thế giới. Với Bái Hỏa giáo Ba Tư, sau khi
được phép trở về xây dựng lại Jerusalem, người Do Thái đã tiếp thu một số
yếu tố của Bái Hỏa giáo để chỉnh sửa lại giáo quy Do Thái giáo, đã tiếp nhận
có chọn lọc và phát triển một số yếu tố trong tư tưởng triết học Hy Lạp để
hình thành nền triết học Do Thái - Hy Lạp mang đậm sắc thái phương Đông.
Chính trong những ngày tháng đau khổ, người Do Thái đã nhận ra rằng, các
dân tộc khác cũng chịu chung số phận như họ và người Do Thái có chung nỗi
niềm đồng cảm này. Họ cảm thấy đây là sự bất công và nhân loại cần đến sự
che chở của một Đấng Cứu thế và tất cả phải được cố kết với nhau bằng tình
bác ái cao cả theo tinh thần vạn vật đồng nhất thể và sự thiện tuyệt đối. Chúa
Kitô xuất hiện trong hoàn cảnh như vậy [41, tr.57-60].
Trong tập I cuốn "Lịch sử triết học phương Tây", gồm 3 tập (Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2015), tác giả Đỗ Minh Hợp đã nêu bật các đặc
điểm văn hóa của giai đoạn La Mã trong dòng chảy chung của tư tưởng Hy La cổ đại. Đây cũng chính là điều kiện văn hóa cho sự ra đời của triết lý
nhân sinh trong Phúc âm. Tác giả khẳng định rằng, cùng với việc mở rộng
lãnh thổ Hy Lạp sang không gian Ba Tư, thế giới trở nên quá lớn và không
thể bao quát hết. Nếu trước đây mỗi công dân đều có thể quan sát hết cuộc
sống của polis, lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân ở đây hòa làm một, giữa
chúng không có xung đột đáng kể. Thì nay, kiểu xã hội mới (chế độ quân
chủ Hy Lạp, sau đó - Đế chế La Mã) thể hiện là một thực tại hoàn toàn khác.
Thế giới mới thực sự không thể bao quát hết, ý thức con người bị lúng túng
trước không gian bao la, những đô thị, những cá nhân và những quan hệ vô
cùng đa dạng. Con người riêng biệt, nếu nó không phải là đại diện của quyền
lực tối cao, không còn có ảnh hưởng đến tiến trình của những sự kiện xã hội.

đại hậu kỳ. Trong lịch sử văn minh châu Âu không có một thời đại lớn nào
mà cá nhân tự cảm nhận thấy mình sâu sắc và trở thành chỗ dựa quan trọng
như vậy cho tồn tại của riêng mình.
Trong suốt sáu thế kỷ - từ khi vương quốc của Alexandr Macédonia
hình thành cho đến lúc Đế chế Kitô giáo của Constantine xuất hiện, - loài

12


người cổ đại đã để cho cá nhân hoàn toàn dựa vào những nỗ lực của bản thân.
Tín đồ Kitô giáo có Chúa và Kinh thánh" [88, tr.356-359]. Những nhận xét
sâu sắc này cho thấy rõ bối cảnh văn hóa cho sự ra đời của tư tưởng triết lý
nhân sinh trong Phúc âm như triết lý mang đậm sắc thái nhân cách chủ nghĩa,
duy đạo đức.
Như vậy, tài liệu nghiên cứu về các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị,
văn hóa cho sự ra đời triết lý nhân sinh trong Phúc âm vẫn còn ít, các tài liệu
hiện có mới chỉ khái quát được sinh hoạt văn hóa tinh thần ở thời đại Hy Lạp
hậu kỳ đang suy thoái, "thú tính" đang vượt trội "nhân tính" và ra sức lộng
hành. Sự tồn tại và phát triển của văn minh Cổ đại bị đe dọa, đòi hỏi phải tạo
dựng một hệ thống giá trị văn hóa tinh thần mới. Tư tưởng triết lý nhân sinh
trong Phúc âm là câu trả lời cho vấn đề cốt tử về nhân sinh quan của con
người Cổ đại.
1.1.2. Các tài liệu về tiền đề lý luận ra đời triết lý nhân sinh trong
Phúc âm
Tổng quan những tài liệu thuộc nhóm này, có thể khái quát như sau.
Trong bài viết "Bái Hỏa giáo và dấu vết trong Kitô giáo qua sách Tân
ước" (T/c Nghiên cứu Tôn giáo, 11, 2015, tr.77-90), ngoài phần nội dung giới
thiệu cô đọng những luận điểm cơ bản của tôn giáo này, tác giả Bùi Kim
Chuyên đã chỉ ra hàng loạt ảnh hưởng của Bái Hỏa giáo đến tư tưởng triết lý
nhân sinh trong Phúc âm. Đó là: (1) nhân sinh quan "lấy bác ái làm hạt nhân";

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc tìm hiểu tiền đề tư tưởng cho sự ra
đời triết lý nhân sinh trong Phúc âm.
Trong cuốn " Triết học thượng cổ Tây phương ảnh hưởng trên Kitô
giáo " (Nxb. Phương Đông, 2010), tác giả Phan Văn Tình đã luận giải hình
tượng Chúa Giêsu theo quan điểm triết học Phương Tây cổ đại. Theo tác giả,
quan niệm về Thượng Đế được xây dựng nhờ xuất phát từ tư tưởng của hai
triết gia là Plato và Aristotle. Theo Plato, Thượng Đế là sự thiện tuyệt đối, là
ý tưởng tuyệt đối và sự hiện hữu của Ngài là không thể nghi ngờ. Mọi sự tốt
lành và vũ trụ đều được tạo ra do sự ưu ái của Thượng Đế. Theo Aristotle, sự

14


vận động là có tính thường hằng và tất cả sự vận động đều do kết quả tác
động của "Đệ nhất Động cơ" có tính thường hằng. Về sau, các triết gia Kitô
giáo gắn cho "Đệ nhất Động cơ" một cái tên mới là "Thiên Chúa". Theo tác
giả, điều này có vẻ hơi khiên cưỡng và cắt xén. Phan Văn Tình cho rằng, con
đường khả dĩ nhất để nhận thức được Thiên Chúa là thông qua triết học, tôn
giáo và khoa học [149, tr.29-32].
Cuốn "Đại cương lịch sử triết học phương Tây" (Nxb. Đại học Tổng
hợp Hồ Chí Minh, Tp. HCM, 2006) của nhóm tác giả Đỗ Minh Hợp, Nguyễn
Thanh, Nguyễn Anh Tuấn đã chỉ ra triết học Hy Lạp cổ đại là tiền đề quan
trọng của triết lý nhân sinh trong Phúc âm. Các tác giả khẳng định "Kitô giáo
đánh dấu một bước ngoặt triệt để trong tư duy triết học… việc phổ biến Kitô
giáo đồng thời cũng có nghĩa là sự xuất hiện một triết học mới" [84, tr.121].
Trong cuốn sách này, các tác giả đã phân tích ảnh hưởng của triết học Hy Lạp
cổ đại trên tư tưởng triết lý nhân sinh trong Phúc âm được thể hiện qua sự
hình thành một văn hóa nhân sinh mới. Văn hóa này có các nền tảng của mình
là tính toàn vẹn và toàn thiện của nhân cách lý tưởng (chủ nghĩa nhân cách),
là tự do ý chí trong lựa chọn nhân tính, là tính siêu nhiên và siêu việt của nhân

tính phát sinh về mặt tư tưởng giữa tư tưởng triết lý nhân sinh trong Cựu ước
với triết lý nhân sinh trong Phúc âm.
1.2. Những công trình nghiên cứu tiếp cận đến nội dung cơ bản của
triết lý nhân sinh trong Phúc âm
1.2.1. Những tài liệu liên quan đến nội dung triết lý nhân sinh trong
Phúc âm
Phúc âm được viết vào khoảng những thế kỷ đầu Công nguyên.
Xuyên suốt Phúc âm là câu chuyện về Chúa Giêsu như "Thiên Chúa làm
người và sống giữa loài người", giáng thế truyền giảng về Nước Trời, ơn
cứu độ và cái chết của Ngài để chuộc lỗi cho cả loài người. Theo đó, con
người ta vì tội Tổ tông nên đã quên mất rằng, mỗi người đều có thể trở thành
con của Thiên Chúa. Do vậy Phúc âm xác quyết rằng, mọi người là bình

16


đẳng và nếu biết ăn năn sám hối, biết ăn ở trọn lành, thực hiện lối sống bác
ái, yêu thương tha nhân, thì sẽ được về bên Thiên Chúa trong ngày phán xét
chung. Ngược lại, sẽ bị vứt xuống địa ngục cho khóc lóc và nghiến răng. Nói
cách khác, do mối quan hệ giữa người với người bị "lỗi", nên người ta cư xử
với nhau khá vị kỷ, chỉ vì cái tôi cá nhân mà đã làm nên nhiều hệ lụy xấu
trong quan hệ giữa người với người. Chính lúc đó đã xuất hiện nhà tư tưởng
Giêsu với triết lý yêu thương. Triết lý nhân sinh của Chúa Giêsu đã chỉ ra
thế nào là cái ác và sửa "lỗi" trong mối quan hệ giữa người với người theo
hướng bác ái, mở ra thời kỳ Tin Mừng, đưa nhân loại tiến tới cùng đích
Chân, Thiện, Mỹ. Để hình thành toàn cảnh các nghiên cứu về tư tưởng triết
lý nhân sinh trong Phúc âm, nghiên cứu sinh giới thiệu một số công trình
nghiên cứu quan trọng sau đây.
Trong cuốn "Tôn giáo Lý luận Xưa và Nay" (Nxb. Đại học Tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh, 2006), các tác giả đặt ra vấn đề: phải chăng tất cả

việc có một Chúa Giêsu bằng xương bằng thịt và đã chết theo những trình tự
ghi trong Phúc âm.
Trong cuốn "Kinh thánh thật sự dạy gì", (Nhà Xuất bản Watch Tower
Bible and Tract Society of Pensylvania, Mỹ, 2011) đã đánh giá tích cực những gì
Kinh thánh mang lại cho con người. Theo đó, những điều tốt đẹp trong Kinh
thánh không hề hão huyền. Trong đời sống hiện đại, Kinh thánh giúp người ta
đối phó tốt hơn với những vấn đề của ngày nay và làm cho tâm trí người ta trở
nên thanh thản bằng cách giải đáp một số thắc mắc, như nguồn gốc của đau khổ,
cách thức vượt qua lo âu trong cuộc sống, con đường dẫn tới cuộc sống gia đình
hạnh phúc, số phận của con người sau cái chết [102, tr.6].
Ngoài ra, chúng ta còn cần phải kể tới các công trình của Giáo hội Công
giáo đề cập tới triết lý nhân sinh trong Phúc âm. Đó là cuốn "Sách Giáo lý của
Hội thánh Công giáo" (Catechismus Catholicae Ecclesiae) do Tòa thánh Vatican
soạn thảo và Đức Giáo hoàng Gioan - Phaolô II công bố năm 1992 (Nxb. Tôn
giáo, HN, 2012). Tác phẩm này thể hiện rõ sự trở về một cách mạnh mẽ với tinh

18


thần của triết lý nhân sinh trong Phúc âm cùng với hơi thở thời đại được Công
đồng Vatican II gợi hứng. Có thể nói, Giáo lý của Hội thánh Công giáo là bản
tổng quát về tư tưởng triết lý nhân sinh trong Phúc âm.
"Bộ Giáo luật 1983" (Nxb. Tôn giáo, HN., 2007) là bộ luật hoàn chỉnh
đầu tiên của Giáo hội Công giáo sau gần 2000 năm tồn tại, nó có mục đích
định hướng sinh hoạt của tín đồ Kitô giáo vào những giá trị tinh thần nền
tảng, cấu thành bổn phận của người Công giáo trong đời sống đức tin, như tự
do, lương tâm, lề luật, quyền bính và ánh sáng của Kinh thánh.
Một tài liệu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc làm sáng tỏ nội
dung của triết lý nhân sinh trong Phúc âm là Tóm lược học thuyết xã hội của
Giáo hội Công giáo do Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình công bố

phú và sâu sắc. Đây là "cẩm nang" dành cho các cha đạo của Giáo hội Công
giáo, có sức ảnh hưởng rất lớn trong hoạt động giáo dục đạo đức cho con
người phương Tây. Công trình này bàn luận về tất cả các phẩm chất đạo đức
cần phải có của tín đồ Kitô giáo để trở nên nhân cách lý tưởng theo như Chúa
Giêsu - Đấng được nhìn nhận dưới góc độ một nhân cách hiện sinh trọn vẹn,
một nhân cách lý tưởng tuyệt đối.
Hàng loạt những công trình đề cập đến "nhân cách lý tưởng" đối với
Kitô hữu như: "Những mẫu gương sống thánh thiện" (Nxb. Tôn giáo, HN.,
2012) của Lm. Vũ Văn Tự Chương, "Niềm tin của người Công giáo" (Nxb.
Tôn giáo, HN., 2009, Phạm Minh Thiện, Tống Viết Hiệp, Phạm Minh Trinh
dịch) của Bruno Chenu, Francois Caudreau, "Đời sống mới trong Chúa Kitô"
(Nxb. Tôn giáo, HN, 2012) của R.Cantalamessa, "Tình yêu chính là sứ vụ"
(Nxb. Tôn giáo, HN, 2012) của Lm. Quirico T. Pedregosa, "Hôn nhân thánh"
(Nxb. Tôn giáo, HN, 2013) của Gary Thomas, "Những nẻo đưởng theo Chúa
Kitô") (Nxb. Tôn giáo, HN, 2012) của Gérard Muchery, G.Calos, "Suy Lời
Chúa, ngẫm sự đời" (Nxb. Tôn giáo, HN, 2010) của Linh mục Dương Trung
Tín, "Lời Chúa và cuộc sống" (Nxb. Tôn giáo, HN, 2010) của Xuân Thu,
"Sống với Đức Giêsu Kitô như được trình bày trong Tin mừng" (Nxb. Tôn
giáo, HN, 2009) của Vinh Sơn Quang Huy, "Đường về Emmaus" của ĐGM.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status