Quan niệm của Nho giáo về đạo đức gia đình và ý nghĩa của nó đối với việc hoàn thiện đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay (nghiên cứu thực tế tại Thị xã Sơn Tây) - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY
QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC GIA
ĐÌNH VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN
THIỆN ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY
(Nghiên cứu thực tế tại Thị xã Sơn Tây) LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học Hà Nội - 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn: Quan niệm của Nho giáo về đạo đức gia đình và
ý nghĩa của nó đối với việc hoàn thiện đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay (nghiên
cứu thực tế tại Thị xã Sơn Tây) là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả được đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất cứ công trình nào khác. Mọi tham khảo trong luận văn đều được trích dẫn rõ
nguồn, đảm bảo tính khách quan của tư liệu và bản quyền tác giả.

Học viên

Nguyễn Thị Bích Thủy
LỜI CẢM ƠN

Luận văn “Quan niệm của Nho giáo về đạo đức gia đình và ý nghĩa của nó
đối với việc hoàn thiện đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay (nghiên cứu thực tế tại
Thị xã Sơn Tây) là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, là kết quả của
quá trình học tập tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc
gia Hà Nội của tác giả dưới sự hướng của các thầy cô bộ môn; sự giúp đỡ của các
thầy cô trong ban chủ nhiệm khoa Triết học. Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến
những sự giúp đỡ quý báu đó!
Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến PGS. TS. Đỗ Thị Hòa Hới là
giáo viên trực tiếp hướng dẫn luận văn cho tôi, người đã luôn tận tình hướng dẫn,
dành nhiều thời gian quý báu để trao đổi và định hướng nghiên cứu cho tôi trong
suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn
động viên và là chỗ dựa tinh thần để tôi học tập và thực hiện thành công đề tài luận

Việt Nam. 32
Kết luận chương 1: 39
Kết luận chương 1: 39
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ Ý NGHĨA TƢ TƢỞNG ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH
NHO GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH
MỚI Ở SƠN TÂY HIỆN NAY. 40
2.1. Khái quát Thực trạng đạo đức gia đình ở Sơn Tây hiện nay. 40
2.2. Nội dung, yêu cầu đặt ra trong việc củng cố, hoàn thiện gia đình
văn hóa mới ở Thị xã Sơn Tây hiện nay. 57 2
2.3. Tiếp tục kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức gia đình Nho
giáo góp phần hoàn thiện đạo đức gia đình ở Sơn Tây hiện nay. 67
2.4. Giải pháp nâng cao việc kế thừa và phát huy giá trị đạo đức Nho giáo
vào việc xây dựng hoàn thiện đạo đức gia đình Sơn Tây hiện nay. 72
Kết luận chương 2: 84
PHẦN KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức lớn nhất trong lịch sử
Trung Hoa cổ đại, nó có sức sống trường tồn và vĩnh cửu không chỉ trong xã
hội Trung Quốc mà nó còn lan rộng ra rất nhiều quốc gia và khu vực trên thế
giới trong đó có Việt Nam. Nho giáo được du nhập sớm vào Việt Nam từ
những năm đầu công nguyên, sau đó người Việt đã tiếp nhận, biến đổi nó phù
hợp với yêu cầu, hoàn cảnh lịch sử của dân tộc. Đạo đức Nho giáo thấm sâu

đề đạo đức nói chung, đạo đức trong gia đình nói riêng lại đáng báo động như
hiện nay.
Gia đình là nơi lưu giữ những giá trị đạo đức truyền thống, nhưng hiện
nay đạo đức gia đình lại đang đứng trước những thách thức lớn. Giá trị đạo
đức gia đình truyền thống ngày càng mai một và dường như không còn dựa
nhiều trên cơ sở kinh tế gia đình, hệ giá trị mới chưa xác lập cơ sở vững chắc
đã làm khủng hoảng hệ giá trị đạo đức gia đình, góp thêm vào khủng hoảng
đạo đức xã hội. Những mặt trái của cơ chế thị trường và các nhân tố mới như
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình đô thị hóa đang từng ngày,
từng giờ làm suy thoái môi trường, ổn định đạo đức của con người, dường
như khiến đạo đức xã hội xuống cấp. Con người dường như ngày càng sống
gấp gáp, thực dụng, chạy theo đồng tiền, coi nhẹ, chà đạp lên những giá trị
đạo đức, danh dự của người khác. Nhiều hiện tượng vì lợi ích cá nhân đã đánh
mất đi đạo lý gia đình, quan hệ dòng họ, bạn bè,…Trước thực tế đó, nhiều vấn
đề bức xúc về gia đình đang đặt ra như: Đạo đức gia đình Việt Nam truyền
thống chịu ảnh hưởng lớn của Nho giáo đã biến đổi và có vai trò như thế nào
khi đất nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập phát triển kinh
tế thị trường. Hiện nay, tuy đạo đức gia đình Nho giáo bên cạnh những mặt
tích cực tất yếu vẫn bộc lộ những bất cập, hạn chế lịch sử, để lại nhiều rào cản 5
cho sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vấn đề đặt ra
là chúng ta phải kế thừa có phê phán, phát huy các mặt tích cực của nó như
thế nào trong quá trình đổi mới? Mặt khác, qua khảo sát các công trình tiếp
cận từ góc độ triết học, mặc dù đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên
cứu về vấn đề đạo đức của Nho giáo, nhưng khía cạnh quan niệm về đạo đức
trong gia đình nói riêng cho tới nay vẫn còn là một đề tài chưa được quan tâm
nghiên cứu nhiều. Vì vậy, chúng ta cần có những nghiên cứu sâu hơn, nhằm
đánh giá lại đầy đủ hơn quan niệm Nho giáo về đạo đức gia đình đối với việc

nước ta tiếp tục được công bố. Nhiều cuốn sách đã được xuất bản như: “Bàn
về đạo Nho” của Nguyễn Khắc Viện, “Nho giáo xưa và nay” của Quang Đạm,
“Nho học và nho học ở Việt Nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của
Nguyễn Tài Thư, Nho giáo và phát triển ở Việt Nam hiện nay của Vũ Khiêu .
. . Có thể thấy, những cuốn sách nói trên cùng rất nhiều các bài báo đăng trên
tạp chí chuyên ngành, đã đi sâu nghiên cứu về nhiều phương diện của Nho
giáo, đề cập tới học thuyết đạo đức của Nho giáo, trong đó có những giá trị
đạo đức tác động trực tiếp và gián tiếp đến đạo đức gia đình truyền thống và
cả hiện nay.
Trong các tác phẩm nghiên cứu tổng hợp về Nho giáo thì đáng chú ý là
những tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu về những quy phạm đạo đức của Nho
giáo liên quan trực tiếp tới đạo đức gia đình như:
Sách “Nho giáo và gia đình” của Vũ Khiêu, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, năm 1995. Trong công trình đó, tác giả đã phân tích các quy phạm đạo
đức Nho giáo, đạo đức gia đình, mối quan hệ trong gia đình, quan hệ cha -
con, quan hệ anh - em , quan hệ vợ chồng…, có thể nói đây là ba quan hệ cơ
bản trong gia đình. Tác giả cũng chỉ rõ, với quan niệm đạo đức Nho giáo có
hạn chế kìm nén con người, nhất là người phụ nữ là người chịu những ảnh
hưởng thiệt thòi nhất, đau khổ nhất do chế độ hà khắc đem lại. Tác giả cũng 7
chỉ ra vấn đề kế thừa giá trị đạo đức Nho giáo của những người con đối với
cha mẹ, em đối với anh, vợ đối với chồng.
Sách Gia đình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng của Nho giáo - của
Trần Đình Hượu, là công trình nghiên cứu sâu sắc đã làm rõ những ảnh hưởng
của đạo đức Nho giáo đến gia đình truyền thống ở Việt Nam. Tác giả cho rằng
bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo, còn có những mặt
tích cực trong việc xây dựng một gia đình êm ấm có kỷ cương.
Sách Nho giáo với văn hóa Việt Nam, Nguyễn Đăng Duy, Nxb Hà Nội,

“Vấn đề con người trong Nho học sơ kỳ”, luận án tiến sỹ của Nguyễn Tài
Thư, “Quan niệm Nho giáo về giáo dục con người và ý nghĩa của nó với việc
giáo dục con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” -
luận án tiến sỹ triết học Nguyễn Thị Nga, năm 1999 (Thư viện quốc gia).
Luận án “Quan niệm Nho giáo về con người, về giáo dục và đào tạo con
người” của Nguyễn Thị Tuyết Mai, năm 2005. Luận án “Gia đình Việt nam
và vai trò của người phụ nữ hiện nay” của Dương Thị Minh, năm 2003 (Thư
viện quốc gia). Luận án tiến sỹ “Học thuyết chính trị xã hội của Nho giáo và
sự thể hiện của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XIX) của Nguyễn
Thanh Bình… Các luận án đó đã làm rõ nội dung cơ bản của Nho giáo về những
vấn đề chính trị, xã hội, giáo dục, đạo đức. Làm rõ quá trình du nhập Nho giáo
vào nước ta, vai trò của Nho giáo trong lịch sử dân tộc và hiện nay ở các lĩnh
vực, trong đó có đời sống đạo đức, đạo đức gia đình.
Một số luận văn thạc sỹ cũng đề cập đến một số chuẩn mực đạo đức của
Nho giáo về con người nói chung, trong gia đình nói riêng như: Luận văn
“Quan niệm của Nho giáo về Trung - Hiếu - Lễ ảnh hưởng của nó đối với đời
sống đạo đức con người Việt Nam hiện nay” của Phạm Mạnh Toàn. Ngoài
những công trình nghiên cứu trên đây liên quan đến nội dung đề tài luận văn,
còn có rất nhiều những bài báo nghiên cứu được đăng trên tạp chí như: “Ảnh 9
hưởng của Nho giáo đối với gia đình Việt Nam” (Ngô Phương Anh, tạp chí
gia đình và trẻ em, kì 1, số 6, 2005, Tr 8 – 10); “Về gia đình truyền thống Việt
Nam với ảnh hưởng Nho giáo” (Trần Đình Hựơu, Tạp chí Xã hội học, số 1,
1989, Tr 25 – 38) ; “Tư tưởng Nho giáo và luân lý gia đình”, (Nguyễn Văn
Hồng dịch, Tạp chí thông tin Khoa học xã hội, số 12, 2001,; “Một số chuẩn
mực giá trị ưu trội khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”, (Nguyễn
Trọng Chuẩn, Tạp chí Triết học,số 1, 1995); “Một số biểu hiện xung đột giá
trị trong lĩnh vực đạo đức của đời sống xã hội”, (Nguyễn Sinh Huy, Tạp chí

Thứ hai, từ việc khái quát thực trạng đạo đức gia đình Việt Nam hiện
nay, qua khảo sát tại Thị xã Sơn Tây, làm rõ ý nghĩa của việc tiếp tục kế thừa
có phê phán quan niệm Nho giáo về đạo đức gia đình đối với việc hoàn thiện
đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà luận văn nghiên cứu là những tư tưởng, nội dung Nho
giáo về đạo đức gia đình và ý nghĩa của nó đối với việc hoàn thiện đạo đức
gia đình Việt Nam hiện nay nghiên cứu tại Thị xã Sơn Tây.
* Phạm vi nghiên cứu
Nho giáo là một học thuyết chính trị đạo đức rất rộng lớn và phong phú,
bao gồm nhiều lĩnh vực, vấn đề. Vì vậy, trong phạm vi của Luận văn thạc sỹ
tôi chỉ đi sâu tìm hiểu quan niệm của Nho giáo về đạo đức gia đình qua sách
Luận Ngữ và Mạnh Tử, vận dụng, chỉ ra ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục
đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay, qua khảo sát trường hợp Thị xã Sơn
Tây. Ngoài những tư liệu chính đó, thì quan điểm của các nhà nghiên cứu
trong và ngoài nước về vấn đề trên cũng là đối tượng tiêu biểu tham khảo của
luận văn.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu.
 Cơ sở lý luận 11
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta về vấn đề xây dựng
đạo đức cho con người Việt Nam nói chung, đạo đức gia đình Việt Nam nói
riêng.
 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp của Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu

Nho giáo ra đời ở Trung Quốc vào thời Xuân Thu - Chiến quốc (770 -
221 TCN). Đây là thời kỳ suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ, bước vào thời
kỳ phong kiến sơ kỳ, với những đặc điểm như sau.
Kinh tế đang có sự chuyển biến mạnh mẽ từ thời đại đồ đồng sang đồ
sắt, với nhiều công cụ lao động hiện đại hơn trước rất nhiều, làm cho năng
suất lao động tăng lên nhanh chóng, của cải bắt đầu có sự dư thừa, xã hội biến
động. Điều này đã dẫn đến sự thay đổi mọi mặt đời sống văn hóa chính trị -
xã hội của thời kỳ này. Chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất là cơ sở cho
sự ra đời, xuất hiện của nhiều giai cấp và tầng lớp mới trong xã hội, cùng với
đó là sự xuất hiện nhiều mâu thuẫn gay gắt: mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc
nhà Chu và giai cấp địa chủ mới với dân, mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc cũ
và tầng lớp quý tộc mới.
Về mặt xã hội, mâu thuẫn gay gắt nhất là mâu thuẫn giữa Thiên tử và
các nước chư hầu, mâu thuẫn gay gắt trong tầng lớp quý tộc, đã làm cho xã
hội ngày càng rối ren, trật tự xã hội bị đảo lộn. Người ta cướp bóc, tranh
giành nhau về địa vị, quyền lợi. Khổng Tử đã gọi đây là thời kỳ con người
sống vô đạo, quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử. Mâu thuẫn
xã hội và chiến tranh giữa các nước chư hầu kéo dài đã làm cho đời sống nhân
dân vô cùng cực khổ. Trong điều kiện kinh tế - xã hội rối ren như thế, các
nước đều muốn nắm giữ quyền lực của mình đã rất trọng kẻ sỹ, những ai có
tri thức mưu lược, có kế sách trị quốc đều được trọng dụng. Các học thuyết 13
này đều tập trung giải quyết những vấn đề lớn, những câu hỏi lớn của thời
đại, thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Làm thế nào mà nước từ loạn trở thành thái
bình thịnh trị? Do đó yêu cầu thực tiễn thúc đẩy có rất nhiều học thuyết chính
trị xã hội thời kỳ này nở rộ và phát triển. Người ta gọi thời kỳ này là thời kỳ
“Bách gia tranh minh” (Trăm nhà đua tiếng) bao gồm nhiều học phái như:
Nho gia, Âm dương gia, Mặc gia, Pháp gia, bằng cách này hay cách khác các

thuyết chính trị - đạo đức tiêu biểu nhất và có ảnh hưởng lâu dài nhất ở Trung
Quốc, cũng như nhiều nước khác trong khu vực như: Nhật Bản, Triều Tiên,
Singapo. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia tiếp nhận Nho giáo và
chịu ảnh hưởng nhiều của Nho giáo, đạo đức Nho giáo, trong đó có đạo đức
gia đình của Nho giáo từ rất sớm.
Khổng Tử (551 - 479 TCN), người sáng lập ra trường phái Nho gia.
Ông là người nước Lỗ, sống trong thời kỳ loạn lạc, được tận mắt chứng kiến
cảnh chiến tranh, cướp bóc. Khổng Tử luôn ôm ấp hoài bão chính trị là xây
dựng xã hội thái bình thịnh trị. Ông cho rằng, phải dùng đức trị, nhân trị, lễ trị
thì xã hội mới “hữu đạo” thịnh trị. Tư tưởng này của ông được các thế hệ học
trò tiếp tục kế thừa và phát triển. Mạnh Tử là người bảo vệ và phát huy tư
tưởng của Khổng Tử, mong muốn dùng thuyết Đức trị để cứu đời, ổn định xã
hội. Ông thấy được vai trò, sức mạnh của đạo đức trong gia đình, chủ trương
phải lấy việc giáo dục, tự giáo dục đạo đức từ trong gia đình ra cả xã hội làm
đường hướng căn bản để xây dựng con người lý tưởng, xã hội lý tưởng. Lời
giáo huấn của ông được các học trò biên soạn thành sách gọi là “Luận Ngữ”
đã có ảnh hưởng rất lớn.
Mạnh Tử (372- 289 Trước công nguyên), Mạnh Tử tên là Mạnh Kha,
tự là Dư Tử, người gốc nước Trâu, thuộc miền Nam tỉnh Sơn Đông Trung
Quốc ngày nay. Ông thuộc dòng tông tộc Mạnh Tôn, Cha là Khích Công
Nghi, Mẹ là Cừu Thị. Khi ông lên ba tuổi thì cha mất, được mẹ nuôi dưỡng, 15
giáo dục lễ nghĩa rất chặt chẽ và chọn chỗ ở gần trường học để con bà học tập
theo lễ nhạc. Về sau ông phát triển tư tưởng Nho giáo lên một trình độ mới và
là một học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử. Để bảo vệ và phát huy tư tưởng
của Khổng Tử, mong muốn dùng thuyết của mình để cứu đời, Mạnh Tử đã đi
khắp các nước chư hầu như nước Tề, nước Lỗ, nước Lương, nước Tống, nước
Đằng để truyền bá tư tưởng, chủ trương “vương đạo nhân chính” của mình.

phát minh này có ý nghĩa lớn đối với sản xuất nông nghiệp. Có nhiều bài
thuốc quý và nhiều cách chữa bệnh hữu hiệu đã được ghi chép vào sách vở.
Khổng Tử kế thừa biên soạn nhiều bộ sách, về sau được coi là kinh điển của
Nho giáo như: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu. Những tri thức này là
tiền đề cho sự ra đời các học thuyết triết học, chính trị, đạo đức thời Xuân Thu
- Chiến Quốc, trong đó có tư tưởng Khổng Mạnh là những người sáng lập học
thuyết của Nho giáo và được phát triển thêm ở đời sau, song vẫn bảo lưu các
nguyên lý cơ bản.
Tóm lại, tư tưởng đạo đức gia đình của Nho giáo được hình thành trên
cơ sở đạo đức truyền thống của Trung Hoa đã có từ thời đại trước(Thương,
Hạ). Ngay từ thời Vua Nghiêu, Vua Thuấn đã đặt ra vấn đề truyền ngôi cho
người hiền tài, hay Văn vương - Võ Vương là những người có “đức” được cả
thiên hạ kính nể. Hay Vua Thành nhà Thương (1766 – 1134) là tấm gương về
người có đức, thương dân và không ngừng tu dưỡng bản thân mình nên được
ngôi thiên tử. Trong hoàn cảnh lúc đó, tuy ở Trung Quốc có rất nhiều trường
phái, trào lưu tư tưởng, nhưng đạo đức Nho giáo có sự ảnh hưởng lớn, còn do
nó biết tiếp thu với quan niệm đạo đức của học thuyết khác. Các học thuyết
như Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia cũng đều đề cao kỷ cương đạo đức, xây dựng
đạo đức cho xã hội, cho gia đình và từng cá nhân. Có thể khẳng đinh “Đạo
làm người” Nho giáo là một nội dung tổng hợp cốt lõi của nhiều học thuyết 17
Trung Quốc cổ đại, chính điều này đã làm nên sự truyền thừa riêng biệt của tư
tưởng Trung Quốc so với các triết thuyết phương Tây. Nét khác biệt đó chính
là truyền thống trọng “đức”, đề cao đạo lý làm người. Đề cao giá trị đạo đức
của con người từ trong gia đình ra ngoài xã hội, các chuẩn mực đạo đức là
thước đo chuẩn mực đánh giá giá trị của xã hội, của gia đình và cá nhân.
1.1.3. Quan niệm của Nho giáo về tính người - cơ sở cho quan niệm
đạo đức trong gia đình của Nho giáo

đạo còn là thế giới quan, nhân sinh quan, một chủ trương chính trị, một hệ tư
tưởng nhất định” [41, 54]. Ông cho rằng, con người trong gia đình và xã hội
phải giữ đạo, thích đạo, học đạo và con người phải luôn tuân thủ quy tắc,
phạm trù đạo đức nhất định mới trở thành người có ích cho gia đình, xã hội.
Chữ “Đức” trong Nho giáo chiếm một vị trí rất quan trọng. Nó không
những chỉ là mục đích, phương tiện để tu dưỡng cá nhân, mà còn là mục đích,
phương tiện để cha mẹ giáo dục, giáo huấn con cái trở thành người có đức, có
tài trưởng thành tham gia xây dựng đất nước. Những phạm trù, nguyên lý,
chuẩn mực, nguyên tắc, quy phạm đạo đức trong học thuyết đạo đức Nho giáo
không chỉ phản ánh quan hệ song trung của con người đơn thuần mà nó phản
ánh mối quan hệ đạo đức, nhân cách của con người từ trong gia đình và mở
rộng ra xã hội. Các chuẩn mực đạo đức cơ bản của con người theo quan niệm
của Nho giáo được đưa ra lần đầu tiên từ quan điểm của Khổng Tử, khi ông
dạy rằng cần có “tam nhân” để đạt đức là: “Nhân, Trí, Dũng”. Đến Mạnh Tử,
ông đưa ra “Tứ đoan”, gồm: trắc ẩn chi tâm; cung kính chi tâm; tu ố chi tâm;
Thị phi chi tâm, tức là lòng thương xót, lòng kính nhường, sự xấu hổ, tính
phân biệt đúng sai, từ đó mà hình thành nên tứ đức Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. Về
sau này thời Hán, Đổng Trọng Thư bổ sung thêm phẩm “Tín” vào hệ thống
chuẩn mực đạo đức xã hội và tạo thành: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín (Ngũ
thường). Đây là phẩm chất đạo đức lý tưởng của người nam giới, người quân 19
tử, đóng vai trò là trụ cột của gia đình, người gia trưởng là chuẩn mực cho các
thành viên dựa vào, noi theo và lấy bản thân để giáo hóa gia tộc.
 Một số phạm trù chuẩn mực đạo đức trong Nho giáo hình thành quan
hệ của các thành viên trong gia đình: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín (Ngũ thường)
đặt trên nền tảng đạo đức bền vững.
Nhân không chỉ một đức tính nào, mà chỉ chung mọi đức tính, người
có Nhân đồng nghĩa với người hoàn thiện nhất, nên “Nhân” có hàm nghĩa

có đi đến các nước rợ Di, Địch cũng chẳng bỏ ba cái đó, như vậy là người có
đức nhân” [41 ,39]. Người quân tử có Nhân phải là người có hiếu, phải thực
hiện ở trong gia đình đó, quan hệ trực tiếp, tự nhiên, huyết thống ruột thịt của
mình, áp dụng rộng rãi ra ngoài xã hội.
Trong bất kỳ mối quan hệ nào trong gia đình, nếu con người đó làm trái
với những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức đặt ra như trên, thì bị coi là trái với
đức nhân, là người không có Nhân. Ngoài ra, Nho giáo Khổng - Mạnh cũng
quan niệm, người nào làm theo lễ đó là người Nhân, giữ đức tín là nhân, sống có
nghĩa là nhân, thể hiện đầu tiên và trực tiếp ở trong gia đình.
Nghĩa có quan hệ mật thiết với Nhân, theo quan niệm của các nhà Nho,
Nghĩa là một phạm trù đạo đức, một chuẩn mực đạo đức cơ bản. Nếu Nhân là
để nói về hiểu người, yêu người đối với người, thì Nghĩa là để nói về mình,
chỉnh mình, sửa mình, tự yêu cầu, bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ tự giác
của mỗi người. Phẩm chất Nghĩa là để thực hiện, trả nghĩa, được hiểu là tự
giác cái thuộc về lẽ phải, là trách nhiệm của cá nhân đối với gia đình, dòng họ
và xã hội. Theo đó Nho giáo cho rằng, tự mỗi người đã đặt lợi ích gia đình,
dòng họ, trách nhiệm xã hội lên trên lợi ích cá nhân, đặt cái quốc gia đại sự
lên trên cái bản thân mình, người quân tử, tự răn, tự giác, luôn luôn hoàn thành 21
bổn phận, nghĩa vụ, trách nhiệm và tình cảm của mình trong các mối quan hệ gia
đình: nghĩa cha con, nghĩa vợ - chồng, nghĩa anh em mà không cần phải viện
dẫn nhiều tới luật pháp bên ngoài.
Lễ Trong học thuyết đạo đức của Nho giáo, cũng là một phạm trù
chuẩn mực cơ bản và là một biểu hiện ra bên ngoài của đức Nhân. Người
không có lòng Nhân thì sao thi hành được Lễ. Người có đức Lễ cũng đồng
thời có đức Nhân. Về thực chất trong quan niệm của nhà Nho, Lễ dùng để
phân biệt quy định hình thức về tôn ty trật tự, kỷ cương gia đình mà mọi
người, mọi thành viên trong gia đình đều phải học tập và tuân theo, để phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status