Sử dụng phương pháp dạy học tích cực để hướng dẫn học sinh tự học, tự khai thác kiến thức trong bài 16 sóng thuỷ triều dòng biển địa lí 10 - Pdf 43

1. Mở đầu.
1.1. Lí do chọn đề tài.
Ngày nay, trước yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế tri thức, đòi hỏi việc
nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, nhằm thích ứng với đời
sống xã hội và phù hợp với xu thế hội nhập toàn cầu.
Để đáp ứng được yêu cầu đó, định hướng chủ đạo và xuyên suốt của việc
nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là chú trọng phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo, khơi gợi năng lực tự nghiên cứu, lòng say mê, ham hiểu biết và
học hỏi của học sinh, nhằm đào tạo ra lớp người năng động, linh hoạt có đủ năng
lực, phẩm chất, trí tuệ và hoàn thiện về nhân cách để đảm đương sứ mệnh chủ
nhân tương lai của đất nước.
Trên thực tế, trong những năm qua, ngành giáo dục đã có nhiều đổi mới
về chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học.
Tuy nhiên, việc dạy và học vẫn còn chịu tác động nặng nề bởi mục tiêu thi
cử, chạy theo thành tích, học để thi, dạy để thi.
Do đó, việc dạy học chủ yếu là truyền thụ một chiều, thông báo kiến thức
mang tính đồng loạt, thiên về lí thuyết, xa rời thực tiễn, tập trung ôn luyện kiến
thức đáp ứng kiểm tra thi cử, chưa thực sự quan tâm đến việc hình thành thói
quen tự học, tự khám khám kiến thức phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải
quyết vấn đề của học sinh [1].
Từ những thực tế trên, trong suốt quá trình giảng dạy, tôi luôn tìm hiểu,
nghiên cứu và áp dụng các phương pháp dạy học tích cực vào trong các bài
giảng để hướng dẫn học sinh tự tìm kiếm và chiếm lĩnh tri thức một cách chủ
động, sáng tạo.
Chính vì lí do trên mà tôi chọn đề tài: “Sử dụng một số phương pháp dạy
học tích cực để hướng dẫn học sinh tự học, tự khai thác kiến thức trong bài
16: Sóng. Thuỷ triều. Dòng biển- Địa lí 10”, nhằm nâng cao hiệu quả dạy và
học.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Việc nghiên cứu đề tài nhằm tạo ra một cái nhìn mới về sự thay đổi
phương pháp giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh, đồng thời tạo ra sự

tâm hàng đầu.
Phương pháp dạy và học tích cực là đề cập đến các hoạt động dạy và học
nhằm tích cực hoá hoạt động học tập và phát triển tính sáng tạo của người học.
Trong đó, các hoạt động học tập được tổ chức, được định hướng bởi giáo viên,
người học không thụ động, chờ đợi mà tự lực, tích cực tham gia vào quá trình
tìm kiếm, khám phá, phát hiện kiến thức, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn
đề trong thực tiễn, qua đó lĩnh hội nội dung học tập và phát triển năng lực sáng
tạo [1].
Trong dạy và học tích cực, hoạt động học tập được thực hiện trên cơ sở
hợp tác và giao tiếp ở mức độ cao. Phương pháp dạy và học tích cực không phải
là một phương pháp dạy học cụ thể, mà là một khái niệm, bao gồm nhiều
phương pháp, hình thức, kĩ thuật cụ thể khác nhau nhằm tích cực hoá, tăng
cường sự tham gia của người học, tạo điều kiện cho người học phát triển tối đa
khả năng học tập, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.
Phương pháp dạy và học tích cực đem lại cho người học hứng thú, niềm
vui trong học tập. Việc học đối với học sinh khi đã trở thành niềm hạnh phúc sẽ
giúp các em tự khẳng định mình và nuôi dưỡng lòng khát khao sáng tạo. Như
vậy, dạy và học tích cực nhấn mạnh đến tính tích cực hoạt động của người học
và tính nhân văn của giáo dục [1].
Từ thực tế trên cho thấy, việc sử dụng phương pháp dạy và học tích cực
là rất cần thiết. Bởi thông qua mỗi bài học, học sinh có thể tự học, tự khai thác
kiến thức theo sự hướng dẫn của giáo viên một cách chủ động nhất.
Trong mỗi bài giảng, cần sử dụng các phương pháp dạy và học tích cực
khác nhau. Tuy nhiên, phương pháp dạy học và giải quyết vấn đề, dạy học theo
nhóm là được sử dụng hầu hết các bài. Và tôi đã áp dụng hai phương pháp dạy
học tích cực này để dạy bài 16: Sóng. Thuỷ triều. Dòng Biển- Địa lí 10, để giúp
học sinh có thể tự học, tự khai thác kiến thức về địa lí tự nhiên một cách hiệu
quả.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Trên thực tế, khi tôi dạy bài 16: Sóng. Thuỷ triều. Dòng biển ở các lớp

phong phú về tự nhiên, kinh tế- xã hội, mà còn giúp học sinh có những kĩ năng,
kĩ xảo cần thiết trong cuộc sống, đặc biệt là kĩ năng sử dụng bản đồ, vẽ biểu đồ,
nhận xét bảng số liệu...Vì vậy, để giúp học sinh hiểu, nắm vững kiến thức địa lí
trong mỗi bài học, thì giáo viên cần sử dụng tốt các phương pháp dạy và học tích
cực.
Đối với bài 16: Sóng. Thuỷ triều. Dòng Biển- Địa lí 10, thì sử dụng
phương pháp dạy học tích cực lại cần thiết hơn cả. Vì nếu không được hướng
dẫn cụ thể, thì học sinh không thể hiểu rõ được các khái niệm, nguyên nhân, qui
luật, biểu hiện về sóng, thuỷ triều, dòng biển.
Trong số các phương pháp dạy và học tích cực như phương pháp dạy học
đặt và giải quyết vấn đề, dạy học theo nhóm, dạy học theo hợp đồng, dạy học
theo góc, dạy học theo dự án, dạy học vi mô, thì đối với bài 16: Sóng. Thuỷ
triều. Dòng Biển, tôi lựa chọn hai phương pháp chủ yếu: Dạy học đặt và giải
quyết vấn đề, dạy học theo nhóm là phù hợp nhất và dễ dàng giúp học sinh có kĩ
năng tự học, tự khai thác kiến thức qua bài học một cách đầy đủ và chính xác
nhất.
* Đối với phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề cần tiến hành
theo các bước sau:
Bước 1: Chọn nội dung để đặt vấn đề.
3


Việc lựa chọn nội dung trong loại phương pháp đặt vấn đề là hết sức quan
trọng, bởi vì:
Nội dung được lựa chọn để đặt vấn đề phải bao hàm hai mặt của một vấn
đề.
Nội dung được lựa chọn thường phải là những phần trọng tâm của bài
học mang tính chất nhận thức cao về bản chất của vấn đề cần nhận định.
Bước 2: Đặt câu hỏi có vấn đề.
Câu hỏi trong phương pháp đặt vấn đề đưa ra phải hàm chứa các nhận

Khi đã chọn được vấn đề thảo luận đúng yêu cầu, giáo viên cần báo cho
học sinh chuẩn bị, ý kiến phát biểu của học sinh phải được ghi ra giấy. Từ đó,
học sinh sẽ ý thức được yêu cầu, nội dung của đề tài, các nguồn tài liệu chính,
phương pháp tiến hành, kế hoạch thực hiện và nhiệm vụ của tập thể cũng như
của từng cá nhân. Học sinh cần nghiên cứu sách báo và tài liệu có liên quan, nếu
cần thì phải tiến hành quan sát, tham quan các đối tượng cần thiết, phải thí
4


nghiệm, phải đàm thoại với những người có thể cung cấp những thông tin có
ích, phải thu thập hiện vật có thể minh họa khi thảo luận.
Trước khi tiến hành thảo luận, giáo viên phải kiểm tra tới từng chi tiết:
Học sinh chuẩn bị nội dung như thế nào? Tâm, thế đã sẵn sàng tham gia thảo
luận hay chưa? Các điều kiện khác đã được chuẩn bị ra sao? Ví dụ: Việc kê bàn
ghế, ánh sáng... [1].
Bước 2: Tiến hành thảo luận.
- Khi tiến hành thảo luận, giáo viên nên thông báo về chủ đề, nội dung cần
thảo luận, quy trình và thủ tục thảo luận.
- Giáo viên phân công nhóm học tập và bố trí vị trí hoạt động của nhóm
phù hợp theo thiết kế: Nhóm trưởng, thư kí và các thành viên. Tùy theo nhiệm
vụ có thể có các cách tổ chức khác nhau: Cặp hai học sinh, nhóm 3 học sinh
hoặc nhóm đông hơn 6- 10 học sinh.
Trong hoạt động nhóm, học sinh ngồi đối diện nhau để tạo ra sự tương
tác trong quá trình học tập, tránh trường hợp chia 2 dãy bàn một nhóm, học sinh
bàn sau chỉ nhìn vào lưng của học sinh bàn trước.
Nên chú ý tạo điều kiện cho tất cả học sinh đều có thể tham gia vai trò là
nhóm trưởng, thư kí qua các hoạt động, để tạo cơ hội phát triển kĩ năng học tập
và kĩ năng lãnh đạo, điều khiển cho tất cả học sinh.
- Giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm học sinh: có thể giao cho mỗi nhóm học
sinh một nhiệm vụ riêng biệt trong gói nhiệm vụ chung hoặc tất cả các nhóm

giải quyết, tránh được tình trạng thảo luận miên man ngoài lề.
- Tổ chức học sinh báo cáo kết quả và đánh giá:
Giáo viên yêu cầu mỗi nhóm sẽ hoàn thiện kết quả của nhóm và cử đại diện
nhóm báo cáo kết quả chia sẻ kinh nghiệm với nhóm khác, yêu cầu học sinh
khác lắng nghe, nhận xét, bổ sung. Giáo viên hướng dẫn học sinh lắng nghe và
phản hồi tích cực.
- Tổng kết thảo luận:
Sau khi học sinh nhận xét, phản hồi, giáo viên chốt lại kiến thức cơ bản,
tránh tình trạng giáo viên giảng lại toàn bộ các vấn đề học sinh đã trình bày làm
mất thời gian.
+ Có những ý kiến chưa thống nhất thì giáo viên có thể cho học sinh sắp
xếp thời gian, thảo luận tiếp vào giờ tự học và việc tổng kết sẽ để vào buổi thảo
luận sau.
+ Giáo viên đánh giá các ý kiến phát biểu, nhận xét về tinh thần, thái độ làm
việc chung của tập thể hoặc của nhóm, của cá nhân.
+ Cuối cùng, giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi ở cuối bài học hoặc các đề
thi học sinh giỏi, yêu cầu những học sinh có học lực khá giỏi trả lời, để học sinh
khắc sâu những kiến thức cơ bản và trọng tâm của bài học.
Như vậy, việc sử dụng phương pháp thảo luận nhóm có ý nghĩa rất to lớn.
Muốn sử dụng có hiệu quả thì cần phải thực hiện đầy đủ các bước trên. Bởi tất
cả các thao thao tác đó luôn luôn gắn bó với nhau, là những yếu tố quyết định
cho sự thành công của buổi thảo luận.
2.3.2. Tổ chức thực hiện:
Trong quá trình giảng dạy, để học sinh không bị nhàm chán, gò bó khi tiếp
thu kiến thức, thì trong mỗi bài giảng giáo viên cần tìm ra các phương pháp dạy
học tích cực, phù hợp. Ở mỗi bài lại phải lựa chọn từng phần, từng mục nên sử
dụng phương pháp nào đem lại hiệu quả cao nhất.
Với quan điểm, dạy học không phải là truyền thụ kiến thức một chiều,
thiên về lí thuyết, xa rời thực tiễn, mà dạy học phải thực sự quan tâm đến việc
hình thành thói quen tự học, tự khám phá kiến thức, phát triển tư duy, sáng tạo,

học.
- Sử dụng bản đồ các dòng biển để trình bày về các dòng biển lớn (tên, vị
trí, nơi xuất phát, hướng chảy của chúng) [6].
3. Thái độ:
- Biết được tác hại của sóng thần, biết cách làm giảm nhẹ và phòng tránh
các thiệt hại do sóng thần gây ra.
- Nhận thức được nguyên nhân sinh ra thủy triều biết được cách vận
dụng hiện tượng này trong cuộc sống.
4. Định hướng phát triển năng lực:
- Năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề, năng
lực hợp tác, năng lực giao tiếp, năng lực sử dụng công nghệ thông tin, năng lực
sử dụng ngôn ngữ.
- Năng lực chuyên biệt: Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ, năng lực
sử dụng bản đồ, tranh ảnh, năng lực khảo sát thực tế.
II. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH.
1. Chuẩn bị của giáo viên:
- Các hình trong sách giáo khoa.
- Tranh ảnh, video về sóng biển, sóng thần...
- Bản đồ các dòng biển trên thế giới.
2. Chuẩn bị của học sinh:
Sưu tầm các hình ảnh, thông tin về sóng biển, sóng thần, hiện tượng thuỷ
triều, dòng biển ở Việt Nam và trên thế giới.
III. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP.
1. Ổn định lớp: (1 phút)
2. Kiểm tra bài cũ: (5 phút)
Câu 1: Trình bày các vòng tuần hoàn của nước trên Trái Đất.
Câu 2: Trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến chế độ nước sông.
3. Tiến trình bài học:
7


Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm. Các nhóm đọc SGK
và quan sát các hình ảnh, vi deo trên màn hình do GV
trình chiếu để trao đổi các nội dung sau:
- Nhóm 1: Sóng là gì ? Nguyên nhân gây ra sóng?
(Quan sát hình 1, vi deo về sóng biển).
- Nhóm 2: Thế nào là sóng bạc đầu ?
(Quan sát hình 2)
- Nhóm 3: Thế nào là sóng thần ? Nguyên nhân gây ra
sóng thần và hậu quả của nó?
(Quan sát hình 3, hình 4 và hình 5 và vi deo về sóng
thần)
- Nhóm 4: Mô tả đôi nét về sóng thần
Bước 2:
- Các nhóm tiến hành thảo luận các nội dung trên trong
thời gian 3 phút.
- GV quan sát, theo dõi học sinh thảo luận.
- Đại diện học sinh các nhóm lên trình bày. Các học
sinh khác theo dõi, nhận xét về trình bày
của bạn.
9


Bước 3.
1. Khái niệm:
Giáo viên chuẩn xác kiến thức và bổ sung các câu hỏi Sóng biển là hình
sau:
thức dao động của
- Em biết gì về đợt sóng thần gần đây nhất của nhân loại nước biển theo chiều
và những hậu quả của nó ?
thẳng đứng.

-Phương pháp/Kĩ thuật: Đặt và giải quyết vấn đề..
- Hình thức tổ chức hoạt động: Cá nhân/ Cả lớp.
- Phương tiện dạy học: Hình ảnh, các hình trong sách giáo khoa: hình 16.1,
16.2, 16.3 [10].

Hình 6: Thuỷ triều lên- xuống.
10


Hình 16.1- SGK- chu kì tuần trăng.

Hình 16.2 và 16.3- SGK.

11


Hình 7- Giao thông vận tải.

Hình 8- Đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản

Hình 9- Sản xuất điện

Hình 10- Làm muối
12


Hình 11- Năm 938, Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch
Đằng nhờ lợi dụng chu kì lên xuống của thủy triều.

Hình 12- Các tuyến đường giao thông ở Thành phố Hồ Chí Minh bị nhập nước

Giáo viên chuẩn xác kiến thức và hướng dẫn học dương.
sinh trả lời các câu hỏi sau:
2. Nguyên nhân:
- Nghiên cứu về thuỷ triều có ý nghĩa như thế Do sức hút của Mặt Trăng,
nào đối với sản xuất và quân sự?
Mặt Trời.
+ Đối với sản xuất: Hoạt động giao thông vận 3. Đặc điểm:
tải, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản, làm - Khi Mặt Trời, Mặt Trăng
muối, sản xuất điện...(Hình 7,8,9,10)
và Trái Đất cùng nằm trên
+ Trong lĩnh vực quân sự : Liên hệ năm 938, Ngô một đường thẳng thì dao
Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch động thuỷ triều lớn nhất
Đằng nhờ lợi dụng chu kì lên xuống của thủy
(triều cường).
triều (Hình 11)
=> Lúc đó ở trái đất sẽ
Tuy nhiên, thủy triều cũng có những ảnh hưởng nhìn thấy mặt trăng ở vị trí
không tốt, chẳng hạn như việc triều đã làm ngập số 1 (không trăng) và vị trí
úng ở thành phố Hồ Chí Minh (Hình 12).
số 3 (trăng tròn).
Bước 4.
- Khi Mặt Trời, Mặt Trăng
- HS tự đánh giá kết quả làm việc của mình.
và Trái Đất nằm vuông góc
- GV đánh giá cho từng HS khi trả lời.
với nhau thì dao động thuỷ
Chuyển ý: Khi nhắc đến khái niệm “dòng sông” triều nhỏ nhất (triều kém).
chúng ta sẽ hình dung ngay đến những dòng sông => Lúc đó ở trái đất sẽ
xinh đẹp ở lục địa, hôm nay chúng ta sẽ được tìm nhìn thấy mặt trăng ở vị trí
hiểu những "dòng sông” không chảy trên lục địa số 2 (trăng khuyết) và vị trí

Bắc
Nóng
Nhóm 2: Hoàn thành phiếu học tập số 2
Bán Tính chất
Tên
Nơi xuất
Hướng
cầu dòng biển
gọi
phát
chảy
Bắc
Lạnh
Nhóm 3: Hoàn thành phiếu học tập số 3
Bán Tính chất Tên
Nơi xuất
Hướng chảy
cầu dòng biển
gọi
phát
Nam
Nóng
Nhóm 4: Hoàn thành phiếu học tập số 4
Bán
Tính chất
Tên Nơi xuất
Hướng
cầu
dòng biển
gọi

hai bên đường xích
đạo
chảy
theo
hướng Tây, gặp lục
địa chuyển hướng
chảy về cực.
- Dòng biển lạnh:
Xuất phát từ vĩ
tuyến 30 - 400 gần
bờ đông các đại
dương chảy về xích
đạo.
Dòng biển nóng,
15


- Các học sinh khác theo dõi, nhận xét về trình bày của
bạn.
Bước 3.
Giáo viên chuẩn xác kiến thức và hướng dẫn học sinh trả
lời các câu hỏi sau:
- Tác động của dòng biển nóng, lạnh đối với khí hậu ven
bờ nơi nó chảy qua?
GV: Dòng nóng kết hợp với gió gây mưa lớn, dòng lạnh
kết hợp với gió gây nghịch nhiệt làm thời tiết khô hơn,
giáo viên liên hệ với thời tiết khu Đông Bắc vào mùa
Đông của Việt Nam với thời tiết lạnh khô.
- Chứng tỏ các dòng biển thường chảy đối xứng qua 2
bên bờ đại dương? Rút ra kết luận về quy luật dòng biển

theo mùa.

IV.TỔNG KẾT VÀ HƯỚNG DẪN HỌC TẬP (5 phút)
1. Tổng kết:
GV đưa ra các câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra kiến thức của học sinh.
Câu 1. Sóng biển là
A. hình thức dao động của nước biển theo chiều thẳng đứng.
B. hình thức dao động của nước biển theo chiều nằm ngang.
C. hình thức chuyển động của nước biển theo chiều thẳng đứng.
D. quá trình chuyển động của nước biển theo chiều thẳng đứng [10].
Câu 2. Nguyên nhân chủ yếu tạo nên sóng là
A. núi lửa phun dưới biển.
B. động đất.
C. gió.
D. dòng biển [10].
Câu 3. Dao động thủy triều lớn nhất khi
A. Mặt Trăng, Mặt Trời, Trái Đất nằm trên cùng một mặt phẳng.
B. Trái Đất ngả bán cầu Bắc về phía Mặt Trời.
C. Mặt Trăng, Mặt Trời, Trái Đất nằm thẳng hàng.
D. Trái Đất nằm ở vị trí gần Mặt Trời nhất [10].
Câu 4. Đặc điểm nào sau đây đúng với dòng biển nóng?
A. Xuất phát ở những khu vực gió mùa.
B. Xuất phát từ các vùng cực chảy về phía xích đạo.
C. Xuất phát từ 30-40 vĩ độ chảy về xích đạo.
D. Xuất phát từ 2 bên xích đạo, chảy về cực [10].
Câu 5: Các dòng biển lạnh thường
A. xuất phát ở vĩ độ 30-40 chảy về phía xích đạo.
16



5. Dòng biển Bắc xích đạo.
Lạnh 1.Dòng biển Califonia
Khoảng vĩ Men theo bờ
2. Dòng biển Labrado
tuyến 30Tây của các đại
0
3. Dòng biển Canary.
40 B hoặc dương chảy về
4. Dòng biển Oiasivo
từ cực
xích đạo
1. Dòng biển Brazil.
Xích đạo
Chảy về hướng
Nóng 2. Dòng biển Mozambich.
Tây,khi gặp lục
3. Dòng biển Đông Úc.
địa thì chuyển
4. Dòng biển Nam xích đạo.
hướng về phía
Nam
Nam cực.
Lạnh 1. Dòng biển theo gió Tây.
Khoảng vĩ Chảy về phía
2. Dòng biển Peru
tuyến 30xích đạo
0
3. Dòng biển Benghela.
40 Nam
4. Dòng biển Tây Úc.

- Thông qua việc nghiên cứu đề tài còn là tư liệu cần thiết cho đồng
nghiệp tham khảo.
- Tổ nhóm chuyên môn có thể dự giờ, đánh giá, cùng trao đổi chuyên môn
để rút ra kinh nghiệm cần thiết trong quá trình dạy và học.
Đối vói Nhà trường:
Khi giáo viên áp dụng tốt các phương pháp dạy học tích cực này, sẽ giúp
cho chất lượng giáo dục của Nhà trường được nâng cao.
. Đối với học sinh:
- Sử dụng một số phương pháp dạy học tích cực sẽ giúp học sinh biết
cách tự học, tự khai thác kiến thức qua việc hướng dẫn của giáo viên, học sinh
sẽ phát huy được tính sáng tạo, chủ động trong việc lĩnh hội tri thức, bỏ được
thói quen học thụ động,
- Học sinh ngoài việc tự học còn biết trao đổi thảo luận với bạn trong
nhóm, trên lớp, đề xuất ý kiến, biết quản lí thời gian khi hoạt động nhóm, tự tin
khi trình bày một vấn đề địa lí.
- Học sinh được giải trí với các câu thơ, bài hát, những câu hỏi đố vui mà
các bạn và cô giáo cung cấp.
- Giờ học trở nên nhẹ nhàng nhưng khắc sâu được kiến thức, học sinh
thuộc bài tại lớp.
Từ chỗ không thích học thì nay nhiều em đã hăng say, hứng thú học tập và
xung phong trả lời các câu hỏi phát vấn mỗi khi giáo viên đưa ra.
Do đó, khi kiểm tra khảo sát thực tế ở 2 nhóm lớp khối 10 khi dạy bài 16:
Sóng. Thuỷ triều. Dòng biển, bằng phương pháp truyền thống và phương pháp
dạy học tích cực, thì kết quả có sự khác nhau: Nhóm lớp sử dụng phương pháp
dạy học tích cực (10A2, 10A3), thì số học sinh khá, giỏi chiếm tỉ lệ cao hơn; còn
nhóm lớp sử dụng phương pháp truyền thống (10A7, 10A9), số học sinh trung
bình và yếu chiếm tỉ lệ còn nhiều.
Lớp 10A2, 10A3: Sử dụng phương pháp dạy học tích cực.
Lớp 10A7, 10A9: Sử dụng phương pháp truyền thống.
*Kết quả khảo sát cụ thể như sau:

Qua quá trình giảng dạy tại trường THPT Vĩnh Lộc, bản thân tôi đã rút ra
được những bài học bổ ích, những kinh nghiệm quý báu từ việc “Sử dụng một
số phương pháp dạy học tích cực để hướng dẫn học sinh tự học, tự khai thác
kiến thức trong bài 16: Sóng. Thuỷ triều. Dòng biển- Địa lí 10”.
Bởi thông qua đó, bước đầu đã hình thành cho các em tính tự lực trong
việc lĩnh hội tri thức, tạo điều kiện cho các em học cách chia sẻ, giúp đỡ và tôn
trọng lẫn nhau, tăng cường sự tham gia và nâng cao hiệu quả học tập.
Qua việc nghiên cứu đề tài, còn giúp cho bản thân và các thầy cô giáo
giảng dạy bộ môn Địa lí có thể ứng dụng ngay trong các bài giảng.
3.2. Kiến nghị:
Đối với Sở GD và ĐT:
Tăng cường các lớp tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học để giáo
viên áp dụng vào giảng dạy đạt hiệu quả cao.
Đối với Nhà trường:
Trong điều kiện Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, việc sử dụng một
số phương pháp dạy học tích cực là rất cần thiết. Để thực hiện tốt được các
phương pháp này trong mỗi bài giảng thì cần phải có đủ cơ sở vật chất, thiết bị
cần thiết để phục vụ bài giảng. Do vậy, Nhà trường cần trang bị thêm các
phương tiện, thiết bị, đồ dùng dạy học...để tạo điều kiện tốt hơn nữa cho giáo
viên trong việc thực hiện phương pháp này.
Đối với giáo viên:
- Phải thực sự có tinh thần trách nhiệm cao trong việc dạy học, luôn yêu
nghề và hết lòng với công việc được giao.
- Phải đầu tư thời gian cho bài soạn để các hoạt động trong tiết dạy đạt
được mục tiêu của bài học.
- Phải biết vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực trong
từng bào, từng phần để hướng dẫn học sinh tự học, tự khai thác kiến thức qua
bài giảng.
- Bản thân luôn phải có ý thức học hỏi, không ngừng nâng cao trình độ
chuyên môn để đáp ứng được yêu cầu dạy học trong thời đại mới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status