MỤC LỤC
Trang
I- MỞ ĐẦU
1
1.1. Lí do chọn đề tài
1
1.2. Mục đích nghiên cứu
1
1. 3. Đối tượng nghiên cứu
2
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2
II- NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
3
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
3
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
4
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
4
2.3.1. Dạng 1: Bài tập xác định loại peptit, hoặc số liên kết peptit
5
trong phân tử peptit tạo bởi các gốc α - amino axit có một nhóm amino
và một nhóm cacboxyl
2.3.2. Dạng 2: Bài tập định lượng các chất trong phản ứng thủy phân
6
hoặc đốt cháy hoàn toàn một peptit tạo nên từ một loại gốc α - amino
axit no, mạch hở có một nhóm amino và một nhóm cacboxyl
2.3.3. Dạng 3: Bài tập định lượng các chất trong phản ứng thủy phân
9
hoặc đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp peptit đều tạo nên từ các gốc α amino axit no, mạch hở có một nhóm amino và một nhóm cacboxyl
phương trình hoá học tính số mol của các chất còn lại từ đó tính được các đại
lượng theo yêu cầu của bài. Nhưng đối với nhiều dạng bài tập, nếu học sinh
không nắm được bản chất của các phản ứng thì việc giải bài toán sẽ gặp rất
nhiều khó khăn và thường là giải sai. Trong những năm gần đây, các bài toán về
peptit xuất hiện trong các đề thi Đại học, Cao đẳng, Trung học phổ thông Quốc
gia...., thường ở mức độ rất khó, gây ra nhiều khó khăn, trở ngại cho học sinh.
Khi bắt tay vào giải bài tập peptit thì học sinh và ngay cả các thầy cô thường
chóng mặt với những bài tập dường như phải biện luận, suy nghĩ rất nhiều để tạo
ra một bài giải đúng, chuẩn và hợp lí, vì thế các em thường hay bỏ qua dạng
toán này.
“Đồng đẳng hóa” là phương pháp hay và linh hoạt, có thể coi là điểm mạnh
trong việc xử lí một số dạng toán Hữu cơ, trong đó có nhiều bài tập về peptit,
mới xuất hiện trong năm 2015 do bạn Nhật Trường (Sinh viên Trường Đại học Y
Dược thành phố Hồ Chí Minh) đã soạn ra và hiện tại cũng rất ít tài liệu đi sâu
giới thiệu về phương pháp này. Tuy cơ sở của nó là một phương pháp không hề
mới, nhưng phát triển sâu rộng các vấn đề của nó mang lại có thể giúp ích rất
nhiều cho các bạn học sinh yêu thích bộ môn Hóa học. Khi học sử dụng phương
pháp “Đồng đẳng hóa”, ta có thể tìm thấy được những con đường dẫn đến mấu
chốt giải bài toán rất hay và đơn giản mà không cần phải biện luận quá phức tạp.
Trên cơ sở những hiểu biết và khả năng của bản thân, tôi đã thực hiện việc
“Hướng dẫn sử dụng phương pháp đồng đẳng hóa để giải nhanh một số
dạng bài tập trắc nghiệm về peptit” nhằm giúp các em học sinh tiếp cận gần
hơn với peptit, từ đó hình thành trong các em khả năng tư duy khoa học khi học
tập môn Hoá học nói riêng và các môn học khác nói chung nhằm nâng cao chất
lượng dạy học.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Peptit là chuyên đề khá mới ở bậc phổ thông, nghiên cứu bài học trong sách
giáo khoa xong, ta rất khó tổng hợp được kiến thức và vận dụng để giải bài tập.
Thông thường, toán về peptit luôn là đề tài “khó nuốt” với các thí sinh trong các
kì thi. Hướng giải quyết chúng sao cho đơn giản luôn là mối bận tâm hàng đầu
Kĩ năng giải toán hoá học chỉ được hình thành khi học sinh nắm vững lí
thuyết, nắm vững các kiến thức về tính chất hoá học của chất, biết vận dụng kiến
thức vào giải bài tập. Học sinh phải hình thành được một mô hình giải toán, các
bước để giải một bài toán, kèm theo đó là phải hình thành được ở bản thân thói
quen phân tích đề bài và định hướng được cách làm, đây là một kĩ năng rất quan
trọng đối với việc giải một bài toán hóa học. Do đó, để hình thành được kĩ năng
giải nhanh các bài tập về peptit thì ngoài việc giúp học sinh nắm được bản chất
của các phản ứng giáo viên còn phải hình thành cho học sinh một phương pháp
giải nhanh, bên cạnh đó rèn luyện cho học sinh tư duy định hướng khi đứng
trước một bài toán và khả năng phân tích đề bài. Một trong số các phương pháp
mà tôi đã nghiên cứu, thực hiện trong quá trình giảng dạy ở phần peptit rất hiệu
quả được trình bày trong khuôn khổ sáng kiến này là “Phương pháp đồng đẳng
hóa” áp dụng giải một số dạng bài tập trắc nghiệm về peptit được tạo nên từ các
gốc α-amino axit no, mạch hở chứa một nhóm -NH2 và một nhóm -COOH
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu
sau: Nghiên cứu cơ sở lí luận, tổng hợp kiến thức, đưa ví dụ minh họa và vận
dụng vào bài tập, thực nghiệm sư phạm.
3
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Để giải được một bài toán hoá học thì điều đầu tiên chúng ta cần phải nắm
vững được phương trình của các phản ứng xảy ra. Đối với các dạng bài tập liên
quan đến phản ứng thủy phân và đốt cháy hoàn toàn peptit thì để viết được
phương trình hoá học chính xác, học sinh phải nắm được công thức của peptit,
hiểu được bản chất của phản ứng nghĩa là phản ứng diễn ra trong điều kiện nào,
có sự tham gia của môi trường hay không và tạo ra những sản phẩm gì. Phân tử
như Ala, Val,... thì chúng ta sẽ thêm vào đó một số nhóm CH 2, khi đó công thức
của peptit có dạng (C2H3ON)n.H2O (CH2)k . Với hỗn hợp peptit đều được tạo nên
từ các gốc α-aminoaxit no, mạch hở, chứa 1 nhóm –NH 2 và 1 nhóm –COOH thì
2
3
4
ta có thể quy đổi thành C2H3ON (a mol), CH2 (b mol), H2O (c mol). Sự đơn giản
của công thức giúp cho việc xử lí các dạng bài tập linh hoạt và dễ dàng hơn.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Trong Sách giáo khoa Hóa học 12 (cả nâng cao và cơ bản) chỉ viết phương
trình tổng quát cho phản ứng thủy phân peptit trong môi trường axit và cũng
không đề cập đến phản ứng đốt cháy; trong khi các bài tập về peptit lại chủ yếu
xét đến hai loại phản ứng này, làm cho nhiều giáo viên và học sinh lúng túng.
Do vậy, nhiều bài tập về peptit trong các đề thi học sinh thường không làm được
hoặc bỏ qua vì thấy phức tạp nhưng thực tế, nếu hiểu rõ bản chất và sử dụng
phương pháp giải phù hợp thì việc giải quyết trở nên đơn giản hơn.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
Phản ứng thủy phân hoàn toàn peptit tạo ra từ một loại gốc α-amino axit no,
mạch hở chứa một nhóm NH2 và một nhóm COOH theo phương trình tổng quát
sau:
- Khi đun nóng trong môi trường axit (thường dùng HCl):
[NH2-R-COOH]n(1-n)H2O + (n-1)H2O + nHCl → nNH3Cl-R-COOH
- Khi đun nóng trong môi trường bazơ (thường dùng NaOH hay KOH):
[NH2-R-COOH]n(1-n)H2O + nNaOH → nNH2-R-COONa + H2O
[NH2-R-COOH]n(1-n)H2O + nKOH → nNH2-R-COOK + H2O
Phản ứng đốt cháy peptit tạo ra từ một loại gốc α-amino axit no, mạch hở
liên hệ:
- Phản ứng thủy phân trong môi trường axit:
n H O = (n-1) n X
n HCl = n. n X
2
5
n n
H O
n-1
- Phản ứng thủy phân trong môi trường bazơ:
n NaOH = n. n X ( n KOH = n. n X )
nH O = nX
Khi đốt cháy peptit tạo ra từ một loại gốc α-amino axit no, mạch hở chứa một
nhóm -NH2 và một nhóm -COOH với phương pháp đồng đẳng hóa, ta chỉ cần
thiết lập sơ đồ các mối liên hệ số mol các chất:
CO2 : 2n.a + n.x
(C2 H3ON) n .H 2 O : a O2 H 2 O : 1,5n.a + n.x.a
X
→
(CH
)
:
a
2 nx
N 2 : 0,5n.a
Sự đơn giản về phương trình phản ứng và thiết lập các mối liên hệ trong khi sử
dụng phương pháp trên không chỉ giúp chúng ta có được công thức chung để áp
dụng khi tính toán, tạo nên một “lối mòn” trong tư duy để định ra hướng giải
cho các dạng bài chỉ xét với một peptit mà còn vận dụng cho các dạng bài liên
quan đến hỗn hợp peptit đều được tạo bởi các gốc α-amino axit no, mạch hở,
chứa 1 nhóm -NH2 và 1 nhóm -COOH. Nhận định trên sẽ được sáng tỏ qua các
ví dụ trong một số dạng toán về peptit sau:
2.3.1. Dạng 1: Bài tập xác định loại peptit, hoặc số liên kết peptit trong
phân tử peptit tạo bởi các gốc α - amino axit có một nhóm amino và một
nhóm cacboxyl:
→ n HCl =
2
2
2
2
2
2
2
2
2
2.0,1n.40 - 0,1.18 = 78,2 → n = 10 → Sốliên kết peptit bằng 10-1=9 → Đáp án A
Ví dụ 2: Cho một peptit X được tạo nên bởi n gốc glyxyl và m gốc alanyl có
khối lượng phân tử là 274 đvC. Peptit X thuộc loại:
A. tripetit
B. đipetit
C. tetrapeptit
D. pentapepit
Cách 1 (Cách giải thường dùng):
X + (n + m-1)H2O → nGly + mAla
Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng, ta có:
274 + (n + m-1)18 = 75.n + 89.m
→ 57n + 71m = 256.
Lập bảng biện luận:
n
1
2
3
4
m
2,8
2
1,2
0,4
Chỉ có cặp n=2, m=2 thỏa mãn. Vậy X là tetrapeptit → Đáp án C.
Cách 2 (Sử dụng phương pháp đồng đẳng hóa):
X có dạng (C2H3ON)n+m.H2O (CH2)m
→ 57n + (57 + 14)m + 18 = 274
Lập bảng biện luận:
n
1
→ m H O = 16,29 gam.
4
Từ phản ứng → n HCl = n H O
3
4
mmuối = m X + mHCl= 159,74 + .0,905 .36,5 = 203,78 gam → đáp án D.
3
Cách 2 (Sử dụng phương pháp đồng đẳng hóa):
159,74 −143,45
Theo bảo toàn khối lượng: n H O =
= 0,905 mol
18
4 4 n
→ n HCl =
=
H O
4 −1 3
→ m H O = 0,905.18=16,29 gam.
4
→ mmuối = 143,45 + 0,905.18 +
.0,905 .36,5 = 203,78 gam
3
Ví dụ 2: (Trích từ đề thi tuyển sinh Đại học khối B- 2010): Đipeptit mạch hở
X và tripeptit mạch hở Y đều được tạo ra từ một loại amino axit no, mạch hở có
một nhóm -NH2 và một nhóm -COOH. Đốt cháy hoàn toàn 0,1 mol Y thu được
sản phẩm gồm CO2, H2O và N2 trong đó tổng khối lượng CO 2 và H2O bằng 54,9
gam. Nếu đốt cháy hoàn toàn 0,2 mol X, sản phẩm thu được cho lội qua dung
dịch nước vôi trong dư thì thu được m gam kết tủa. Giá trị của m là:
A. 45.
B. 120.
2
2
2
2
2
8
(C2 H3ON) 2 .H 2 O : 0, 2 O2
X
→{ CO 2 : 0,2(4 + 2x ) = 1,2
(CH
)
:
0,
2
2 2x
n CaCO = n CO = 1,2 mol
→ m= 1,2.100 = 120 gam→ đáp án B.
Ví dụ 3 (Trích từ đề thi tuyển sinh Đại học khối B- 2012): Đun nóng m gam
hỗn hợp gồm a mol tetrapeptit mạch hở X và 2a mol tripeptit mạch hở Y với 600
ml dung dịch NaOH 1M vừa đủ. Sau khi các phản ứng kết thúc, cô cạn dung dịch
thu được 72,48 gam muối khan của các amino axit đều có một nhóm -COOH và
một nhóm -NH2 trong phân tử. Giá trị của m là:
Do vậy ta có CT gộp lại của X,Y tương ứng là: C3nH6n – 1O4N3(X) ,
C4nH8n – 2O5N4(Y).
Phản ứng cháy X:
C3nH6n – 1O4N3 + pO2 → 3nCO2 + (3n-0,5)H2O + N2
0,1mol
0,3n(mol) 0,3(3n-0,5)mol
Ta có phương trình tổng khối lượng H2O và CO2 :
0,3[44.n + 18. (3n-0,5)] = 36.3 ⇒ n = 2
Phản ứng cháy Y: C4nH8n – 2 O5N4 + pO2 → 4nCO2 + (4n-1)H2O + N2
0,2mol
0,2.p
0,8n
(0,8n -0,2)
Áp dụng BT nguyên tố O :
0,2.5+ 0,2.2p = 0,8.2.2 +(0,8.2 - 0,2) ⇒ p = 9 ⇒ nO2 = 9.0,2 = 1,8mol
→ đáp án B.
Cách 2 (Sử dụng phương pháp đồng đẳng hóa):
Khi đốt cháy 0,1 mol X:
3
2
9
(C 2 H 3ON)3 .H 2 O : 0,1 O2 CO 2 : 0,1(6 + 3x)
X
→
(CH
)
A.2:3
B.3:1
C.1:3
D.3:2.
Giải
Cách 1 (Sử dụng phương pháp tạo lập đipeptit):
n O = 44,352: 22,4 =1,98 mol, n N = 4,928 : 22,4= 0,22 mol
E + O2 → CO2 + H2O + N2
mCO2 + mH2O = 92,96 gam
Quy đổi peptit thành đipeptit:
E + H2O → CnH2nN2O3
→ CO2 + H2O + N2
Đốt E : E + O2
1,98 mol
92,96 gam
Đốt đipeptit:
→
CnH2nN2O3 + O2
CO2 + H2O + N2
0,22 mol
1,98 mol
x mol
x mol
0,22 mol
BT oxi => x = 1,54 mol
→ 1,54. 44 + 18 nH2O = 92,96 => nH2O = 1,4 mol
E + H2O → Ala(C3H7NO2) + Val(C5H11NO2)
a mol
b mol
=> 3a + 5b = 1,54 (Bảo toàn C) và a + b = 0,44 (Bảo toàn N)
Ta có:
0,5x = 0,22
44.(2x + y) + 18.(1,5x + y + z) = 92,96
x + z + 2.1,98 = 2(2x + y) + 1,5x + y + z
→ x = 0,44; y = 0,66; z= 0,08
Áp dụng định luật bảo toàn N và C trong các nhóm CH2 ta có:
a + b = 0, 44
a + 3b = 0, 66
→ a = 0,33; b = 0,11 → a:b = 3:1 → đáp án B.
Ví dụ 2: Thủy phân hoàn toàn m gam hỗn hợp E gồm hai peptit mạch hở X
và Y bằng dung dịch NaOH thu được 9,02 gam hỗn hợp gồm các muối của Gly,
Ala, Val. Mặt khác nếu đốt cháy hoàn toàn m gam E thì cần 7,056 lít O 2 (đktc),
thu được 4,32 gam H2O. Giá trị của m là:
A.6,36.
B.7,36.
C. 4,36.
D. 3,36.
(Chuyển thể từ đề thi HSG lớp 12 Tỉnh Thanh Hóa - Năm 2016)
Bài tập này tôi tham khảo trên mạng Internet và sau đây các cách giải mà tác
giả đưa lên đã giới thiệu:
Hướng tư duy 1: Sử dụng giá trị trung bình.
Gọi công thức trung bình của hai peptit là: CnH2n+2-tOt+1N t
CnH2n+2-tOt+1N t +tNaOH
nCO2 +nN2 -nH2O =(t-1)n
1 2 3E
2nN2 -nE
→ nO2 =1,5(nH2O -nE )
BT.O:
n
+
2n
=
2n
+
n
O2
CO2
H2O
{O(E)
2nN2 +nE
nO2 =1,5(nH2O -nE ) → nE =0,03mol
{
{
0,315
0,24
E
m+80b=9,02+0,54
m=6,36 gam
BTKL(1),(2)
→
→
m+10,08=9,24+44b+4,32+28b b=0,04 mol
Hướng tư duy 3: Quy đổi E thành đipeptit:
2E k +(k-2)H2O
→ kCnH2nO3N 2 + O2
→ CO2 +H 2O(1)
{
{
{
1 42 43
0,315 mol
a mol
an mol
an mol
→ 3a+0,63=3an (I)
Muối là C0,5nHnO2NNa(2a mol) → mmuối = 2a(7n+69)= 9,02(II)
a=0,04
(I), (II)
→ CO2 + H2O +N 2 (1)
+ O
{2
{
H2O (y mol)
0,315 mol
0,24 mol
Muối là CnH2n+1O2NNa (x mol)
BT.H: 2xn+x+2y=0,48(I)
+
BT.C,O: 2x+y+0,315.2=2xn+0,24(II)
+ mmuèi =x(14n+69)=9,02 (III)
(I),(II),(III)
→ n=3,125; x=0,08; y=-0,05 → m=mCnH2n+1O2N + mH2O = 6,36gam
{
1 4 2 43
0,08(14.3,125 + 47)
−0,05.18
Hướng tư duy 5: Quy đổi E thành gốc aminoaxit và H2O.
C H ON (x mol)
E
→ n 2n-1
→ CO2 + H2O +N 2 (1)
+ O
{2
{
NaOH
E CH 2 : b
→Q 2 4 2
CH 2 : b
H O : c
2
C 2 H 3 O 2 N : a
CO 2 : 2a + b
O2
E CH 2 : b
→
H 2O :1,5a + b + c
H O : c
2
Ta có :
97a +14b = 9,02
2
2
1,5a + b + c = 0,24
a + c + 2.0,315 = 2.(2a + b) +1,5a + b + c
C. 7,0.
D. 7,5.
Giải
n N = 0,84 : 22,4 = 0,0375 mol
Na 2 CO3 : 0,5a
C2 H 3ON : a
C2 H 4 O 2 NaN : a O2 CO2 :1,5a + b
NaOH
M CH 2 : b
→ Q
→
CH
:
b
2
H O : c
H 2 O : 2a + b
2
N 2 : 0,5a
+O2
→ M
→ H2O : 1,5a + b + c
Ta có:
2
0,5a = 0,0375
NaOH
M CH 2 : b
→ Q
→
CH
:
b
2
H O : c
H 2 O : 2a + b
2
N 2 : 0,5a
0,5a = 0,0375
2
44.(1,5a + b) +18.(2a + b) =13,23
c = 0,03
→ a = 0,075; b = 0,09; c = 0,03
m = 57.0,075 + 14.0,09 + 18.0,03 = 6,075 (gam) → chọn đáp án C
14
Ví dụ 5: Thủy phân m gam hỗn hợp X gồm 1 tetrapeptit A và 1 pentapeptit
N 2 : 0,5a
0,5a = 0,22
2
44.(1,5a + b) +18.(2a + b) = 56,04
97a + 14b - ( 57a +14b +18c) =15, 8
→ a = 0,44; b = 0,18; c = 0,1
- Ta có: n Ala = b = 0,18 mol; n Gly = a – b = 0,44 – 0,18 = 0,26 mol
- Xét hỗn hợp X:
n A + n B = c
n A + n B = 0,1
n A = 0, 06 mol
→
→
4n A + 5n B = a 4n A + 5n B = 0, 44 n B = 0, 04 mol
- Gọi peptit A và B lần lượt là
(Gly)x (Ala)4−x và (Gly)y (Ala)5−y (ví i x < 4 vµ y
C. 31,12 gam
D. 42,12 gam
Câu 4. Thủy phân hoàn toàn 75,6 gam hỗn hợp hai tripeptit thu được 82,08
gam hỗn hợp X gồm các aminoaxit chỉ có một nhóm amino và một nhóm
cacboxyl trong phân tử. Nếu cho 1/2 hỗn hợp X tác dụng với dung dịch H 2SO4
loãng, dư rồi cô cạn cẩn thận dung dịch, thì lượng muối khan thu được là:
A. 54,27 gam
B. 108,54 gam C. 135.00 gam
D. 67,50 gam
Câu 5. X và Y lần lượt là các tripeptit và tetrapeptit được tạo thành từ cùng một
amino axit no mạch hở, có một nhóm -COOH và một nhóm -NH 2. Đốt cháy hoàn
toàn 0,1 mol Y thu được sản phẩm gồm CO2, H2O, N2, trong đó tổng khối lượng của
CO2 và H2O là 47,8 gam. Nếu đốt cháy hoàn toàn 0,3 mol X cần bao nhiêu mol O2?
A. 2,8 mol
B. 2,025 mol C. 3,375 mol D. 1,875 mol
Câu 6. X và Y lần lượt là các tripeptit và hexapeptit được tạo thành từ cùng
một amoni axit no mạch hở, có một nhóm –COOH và một nhóm –NH 2. Đốt cháy
hoàn toàn 0,1 mol X bằng O2 vừa đủ thu được sp gồm CO2, H2O và N2 có tổng
khối lượng là 40,5 gam. Nếu cho 0,15 mol Y tác dụng hoàn toàn với NaOH (lấy
dư 20%), sau phản ứng cô cạn dd thu được bao nhiêu gam chất rắn?
A. 9,99 gam
B. 87,3 gam
C. 94,5 gam
D. 107,1 gam
Câu 7. Đipeptit mạch hở X và tripeptit mạch hở Y đều được tạo nên từ
một aminoaxit (no, mạch hở, trong phân tử chứa một nhóm -NH 2 và một
nhóm -COOH). Đốt cháy hoàn toàn 0,15 mol Y, thu được tổng khối lượng CO 2
và H2O bằng 82,35 gam. Đốt cháy hoàn toàn 0,1 mol X, sản phẩm thu được cho
lội từ từ qua nước vôi trong dư, tạo ra m gam kết tủa. Giá trị của m là:
A. 40
C. 2,806
D. 1,806
Đáp án
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
A
B
A
D
B
C
C
D
C
B
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường:
- Nhìn chung, học sinh có ý thức học tập tốt, có hứng thu khi làm bài tập.
- Kết quả thu được cao hơn năm trước, học sinh có thể vận dụng để giải quyết
các dạng bài tập nâng cao.
- Học sinh có mong muốn có thật nhiều chuyên đề thực hành, vận dụng nhằm
ôn tập có hiệu quả chương trình ôn thi THPT Quốc gia.
Trung bình
Yếu
SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%)
2
4,9%
12
29,27% 22
53,66% 5
12,17%
Các kết quả thực nghiệm sư phạm trên cho thấy, chất lượng học tập của học
sinh lớp thực nghiệm cao hơn chất lượng học sinh lớp đối chứng, điều đó thể
hiện ở các điểm chính:
+ Tỉ lệ % học sinh trung bình và yếu kém của lớp thực nghiệm thấp hơn so
với lớp đối chứng.
+ Tỉ lệ % học sinh đạt khá, giỏi của lớp thực nghiệm cao hơn so với với lớp
đối chứng.
Như vậy, có thể khẳng định rằng: Kinh nghiệm trên có tác dụng tới việc nâng
cao chất lượng học tập của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đổi
mới phương pháp dạy học của giáo viên và nhà trường.
17
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Sau khi đã hoàn chỉnh đề tài “Hướng dẫn sử dụng phương pháp đồng đẳng
hóa để giải nhanh một số dạng bài tập trắc nghiệm về peptit”, tôi đã photo
một số bản, phát cho các giáo viên trong tổ và các học sinh lớp 12 chưa được
tiếp cận với đề tài xin ý kiến nhận xét và tôi đã nhận được rất nhiều ý kiến hay,
hoạt khéo léo của mỗi người mà ta sẽ biết cách ứng dụng nó như thế nào để thật
hiệu quả.
2.2. Đối với các cấp quản lí giáo dục:
- Cần tăng cường khuyến khích viết đề xuất sáng kiến kinh nghiệm các cấp,
ứng dụng, triển khai rộng rãi những sáng kiến về “đồng đẳng Hóa”, peptit vào
thực tế dạy học.
- Sở Giáo dục và Đào tạo cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn các chuyên
đề về dạy học các môn học nói chung, môn Hóa học nói riêng để bổ sung kiến
thức, cập nhật những kĩ thuật phương pháp mới cho giáo viên, tạo điều kiện cho
18
giáo viên giao lưu, học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp nhằm nâng cao chuyên
môn; làm tốt công tác thi đua khen thưởng để khuyến khích giáo viên sáng tạo
trong quá trình dạy học nói riêng.
Một vài kinh nghiệm nhỏ trên đây xuất phát từ sự khó khăn của học sinh và
nhu cầu muốn tổng hợp, bổ sung để cho công việc giảng dạy ngày càng đạt hiệu
quả cao hơn nhưng đây cũng chỉ mới là kết quả bước đầu còn khiêm tốn và hạn
chế, rất mong được sự đóng góp ý kiến thêm của các quý thầy cô và các em học
sinh để sáng kiến ngày càng hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 05 tháng 6 năm
2017.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
TT
Tên đề tài SKKN
1.
Sử dụng phương trình ion thu
gọn giải toán Hóa học
Hướng dẫn giải nhanh một số
dạng toán về phản ứng của
CO2 với dung dịch kiềm
2.
Sở GD và ĐT
Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B,
hoặc C)
C
2004 - 2005
Sở GD và ĐT
C
2009 - 2010