Xã hội học giáo dục: Tác động của chính sách phổ cập giáo dục THCS tới hệ thống giáo dục - Pdf 43

Tác động của chính sách phổ cập giáo dục THCS tới hệ thống giáo dục

I.

Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Những thành công bước đầu sau hơn 20 năm Đổi mới đã mang lại

những thách thức và những yêu cầu cho xã hội. Một yêu cầu thiết yếu cần
được đáp ứng trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước là nguồn nhân
lực chất lượng cao. Vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là trách
nhiệm của toàn xã hội nói chung và các thiết chế xã hội cụ thể nói riêng. Tuy
nhiên, đóng vai trò trọng yếu trong quá trình bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân
lực chất lượng cao là thiết chế giáo dục. Trước sức ép của xã hội, hệ thống
giáo dục Việt Nam đã và đang có nhiều thay đổi, có nhiều chương trình hành
động phù hợp nhằm hướng tới đáp ứng yêu cầu đặt ra của xã hội.
Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện chương trình phổ cập
tiểu học, hoàn thành tới 97% và hướng tới phổ cập trung học cơ sở trên toàn
quốc nhằm mang lại cơ hội học tập ở bậc học cao hơn tới toàn xã hội. Bài
học kinh nghiệm rút ra từ quá trình phổ cập giáo dục tiểu học cho thấy
những khó khăn trong việc hoàn thành phổ cập giáo dục. Đó có thể là những
khó khăn bắt nguồn từ phía cơ sở vật chất, về điều kiện kinh tế,… nhưng
cũng có thể là những khó khăn từ phía người dân. Thực tế cho thấy, trong xã
hội tồn tại những nhóm đối tượng ít có hoặc không có khả năng tiếp cận với
giáo dục vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng
xa… Trước thực trạng trên, ngành Giáo dục đã và đang đưa ra những biện
pháp cụ thể nhằm khuyến khích con em những gia đình thuộc diện chính
sách, những hộ nghèo, người dân tộc… hoàn thành giáo dục tiểu học và
trung học cơ sở.
Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đã khó, để tiến tới hoàn thành
phổ cập giáo dục bậc trung học cơ sở còn gặp phải nhiều khó khăn hơn nữa.


2


Tác động của chính sách phổ cập giáo dục THCS tới hệ thống giáo dục

4. Mục tiêu nghiên cứu
Mô tả chính sách hỗ trợ thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở về
hệ thống văn bản pháp luật làm căn cứ ban hành, đối tượng của chính sách,
mục đích của chính sách, liên hệ với hệ thống giáo dục Việt Nam. Qua đó,
phân tích nhằm chỉ ra một số tác động của chính sách tới hệ thống và chỉ ra
một số hướng nghiên cứu cụ thể.
5. Đối tượng nghiên cứu – Khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của chính sách hỗ trợ trung học cơ sở
tới hệ thống giáo dục.
- Khách thể nghiên cứu: Chính sách hỗ trợ thực hiện phổ cập giáo dục
trung học cơ sở, hệ thống các văn bản pháp qui làm căn cứ ban hành,
các tài liệu sơ cấp và thứ cấp có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi bài viết, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp phân
tích tài liệu. Phân tích Chính sách hỗ trợ thực hiện phổ cập giáo dục nhằm
mô tả nội dụng của chính sách. Phân tích một số văn bản pháp qui làm căn
cứ ban hành chính sách nhằm chỉ ra nền tảng, các điều kiện tiền đề của chính
sách. Phân tích những số liệu điều tra, khảo sát của Tổng cục thống kê và Bộ
Giáo dục và Đào tạo nhằm so sánh, chỉ ra những tác động mà chính sách
mang lại cho nhóm đối tượng cũng như hệ thống giáo dục Việt Nam. Ngoài
ra, để làm rõ mục đích nghiên cứu, nhóm nghiên cứu còn phân tích những
tài liệu bao gồm các bài báo, bài viết trên các diễn đàn, tạp chí khoa học.
7. Câu hỏi nghiên cứu


cơ sở.
- Hệ thống giáo dục: Hệ thống giáo dục được hiểu theo nhiều cách khác
nhau. Về nghĩa rộng, hệ thống giáo dục được hiểu như hệ thống hoàn
4


Tác động của chính sách phổ cập giáo dục THCS tới hệ thống giáo dục

chỉnh bao gồm các yếu tố có mối quan hệ biện chứng: mục đích giáo
dục, phương pháp giáo dục và nội dung giáo dục. Về nghĩa hẹp, hệ
thống giáo dục bao gồm cách thức tổ chức và vận hành của trường
học. Tuy nhiên, hệ thống giáo dục Việt Nam đã được qui định rất rõ
ràng thông qua luật Giáo dục sửa đổi 2005.
2. Giới thiệu về chính sách
2.1. Căn cứ ban hành
Chính sách hỗ trợ hỗ trợ thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở
được Thủ tướng Chính phủ đưa ra quyết định ban hành vào ngày 24 tháng
03 năm 2005. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày
đăng Công báo.
Để đưa ra quyết định ban hành chính sách hỗ trợ thực hiện giáo dục
phổ cập giáo dục trung học cơ sở, Thủ tướng Chính phủ đã căn cứ vào điều
kiện thực tế cũng như những văn bản pháp qui sau:
• Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001. Theo chương I Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ, điều 11, Chính phủ có nhiệm
vụ và quyền hạn quyết định chính sách cụ thể về giáo dục; ưu tiên đầu
tư khuyến khích các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục, nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng nhân
tài. Chương III - Nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ,
điều 20 quy định Thủ tướng Chính phủ ký các nghị quyết, nghị định
của Chính phủ, ra quyết định, chỉ thị và hướng dẫn kiểm tra việc thi
hành các văn bản đó đối với tất cả các ngành, các địa phương và cơ

gồm 7 điều, mỗi điều quy định những nội dung chi tiết và cụ thể của chính
sách.
2.2. Mục đích của chính sách

6


Tác động của chính sách phổ cập giáo dục THCS tới hệ thống giáo dục

Mục đích của chính sách nhằm hướng tới các nhóm xã hội có những
đặc điểm bộc lộ nhiều hạn chế trong khả năng tiếp cận giáo dục bậc phổ
thông trung học. Mục đích của chính sách cho thấy, quá trình thực hiện phổ
cập giáo dục trung học cơ sở là một quá trình lâu dài, với nhiều yếu tố được
qui định rõ ràng, cụ thể. Chính sách qui định nhóm đối tượng được hưởng
chính sách, hình thức hỗ trợ, thời gian ban hành và các cơ quan hữu quan.
Cụ thể, mục đích của chính sách được thể hiện thông qua 7 điều:
Điều 1: quy định độ tuổi được chính sách hỗ trợ. Tất cả thanh, thiếu niên
Việt Nam trong độ tuổi từ 11 đến 18 tuổi đều được chính sách này hỗ trợ để
hoàn thành bậc học trung học cơ sở.
Điều 2: quy định đối tượng được hỗ trợ của chính sách này. Theo đó, không
phải tất cả các đối tượng trong độ tuổi từ 11 đến 18 tuổi đều nhận được hỗ
trợ từ chính sách này. Chính sách ưu tiên các đối tượng sau:
- Con thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng
- Con của quân nhân bị tai nạn lao động mất sức lao động, quân nhân bị
bệnh nghề nghiệp mất sức lao động
- Học sinh tàn tật
- Học sinh mồ côi (mồ côi cả cha và mẹ, mồ côi cha hoặc mẹ những
người còn lại bị mất tích hoặc không đủ khả năng nuôi dưỡng theo
quy định của pháp luật hiện hành, bị bỏ rơi mất nguồn gốc và không
còn người thân thích để nương tựa)

thanh niên, thiếu niên sau khi tốt nghiệp tiểu học tiếp tục học tập để đạt trình
độ trung học cơ sở trước khi hết tuổi 18, đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.1 Với mục tiêu đó, công tác phổ cập giáo dục trung học
cơ sở đã và đang được thực hiện ở hầu khắp các tỉnh thành trên cả nước. Để
1

Điều 4, chương I, Nghị định của Chính phủ số 88/2001/NĐ – CP ngày 22 tháng 11 năm 2001 về việc thực
hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

8


Tác động của chính sách phổ cập giáo dục THCS tới hệ thống giáo dục

thực hiện được điều này, đòi hỏi sự quan tâm của Nhà nước, các cơ quan ban
ngành cũng như sự hợp tác của tất cả mọi công dân.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, trình độ sản xuất và khoa học kỹ
thuật của từng vùng miền vẫn tồn tại những chênh lệch đáng kể. Thêm vào
đó, những đặc trưng về nghề nghiệp của từng nhóm giai cấp – tầng lớp xã
hội của nước ta khiến cho cơ hội tham gia vào hệ thống giáo dục quốc dân
còn chưa “bình đẳng”. Theo tiêu chí nghề nghiệp, xã hội Việt Nam tồn tại
những giai cấp và tầng lớp xã hội như: giai cấp công nhân, giai cấp nông
dân, tầng lớp trí thức, tầng lớp quân nhân, tầng lớp thợ thủ công, tầng lớp
doanh nhân… Những giai cấp và tầng lớp này có khả năng kinh tế không
đồng đều, có thể chia thành 3 nhóm: nhóm giàu có, nhóm trung bình và
nhóm nghèo. “…Khi sinh ra trong một gia đình giàu có, con cái có thể được
cha mẹ đầu tư nhiều hơn vào việc học tập. Do vậy, trẻ em sẽ kế thừa không
chỉ vốn tài sản mà quan trọng hơn là trẻ em còn kế thừa các nguồn vốn xã
hội, vốn văn hóa và nhất là có điều kiện để tiếp cận và tích lũy vốn con

đặc biệt là những khu vực vùng sâu, vùng xa điều kiện sống vẫn hết sức khó
khăn. Chính vì vậy, việc xác định từng nhóm đối tượng cụ thể để có những
hỗ trợ phù hợp, tùy theo điều kiện là yếu tố quan trọng và cần thiết trong
công tác phổ cập giáo dục.
8 nhóm đối tượng thuộc nhóm yếu thế được xác định bao gồm:
Nhóm 1: Học sinh là con liệt sĩ.
Nhóm 2: Học sinh là con của thương binh, con của bệnh binh và người
được hưởng chính sách như thương binh, con của quân nhân bị tai nạn lao
động mất sức từ 81% trở lên.
Nhóm 3: Học sinh là con của thương binh, con của bệnh binh và người
được hưởng chính sách như thương binh, con của quân nhân bị tai nạn lao
động mất sức từ 61% đến 80%.
Nhóm 4: Học sinh là con của thương binh, con của bệnh binh và người
hưởng chính sách như thương binh, con của quân nhân bị tai nạn lao động
mất sức lao động từ 21% đến 60 % và con của quân nhân bị bệnh nghề
nghiệp mất sức lao động từ 41% đến 60%.

10


Tác động của chính sách phổ cập giáo dục THCS tới hệ thống giáo dục

Nhóm 5: Học sinh là người tàn tật (theo quy định của Quyết định này),
không phân biệt nguồn gốc gây ra, bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận
cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy
giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều
khó khăn.
Nhóm 6: Học sinh mồ côi thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Mồ côi cả cha hoặc mẹ;
b) Mồ côi cha hoặ mẹ, nhưng người còn lại là cha hoặc mẹ bị mất

Qua đây, có thể thấy, nhân tố giai cấp cũng như các thành phần cụ thể
cấu thành giai cấp xã hội là cơ sở quan trọng để căn cứ xây dựng nên những
chính sách hợp lý, bởi đây là nhân tố có tính quyết định đối với khả năng
được tham gia vào hoạt động giáo dục. Nhân tố giai cấp xã hội không chỉ
được thể hiện ở khả năng kinh tế, mà còn thể hiện ở trình độ nhận thức, hay
sự tác động của những khó khăn về kinh tế, đời sống đến quan điểm về giáo
dục trẻ em nói riêng. Những chính sách này, sau khi được hoạch định và đưa
vào thực tiễn cuộc sống, lại hướng đến phục vụ chính những đối tượng đó.
Chính vì vậy, mối quan hệ hai chiều giữa chính sách và nhân tố giai cấp xã
hội là hết sức quan trọng đối với hiệu quả áp dụng thực tiễn của mọi chính
sách trong đời sống.

3. Tác động của chính sách tới hệ thống giáo dục
Hệ thống giáo dục được hiểu theo nhiều ý nghĩa khác nhau. Một cách
hiểu chung nhất là nhìn nhận hệ thống giáo dục là tập hợp của những yếu tố
có mối quan hệ qua lại chặt chẽ: mục đích, phương pháp và nội dung giáo
dục. Nếu hiểu theo nghĩa này, tác động của chính sách tới hệ thống giáo dục
là sự thay đổi toàn bộ mục đích, phương pháp và nội dung giáo dục nhằm

12


Tác động của chính sách phổ cập giáo dục THCS tới hệ thống giáo dục

đạt được mục đích của chính sách. Nếu nhìn nhận theo cách coi hệ thống
giáo dục là cấu trúc và sự vận hành của các yếu tố thuộc nhà trường, thì tác
động của chính sách tới hệ thống giáo dục được mô tả một cách cụ thể hơn
với những nhóm xã hội nhất định. Tuy nhiên, để có cái nhìn toàn diện hơn cả
về hệ thống giáo dục dưới tác động của chính sách, cần hiểu rõ hệ thống
giáo dục theo những văn bản pháp qui hiện hành. Luật giáo dục sửa đổi 2005

cấp huyện

Trường PTTH

Cơ sở giáo dục
nghề nghiệp

Cơ sở giáo dục
đại học

Trường CĐ, TC nghề
Trường TC CN

Trường cao đẳng
Trường đại học
Viện nghiên cứu

13

Trung tâm giáo dục
thường xuyên
cấp

CÁC
CƠ SỞ
GIÁO
DỤC
KHÁC





Tác động của chính sách phổ cập giáo dục THCS tới hệ thống giáo dục

tăng lên 18623 người năm học 2005 – 2006 và lên đến 19032 giáo viên
trong năm học 2006 – 2007. Bên cạnh đó, chất lượng giáo viên nói chung và
chất lượng giáo viên THCS cũng tăng lên thể hiện ở tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn
theo từng năm học. Tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn cấp THCS đã tăng từ 94,95%
(năm học 2004 – 2005) đến 96,19% (năm học 2005 – 2006) và đến 96,84%
(năm học 2006 – 2007). Qua đó, có thể thấy, chính sách hỗ trợ phổ cập
THCS mặc dù hướng chủ yếu đến nhóm đối tượng thuộc các nhóm xã hội có
những khó khăn trong việc tiếp cận với hệ thống giáo dục, nhưng đồng thời
cùng với sự thực thi chính sách này, cơ sở vật chất và chất lượng đội ngũ
giáo viên cũng được nâng cao, số lượng giáo viên là người dân tộc cũng tăng
đáng kể, tỉ lệ giáo viên dân tộc trong tổng số giáo viên ở cấp học này chiếm
hơn 50%, chứng tỏ chất lượng giáo viên ngày càng được chú trọng nâng cao
đồng đều giữa các khu vực.
Cùng với sự nâng cao về cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên, số lượng
và chất lượng học sinh ở cấp học này cũng tăng lên đáng kể. Một trong
những ví dụ phải kể đến liên quan đến nhóm đối tượng được nhận hỗ trợ
theo chính sách là nhóm học sinh là người dân tộc thiểu số. Trong nhóm đối
tượng này, có những em học sịnh thuộc cả diện học sinh nghèo và học sinh
là người dân tộc thiểu số. Sau khi chính sách được ban hành và thực thi, số
lượng học sinh là người dân tộc thiểu số đã tăng lên mặc dù số lượng học
sinh trong độ tuổi học THCS gần như không có sự tăng lên đáng kể nào.
Năm học 2004 – 2005, số lượng học sinh là người dân tộc thiểu số là 913090
học sinh, đến năm 2006 – 2006 số học sinh tăng lên đến 924867 học sinh. Số
lượng học sinh là người dân tộc thiểu số tăng lên đã cho thấy, chính sách đã
có tác động tích cực đến nhóm học sinh thuộc nhóm xã hội này. Bên cạnh
đó, chất lượng học sinh cũng có những dấu hiệu nâng cao hơn thể hiện qua

tố thuộc hệ thống giáo dục Việt Nam. Với số lượng cơ sở vật chất đảm bảo
yêu cầu, số lượng giáo viên tăng, số lượng và chất lượng học sinh bậc học
trung học cơ sở có xu hướng gia tăng đã tạo nền tảng vững chắc cho những
16


Tác động của chính sách phổ cập giáo dục THCS tới hệ thống giáo dục

bậc học cao hơn. Qua hơn 3 năm chính sách có hiệu lực, với những kết quả
thu được, chúng ta có quyền tin tưởng vào tương lai không xa khi giáo dục
trung học cơ sở được hoàn thành, hướng tới phổ cập giáo dục ở những bậc
học cao hơn. Số lượng học sinh được tiếp cận và nâng cao tri thức có thể
sớm đáp ứng nhu cầu đặt ra của xã hội. Chính sách hỗ trợ phổ cập giáo dục
đã thể hiện mặt bình đẳng về giáo dục, góp phần hướng tới bình đẳng xã hội
về mọi mặt.
III.

Kết luận và một số hướng nghiên cứu

Hệ thống Giáo dục chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố: giới tính, kinh
tế, dân số, giai cấp xã hội và các hệ thống chính sách… Trong phạm vi bài
viết, chúng tôi lựa chọn Chính sách hỗ trợ giáo dục trung học cơ sở để phân
tích, làm rõ mục đích của chính sách và nhóm đối tượng mà chính sách
hướng tới. Qua đó, chỉ ra một số tác động của chính sách tới hệ thống giáo
dục.
Với mục đích đảm bảo cơ hội giáo dục bình đẳng cho tất cả mọi tầng
lớp, giai cấp trong xã hội trong công cuộc phát triển giáo dục nói chung và
công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở nói riêng, Quyết định hỗ trợ phổ
cập trung học cơ sở quy định hết sức cụ thể về những nhóm đối tượng được
hỗ trợ và mức hỗ trợ phù hợp. Những nhóm đối tượng được hỗ trợ đều thuộc

giữa con người với con người trong phạm vi hoạt động giáo dục và mối quan
hệ giữa hoạt động giáo dục với các lĩnh vực khác của hoạt động xã hội nói
chung. Xã hội học giáo dục một mặt nghiên cứu những chức năng xã hội của
bản thân hệ thống giáo dục (chức năng kinh tế - xã hội, chức năng xã hội
hóa, chức năng đổi mới, chức năng chọn lọc giáo dục…), mặt khác, còn
nghiên cứu sự tác động qua lại của xã hội và hệ thống giáo dục. Sự tác động
của xã hội có tính chất quyết định đến hệ thống giáo dục, giáo dục không
bao giờ tách khỏi hoặc biệt lập với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, giáo
dục luôn thể hiện tính lịch sự, tính giai cấp, tính nhân loại trong tiến trình
18


Tác động của chính sách phổ cập giáo dục THCS tới hệ thống giáo dục

phát triển của nó. Xã hội và các quan hệ xã hội thống trị trong xã hội đó như
thế nào thì suy cho cùng hệ thống giáo dục sẽ như thế đó. Không phải hệ
thống giáo dục sản sinh ra xã hội mà chính xã hội sản sinh ra và thay đổi
hình dạng hệ thống giáo dục. Bên cạnh đó, xã hội học giáo dục còn nghiên
cứu sự tác động trở lại của hệ thống giáo dục đối với xã hội, bởi thực chất hệ
thống giáo dục không chỉ phân phối tri thức cho con người mà còn phân
phối những con người có tri thức cho xã hội3.
Dựa trên đối tượng nghiên cứu xã hội học giáo dục và từ việc phân
tích nhân tố chính sách và nhân tố giai cấp xã hội với trường hợp về chính
sách hỗ trợ phổ cập giáo dục trung học cơ sở, chúng tôi xin đưa ra một số
hướng nghiên cứu cụ thể như sau:
1. Nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách và hệ thống giáo dục
Những chính sách giáo dục được xây dựng dựa trên mục đích chung
của hoạt động giáo dục cũng như quá trình vận hành hệ thống giáo dục. Việc
nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách và hệ thống giáo dục trước hết cần
phải hướng tới nghiên cứu về những cơ sở hình thành chính sách dựa trên

cứu sự khác biệt về nội dung chính sách hỗ trợ với từng nhóm đối tượng.
Mối quan hệ hai chiều giữa chính sách và giai cấp xã hội thể hiện ở sự
tác động của chính sách đối với mỗi nhóm, giai cấp, mà cụ thể là sự bất bình
đẳng trong giáo dục giữa các nhóm giai cấp đã có những thay đổi như thế
nào sau khi các chính sách giáo dục được thực hiện. Ngược lại, từng nhóm
xã hội, giai cấp đã có những phản hồi tích cực và tiêu cực như thế nào đối
với chính sách, qua đó, thấy được những ưu điểm và nhược điểm của quá
trình hoạch định và thực thi chính sách.
Trong quá trình phát triển chung của toàn xã hội, mỗi giai cấp xã hội
đều có những thay đổi. Trước sự thay đổi đó, chính sách về giáo dục nói
riêng cũng cần phải có những thay đổi để đảm bảo sự phát triển tích cực của
hệ thống giáo dục cũng như toàn xã hội. Mối quan hệ giữa nhân tố chính
sách và hệ thống giáo dục cũng như mối quan hệ giữa nhân tố chính sách và
nhân tố giai cấp cũng không thể không có những chuyển biến. Xã hội học và
20


Tác động của chính sách phổ cập giáo dục THCS tới hệ thống giáo dục

xã hội học giáo dục nói riêng cần phải quan tâm, nghiên cứu đến sự vận
động và biến đổi của những mối quan hệ này.

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status