Những tác động của chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát tại Việt nam từ 2008 đến nay, đề xuất một số kiểm soát lạm phát bằng chính sách tiền tệ - Pdf 28

http://www.tailieucaohoc.com
Mục Lục

43
T
r
http://www.tailieucaohoc.com
1. LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1.1 Khái niệm lạm phát
Có rất nhiều quan điểm khác nhau nhìn nhận và định nghĩa lạm phát
- Theo Mác: “Lạm phát là hiện tượng tiền giấy tràn ngập các kênh lưu thông
tiền tệ, vượt quá các nhu cầu của kinh tế thực tế làm cho tiền tệ bị mất giá và
phân phối lại thu nhập quốc dân”.
- J.M Keynes và trường phái tiền tệ ở Đức và Mỹ thì quan niệm: “Lạm phát là
do sự vi phạm quá trình tái sản xuất năm trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ…, là sự
phát hành tiền quá mức tạo ra cầu dư thừa thường xuyên…”
- Lại có quan điểm cho rằng lạm phát là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tiền
và hàng trong nền kinh tế, điều này đã đẩy giá cả hàng hóa lên cao ở mọi lúc mọi
nơi.
Tuy nhiên, Milton Friedman đã phát hiện ra những đặc trưng cơ bản của lạm
phát đó là: Sự thừa tiền do cung tiền tệ tăng lên quá mức, sự tăng giá cả đồng bộ
và liên tục theo sự mất giá của tiền giấy, sự phân phối lại giá cả, sự bất ổn về
kinh tế xã hội.
Và từ đó đưa ra một khái niệm về lạm phát được nhiều người chấp nhận:
“Lạm phát là hiện tượng cung tiền tệ tăng lên kéo dài làm cho mức giá cả chung
tăng nhanh và kéo dài trong một thời gian dài.”
1.2 Phân loại lạm phát
Phân loại lạm phát dựa vào nhiều tiêu thức khác nhau
1.2.1 Căn cứ vào tốc độ lạm phát
- Lạm phát vừa phải: là loại lạm phát vừa phải, tốc độ gia tăng giá cả chậm
(<10%/năm)

- Lạm phát công khai: có sự biểu hiện tăng phổ biến giá cả hàng hóa, dịch vụ
rõ nét trên thị trường…
1.3 Nguyên nhân dẫn đến lạm phát:
1.3.1 Lạm phát do cầu kéo:
Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu trong nền kinh tế cao hơn tổng
cung trong cùng thời điểm đó, có thể do tổng cầu tăng nhưng tổng cung không
đổi, hoặc tổng cung cũng tăng nhưng không bằng tổng cầu. Khi đó, thị trường
sẽ xảy ra tình trạng thiếu hụt hàng hoá, theo quy luật cung cầu thì trong trường
hợp này giá cả thị trường sẽ tăng lên, làm xuất hiện lạm phát.
Phương trình tổng cầu: AD = C + I + G + X – M
Tổng cầu tăng có thể do các nguyên nhân:
T
r
PY
0
Yp
Y1
http://www.tailieucaohoc.com
- Các hộ gia đình tăng chi tiêu do thu nhập tăng, hoặc do được chính phủ giảm
thuế, tăng trợ cấp…
- Chính phủ tăng các khoản chi tiêu cho an ninh quốc phòng, tăng đầu tư chính
phủ…
- Các DN tăng đầu tư do xuất hiện nhiều cơ hội kinh doanh hấp dẫn.
- Kim ngạch XNK thay đổi theo hướng chênh lệch X – M ngày càng tăng do
đồng nội tệ mất giá so với ngoại tệ, xuất khẩu tăng so với nhập khẩu…
- NHTW thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ, làm lãi suất giảm, các DN vay
tiền đầu tư nhiều hơn…
1.3.2 Lạm phát do chi phí đẩy:
Lạm phát loại này xuất hiện khi chi phí đầu vào cho sản xuất tăng hoặc
năng lực sản xuất của nền kinh tế giảm sút. Chi phí đầu vào tăng có thể do giá

 : giá sản phẩm i ở kỳ gốc
 : số lượng mặt hàng I được quy định tính trong chỉ số
 Chi số giá sán xuất PPI/WPI: đo lường biến động của mức giá trung bình
của những hàng hoá dịch vụ bán sỷ, được dùng làm đầu vào cho sản xuất
ở kỳ hiện hành so với kỳ gốc
PPI =
T
r
http://www.tailieucaohoc.com
- Chỉ số giá giảm phát GDP (D%): đô lường biến động của mức giá trung bình
của tất cả hàng hoá dịch vụ mà một nền kinh tế sản xuất được, ở kỳ hiện hành
so với kỳ gốc
D% =
1.4.2 Các cách đo lường tỷ lệ lạm phát
- Cách 1:
∏ = x 100%
Trong đó:
 ∏ : tỷ lệ lạm phát thời kỳ t
 : mức giá thời kỳ t
 : mức giá thời kỳ trước đó
Muốn tính được ∏ trước hết các nhà thống kê phải quyết định sử dụng chỉ
số giá nào để phản ánh mức giá. Người ta thường dùng GDP và CPI để
đo lường mức giá chung. Tuy nhiên mục tiêu là xác định ảnh hưởng của
lạm phát đến mức sống thì CPI tỏ ra thích hợp hơn. Trong thực tế các số
liệu công bố chính thức về lạm phát thường được tính trên cơ sở CPI.
 Cách 2:
∏ = x 100%
Với:
 : tỷ số giảm phát năm t
 : tỷ số giảm phát năm trước t-1

thực sự khó khăn trong việc kiểm soát chu chuyển của luồng tiền này, các
NHTM cũng khó khăn trong việc phát triển các dịch vụ phi tín dụng, đặc biệt
là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Vốn tiền thiếu, nhiều doanh nghiệp thực
hiện mua chịu, bán chịu, công nợ thanh toán tăng, thoát ly ngoài hoạt động
Vì vậy, NHNN phải thực hiện thắt chặt tiền tệ để giảm khối lượng tiền
trong lưu thông, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít khách hàng
với những hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệu quả, với mức độ
rủi ro cho phép. Mặt khác, do lãi suất huy động tăng cao, thì lãi suất cho vay
cũng cao, điều này đã làm xấu đi về môi trường đầu tư của ngân hàng, rủi ro
đạo đức sẽ xuất hiện. Do sức mua của đồng Việt Nam giảm, giá vàng và ngoại
tệ tăng cao, việc huy động vốn có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên thật sự khó khăn
đối với mỗi ngân hàng, trong khi nhu cầu vay vốn trung và dài hạn đối với các
khách hàng rất lớn, vì vậy việc dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn
trong thời gian qua tại mỗi ngân hàng là không nhỏ. Điều này đã ảnh hưởng
đến tính thanh khoản của các ngân hàng, nên rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá xảy
ra là điều khó tránh khỏi.
T
r
http://www.tailieucaohoc.com
1.5.2 Tác động của lạm phát tới việc phân phối lại thu nhập:
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là tỷ số phản ảnh giá cả của một rổ hàng hóa
chọn lựa qua các năm khác nhau so với giá của cùng rổ hàng hóa đó trong một
năm được chọn là năm gốc. Đó là một thước đo của lạm phát. Giá tiêu dùng
tăng cao ắt sẽ dẫn đến lạm phát. Lạm phát cao làm giảm giá trị đồng tiền trong
nước.Khi các mức giá cả trong tương lai khó dự đoán hơn thì các kế hoạch chi
tiêu và tiết kiệm hợp lý sẽ trở nên khó thực hiện hơn.
Người dân ngày càng lo ngại về việc sức mua trong tương lai của họ bị
giảm xuống và mức sống của họ cũng vì vậy mà kém đi. Lạm phát cao khuyến
khích các hoạt động đầu tư mang tính đầu cơ trục lợi hơn là đầu tư vào các
hoạt động sản xuất

nghiệp sẽ mất thêm chi phí để in ấn, phát hành bảng giá sản phẩm.
− Giá cả tương đối biến đổi mạnh hơn: Làm thay đổi giá tương đối một cách
không mong muốn: trong trường hợp do lạm phát doanh nghiệp này tăng giá
(và đương nhiên phát sinh chi phí thực đơn) còn doanh nghiệp khác lại không
tăng giá do không muốn phát sinh chi phí thực đơn thì giá cả của doanh
nghiệp giữ nguyên giá sẽ trở nên rẻ tương đối so với doanh nghiệp tăng giá.
Do nền kinh tế thị trường phân bổ nguồn lực dựa trên giá tương đối nên lạm
phát đã dẫn đến tình trạng kém hiệu quả xét trên góc độ vi mô.
− Thay đổi gánh nặng thuế: lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của
các cá nhân trái với ý muốn của người làm luật do một số luật thuế không tính
đến ảnh hưởng của lạm phát.
Ví dụ: trong trường hợp thu nhập thực tế của cá nhân không thay đổi
nhưng thu nhập danh nghĩa tăng do lạm phát thì cá nhân phải nộp thuế thu
nhập trên cả phần chênh lệch giữa thu nhập danh nghĩa và thu nhập thực tế.
T
r
http://www.tailieucaohoc.com
Lạm phát gây ra sự nhầm lẫn, bất tiện: đồng tiền được sử dụng để làm
thước đo trong tính toán các giao dịch kinh tế, khi có lạm phát cái thước này
co giãn và vì vậy các cá nhân khó khăn hơn trong việc ra các quyết định của
mình.
1.6 Chính sách tiền tệ
1.6.1 Khái niệm
Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do NHTW khởi thảo và
thực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu:
ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế. Cụ thể,
chính sách tiền tệ là tổng hòa các phương thức mà NHTW thông qua các hoạt
động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông, nhằm phục vụ
cho việc thực hiện các mục tiêu KT – XH của đất nước trong một thời kì nhất
định. Mặt khác, nó là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách kinh

1.7.2 Lãi suất
- Khái niệm: NHTW đưa ra một khung lãi suất hay ấn dịnh một trần lãi suất cho
vay để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó, từ đó ảnh
hưởng tới qui mô tín dụng của nền kinh tế và NHTW có thể đạt được quản lý
mức cung tiền của mình.
- Cơ chế tác động: việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm sẽ ảnh
hưởng trực tiếp tới quy mô huy động và cho vay của các NHTM làm cho
lượng tiền cung ứng thay đổi theo.
- Đặc điểm: giúp cho NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo mục
tiêu của từng thời kỳ. Điều này phù hợp với các quốc gia khi chưa có điều kiện
để phát huy tác dụng của các công cụ gián tiếp. Song, nó dễ làm mất đi tính
khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì thực chất lãi suất là “giá cả” của
vốn do vậy nó phải được hình thành từ chính quan hệ cung cầu về vốn trong
nến kinh tế. Mặt khác việc thay đổi quy định điều chỉnh lãi suất dễ làm cho
các NHTM bị động, tốn kém trong hoạt động kinh doanh của mình.
1.7.3 Hạn mức tín dụng
- Khái niệm: là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM không
được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định (một năm) để
thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình. Việc định ra hạn mức tín
dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩmô (tốc độ
tăng trưởng, lạm phát ). Sau đó NHTW sẽ phân bổ cho các
NHTM và NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức do NHTW quy định.
- Cơ chế tác động: đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với
lượng tiền cung ứng. Việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho
T
r
http://www.tailieucaohoc.com
nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng theo mục
tiêu của NHTM.
- Đặc điểm: giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi

T
r
http://www.tailieucaohoc.com
nhưng di động khi cần thiết và tỷ giá thả nổi có quản lý. Khi vận dụng công cụ
này không phải NHTW đẩy tỷ giá lên cao hay kéo tỷ giá xuống thấp mà ổn
định tỷ giá ở một mức độ hợp lý phù hợp với đặc điểm điều kiện thực tế của
đất nước trong từng giai đoạn để tác động chung cuộc của nó là tốt nhất.
T
r
http://www.tailieucaohoc.com
2. NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỂM SOÁT
LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM TỪ 2008 ĐẾN NAY
2.1 Tác động của công cụ điều tiết chính sách tiền tệ đến lạm phát giai đoạn
2008 đến 2010
- Từ cuối năm 2007, các biện pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ đã được vạch
ra cho năm 2008 khi mà các tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái
kinh tế toàn cầu đã manh nha xuất hiện tại Việt Nam. Những tháng cuối của năm
2007, lạm phát đã tăng lên 2 con số và đạt mức 12.6% vào tháng 12/2007. Những
tháng tiếp theo của năm 2008, lạm phát tiếp tục tăng cao, chỉ tính riêng 3 tháng
đầu năm 2008, chỉ số CPI đã tăng là 9.1% (đây là quý có mức tăng cao nhất tính
từ năm 1995) và đã vượt xa chỉ tiêu của Chính phủ đặt ra cho cả năm 2008 là:
GDP tăng từ 6.7 – 7% và giữ CPI thấp hơn mức này.
- Tháng 3 năm 2008, mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát đã trở thành mục tiêu
hàng đầu trong các quyết sách điều hành kinh tế của Chính phủ. Lãi suất cơ bản
được nâng lên (12% rồi 14%), dự trữ bắt buộc với lãi suất rất thấp được áp đặt,
tín phiếu bắt buộc được phân bổ, biện pháp hạn chế tín dụng “hà khắc” được áp
đặt lên các ngân hàng thương mại, cắt giảm đầu tư Tất cả biện pháp này gây ra
gánh nặng lớn cho các ngân hàng thương mại cũng như doanh nghiệp nhỏ và
vừa. Với những chính sách thắt chặt như vậy, hệ thống ngân hàng gặp rất nhiều
khó khăn.

tháng 10: -0.19%, tháng 11: -0.76%, tháng 12: -0.68%.
Đơn vị tính: %
Biểu đồ: Biến động chỉ số CPI qua các tháng trong năm 2008
- Năm 2009, kinh tế thế giới tiếp tục lún sâu vào khủng hoảng và Việt Nam cũng
không nằm ngoài điều đó. Mục tiêu cuối cùng của CSTT từ cuối năm 2008 đã
được Chính phủ xác định chuyển từ ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ
mô, đảm bảo an sinh xã hội, phấn đấu duy trì tăng trưởng kinh tế sang ưu tiên
ngăn chặn suy giảm tăng trưởng, coi trọng ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an
sinh xã hội. Thực hiện áp dụng mô hình kiểm soát khối lượng tiền, kết hợp với
kiểm soát giá cả tiền tệ, để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát ở
mức hợp lý. Theo đó, NHNN coi việc triển khai hỗ trợ lãi suất là công việc ưu
tiên hàng đầu; các công cụ CSTT được NHNN điều hành chủ động và linh hoạt
và thận trọng trên cơ sở dự báo tốt về diễn biến kinh tế vĩ mô, diễn biến tiền tệ,
tín dụng.
- Lãi suất cơ bản được giữ ổn định trong năm 2009 và chỉ tăng 1% vào tháng
12/2009. Dự trữ bắt buộc được điều chỉnh giảm từ 6% xuống 3% đối với tiền gửi
không kì hạn và có kì hạn dưới 12 tháng, giảm từ 2% xuống 1% đối với kì hạn từ
12 tháng trở lên, áp dụng suốt năm 2009. NHNN cũng liên tục thực hiện bơm
vốn vào nền kinh tế thông qua thị trường mở, với sự điều hành linh hoạt phù hợp
với diễn biến của thị trường. Trong bối cảnh thị trường ngoại hối diễn biến phức
T
r
http://www.tailieucaohoc.com
tạp, những chính sách quyết liệt của NHNN đối với thị trường này cũng góp phần
kiềm chế biến động tỷ giá, ổn định lạm phát.
- Như vậy, trong năm 2009, CSTT của Việt Nam đã được điều hành một cách linh
hoạt, thận trọng, góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo ổn định kinh tế
vĩ mô, kiềm chế lạm phát và tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế. Và
quan trọng nhất, tuy ưu tiên vực dậy tăng trưởng kinh tế nhưng lạm phát vẫn
được duy trì ở mức có thể chấp nhận được. Lạm phát được kiểm soát ở mức

- Tuy nhiên, với những chính sách ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng như vậy, lạm phát
sau khi được ổn định ở 2 năm trước thì đến năm 2010 đã có cơ hội gia tăng trở
lại. Chịu tác động rất lớn từ những sự kiện như sự gia tăng mạnh của giá dầu thế
giới, đầu tư mạnh cho Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, lũ lụt gây thiệt hại
nặng nề ở miền Trung, giá vàng và USD liên tục leo thang,… nhưng những chính
sách tiền tệ vẫn chưa quan tâm đến kiềm chế chỉ số CPI một cách thoả đáng,
khiến lạm phát năm 2010 diễn biến xấu đi so với chỉ tiêu mong đợi từ đầu năm.
Mặc dù các tháng giữa năm CPI tăng nhẹ nhưng những biến động ở đầu và cuối
năm đã khiến chỉ số này gia tăng đột biến. Với nỗ lực kiềm chế lạm phát cả năm
ở mức 7-8% từ đầu năm thì rõ ràng, điều hành CSTT trong năm đã ưu tiên nhiều
cho tăng trưởng, không đạt được hiệu quả ổn định lạm phát như mong đợi, dẫn
đến lạm phát 2010 đạt mức 2 con số, lên tới 11.6%. Và con số này cũng đặt ra áp
lực rất lớn cho CSTT năm 2011 nhằm kéo chỉ số CPI trở lại mức thấp như từng
đạt được trong năm 2009.
- Biến động chỉ số CPI trong năm 2010 như sau:
- Tháng 1: +1.36%; tháng 2: +1.96%; tháng 3: +0.75%; tháng 4: +0.14%; tháng 5:
+0.27%; tháng 6: +0.22%; tháng 7: +0.06%; tháng 8: +0.23%, tháng 9: +1.31%,
tháng 10: +1.05%, tháng 11: +1.86%, tháng 12: +1.98%.
Đơn vị tính: %
Biểu đồ: Biến động chỉ số CPI qua các tháng trong năm 2010
2.2 Tác động của công cụ điều tiết chính sách tiền tệ đến lạm phát trong
năm 2011 và nửa năm 2012.
Chính sách thắt chặt tiền tệ của nền kinh tế có biểu hiện suy thoái, nên năm
2009 Chính phủ đã thông qua gói kích cầu nền kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp
vay vốn với tỷ lệ 4% lãi suất, điều này đã làm cho ngân sách nhà nước tăng
vọt.
Đồng thời gói kích cầu kinh tế năm 2009 đã để lại tác động lạm phát trong
năm 2010 và năm 2011. Năm 2010, Chính phủ đã đưa ra mục tiêu thực hiện
chính sách tài chính, tiền tệ chặt chẽ, linh hoạt để kiềm chế lạm phát, ổn định
kinh tế vĩ mô và bảo đảm tăng trưởng thông qua Nghị quyết số 18/ NQ-CP ngày

T
r
http://www.tailieucaohoc.com
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trong tháng 12 năm 2011, NHNN tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình thanh
khoản của hệ thống và từng TCTD, xem xét cho vay tái cấp vốn đối với các TCTD
có khó khắn về thanh khoán, đồng thời giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay từ
nguồn tái cấp vốn của TCTD.

Lãi suất huy động
Văn bản Lãi suất
VNĐ
(%/n
ăm)
Văn bản Lãi suất
USD(
%/nă
m)
Số 02/TT/2011 ngày 3/3/2011 14% 09/TT/2011 ngày 9/4/2011 1-3%
Số 30/TT/NHNN ngày 28/9/2011 14%
14/TT/NHNN ngày
1/6/2011
0,5-2%
Số 05/TT/NHNN ngày 12/3/2012 13%
Số 08/TT/NHNN ngày 10/4/2012 12%
Số 17/TT/NHNN ngày 15/5/2012 11%
Số 19/TT/NHNN ngày 25/5/2012 9%
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
T
r

01/04/201
1
379/QĐ-NHNN 12% 12%
08/03/201
1
271/QĐNHNN 11%
17/02/201
1
447/TB-NHNN 9% 7%
01/12/201
0
http://www.tailieucaohoc.com
Biện pháp tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát được thể hiện qua biểu lãi
suất trên từ 14%->9%/năm. Lãi suất huy động tiền gửi theo quy định của
NHTW 14%/năm trong năm 2011, tuy nhiên điều này lại không được thực
thi hiệu quả, đã có nhiều NHTM tăng lãi suất huy động tiền gửi lên 18-19%
và có khi lên đến 21%/năm nên lãi suất cho vay của các ngân hàng bị đẩy
lên mức khá cao có khi lên đến 24-25%/năm. Tình trạng này do nhiều
nguyên nhân, trong đó có một số ngân hàng nhỏ do khó khăn về thanh
khoản đã lách luật đẩy lãi suất lên cao, do đó các ngân hàng lớn muốn giữ
chân khách hàng cũng tăng lãi suất theo. Cứ thế, các ngân hàng đua nhau
tăng lãi suất, tạo ra vòng luẩn quẩn. Lãi suất cao khiến nhiều doanh nghiệp
không dám vay ngân hàng, hoạt động sản xuất kinh doanh gặp khó khăn,
kinh tế vĩ mô không ổn định, lạm phát vẫn ở mức cao, điều này làm cho
lạm phát năm 2011 tăng 18,13% vượt so với kế hoạch 8%/năm, biểu hiện
qua chỉ số CPI trong năm 2011.
THÁNG 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
CPI (%) 1,74 2,09 2,17 3,32 2,21 1,09 1,17 0,93 0,82 0,36 0,39 0,53
Nguồn: Tổng cục thống kê.
Cùng với sự leo thang của lãi suất VND, lãi suất USD cũng liên tục nóng

bắt buộc.

Tỷ giá hối đoái
Điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng và ban hành cơ chế điều hành
tỷ giá mới từ ngày 11/2/2011.
Để kiểm soát thị trường ngoại hối, ngày 29/4/2011, Thống đốc đã ban
hành Thông tư số 11/2011/TT-NHNN quy định về chấm dứt huy động cho
vay vốn bằng vàng của TCTD.
Năm 2012, tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô (Nghị
quyết số 01/NQ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2012).
Có thể nhận thấy, cho tới 2010 và nửa đầu 2011, mục tiêu tăng trưởng vẫn là
mục tiêu ưu tiên, mặc dù lạm phát không còn là dấu hiệu mà đã thực sự bùng
phát cộng với những ảnh hưởng bởi độ trễ của chính sách kích cầu năm 2009.
Chỉ tới nửa cuối năm 2011 cho tới nay, ưu tiên kiềm chế lạm phát mới thực sự
được thể hiện trong các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và trở thành hành động
của hai Bộ Tài chính và NHNN. Tuy nhiên, trong thực tế, Chính sách tiền tệ và
chính sách tài khóa được sử dụng để hướng tới các mục tiêu kinh tế với các mức
độ khác nhau. Trong đó, CSTT luôn được sử dụng như là công cụ chủ yếu để
T
r
http://www.tailieucaohoc.com
điều tiết kinh tế vĩ mô, đặc biệt trong giai đoạn giảm tổng cầu, kiềm chế lạm
phát.
Theo đó, cả Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đều được yêu cầu sử
dụng triệt để các công cụ chính sách nhằm ưu tiên kiềm chế lạm phát. CSTT một
lần nữa quay lại thực hiện thắt chặt với mục tiêu trung gian gồm dư nợ tín dụng
tăng trưởng dưới 16%, M2 tăng dưới 20%. NHNN đã triển khai các chính sách
cụ thể nhằm đạt mục tiêu này, gồm có:
- Yêu cầu các tổ chức tín dụng điều chỉnh kế hoạch kinh doanh phù hợp với
mục tiêu tăng trưởng tín dụng, điều chỉnh cơ cấu tín dụng, tập trung vốn phát

Trong năm 2011, những dấu hiệu đình đốn đã xuất hiện. Mặc dù NHNN
khống chế tốc độ tăng trưởng dư nợ tín ở mức 20%, nhưng mức tăng thực tế chỉ
là 12%. Thậm chí, NHNN bắt đầu thể hiện dấu hiệu nới lỏng từ quý IV năm
2011 nhưng nhu cầu tín dụng vẫn rất thấp, báo hiệu tình trạng đình đốn của khu
vực sản xuất, giảm nhu cầu tín dụng, chỉ số giá đã bắt đầu giảm từ tháng 8/2011.
Tính đến quý I/2012, dấu hiệu đình đốn sản xuất rõ nét với tỷ lệ tăng sản xuất
công nghiệp là 4,1% (so với 9,3% cùng kỳ năm 2011), mức bán lẻ chỉ là 5%
(thấp xa so với số liệu cùng kỳ từ 2006), tốc độ tăng trưởng kinh tế là 4% (thấp
nhất từ 2007 đến nay). Đến quý II, tăng trưởng GDP đã tăng nhẹ lên 4,66%,
ngành sản xuất bị đình đốn trong khi sức cầu yếu đi do áp lực lãi suất huy động
và cho vay cao, nhưng đã có những cải thiện vào cuối quý II sau những nới lỏng
nhất định về tiền tệ và tài khóa.
Hình 3: Tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát 2000-2012
Nguồn: Tổng cục thống kê
Thực trạng này dẫn tới lượt chuyển đổi mục tiêu từ kiềm chế lạm phát sang
thúc đẩy phục hồi kinh tế, sử dụng CSTT cho năm 2012.
Có thể nhìn thấy các động thái này qua ba lần cắt giảm lãi suất 300 điểm liên
tiếp, đưa mức trần lãi suất xuống 11% từ 25/5/2012, liên tiếp hạ lãi suất chỉ đạo,
áp trần lãi suất 15%/năm rồi giảm xuống 14%/năm cho 4 khu vực ưu tiên: nông
nghiệp, nông thôn; doanh nghiệp vừa và nhỏ; doanh nghiệp sản xuất hàng xuất
khẩu và doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Cơ cấu lại nợ (thời hạn trả nợ, lãi suất,
cho vay mới trả nợ cũ, ) và các giải pháp khác cần thiết, phù hợp với từng loại
hình, lĩnh vực sản xuất kinh doanh tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp
vay được vốn phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc quy định nới rộng tín dụng
T
r
http://www.tailieucaohoc.com
cho khu vực bất động sản với mục đích thúc đẩy sản xuất các ngành vật liệu
xây dựng và giải phóng các khoản nợ đọng của ngân hàng trong tài sản đảm
bảo là bất động sản.

y) chủ yếu là do tăng lượng hàng xuất khẩu trong khi giá cả hàng hóa ít có biến
động. Đây là yếu tố tích cực trong bối cảnh khó khăn hiện này. Còn kim ngạch
nhập khẩu đạt 53,8 tỷ USD (+3,6% y-o-y sau khi đã trừ đi yếu tố giá). Kim
ngạch nhập khẩu tăng ít chủ yếu là do lượng hàng tồn kho còn nhiều (+26% y-o-
y) và lãi suất còn khá cao.
Về giá trị bán lẻ, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chỉ
đạt 1.137,4 nghìn tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2012, với mức tăng trung bình
là 21,29%/tháng, thấp hơn mức 22,7%/tháng cùng kỳ của 2011. Điểm đáng lưu ý
là tốc độ tăng trưởng của kinh doanh thương nghiệp và nhà hàng giảm liên tục kể
từ đầu năm đã khiến cho tốc độ tăng trưởng của tổng mức bán lẻ và dịch vụ
chung giảm.
Mục tiêu kiếm chế lạm phát đã hiện thực hóa trong 6 tháng đầu năm khi CPI
cả nước chỉ tăng 6,9% so với cùng kỳ, trong đó CPI tháng 6 đã âm 0,26% so với
tháng 5 sau 38 tháng. CPI giảm do nhiều yếu tố, trước hết là sức mua giảm sau
chính sách thắt chặt tiền tệ và tài khóa suốt năm 2011 và những tháng đầu năm
2012.
Giá xăng dầu thế giới biến động giảm sau dự báo hạ tăng trưởng tín dụng của
FED, kéo theo giá xăng dầu trong nước giảm theo, khiến chi phí đầu vào của
nhiều doanh nghiệp cũng giảm.
Tăng trưởng tín dụng chỉ tăng 0,76% trong 6 tháng năm 2012, có thể thấy
trong 2 tháng nới lỏng gần đây, tiền bơm ra cho nền kinh tế chủ yếu vẫn từ ngân
sách thông qua các dự án cơ sở hạ tầng trong khi nguồn vốn từ hệ thống NHTM
vẫn chưa được khơi thông đến doanh nghiệp.Thúc đẩy hoạt động cho vay của hệ
thống ngân hàng cho hoạt động đầu tư tư nhân sẽ là điểm mấu chốt quyết định sự
tăng trưởng của nền kinh tế trong 6 tháng cuối năm. Với việc lạm phát ở mức
thấp và tỷ giá vẫn nằm trong tầm kiểm soát, mục tiêu tiên quyết của điều hành
chính sách trong 6 tháng cuối năm chính là tập trung tăng trưởng.
T
r


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status