Bài tập nhóm 5 GVGD: TS. Đỗ Thị Kim Hoa
Lớp: CH21H Page 1
Bài tập nhóm 5 GVGD: TS. Đỗ Thị Kim Hoa
1.Giáo trình Tài chính Quốc tế
2.Nguồn Tổng cục Thống kê
www.gso.gov.vn
3.Nguồn Tổng cục hải quan
www.customs.gov.vn
4.Nguồn Kênh thông tin kinh tế - tài chính Việt Nam
www.cafef.vn
5.Nguồn thị trường tài chính
www.thitruongtaichinh.vn
6.Nguồn Vietstock
http://vietstock.vn
7.Nguồn Uỷ ban giám sát tài chính quốc gia Việt Nam
nfsc.gov.vn
Lớp: CH21H Page 2
Bài tập nhóm 5 GVGD: TS. Đỗ Thị Kim Hoa
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng. Thương mại, đầu tư và
các quan hệ tài chính quốc tế… đòi hỏi các quốc gia phải thanh toán với nhau. Thanh
toán giữa các quốc gia dẫn đến việc mua bán các đồng tiền khác nhau, đồng tiền này lấy
đồng tiền kia. Hai đồng tiền được mua bán với nhau theo một tỷ lệ nhất định, tỷ giá này
được gọi là tỷ giá.
!"#"$%&'("! )"*+!",-
Trong chế độ bản vị vàng (chế độ tiền tệ quốc tế Pari), tiền tệ lưu thông là tiền đúc
bằng vàng và giấy bạc ngân hàng được đổi tự do ra vàng căn cứ vào hàm lượng vàng của
nó. TGHĐ lúc này là quan hệ so sánh hai đồng tiền vàng của hai nước với nhau hoặc là
GBP, AUD, NZD, EUR và SDR.
</ =#>+7"&'("! )"*+!"
<?#:@AB+& C"*"D%%EFG!#
Tỷ giá mua vào (Bid Rate): Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua
vào đồng tiền yết giá.
Tỷ giá bán ra (Ask/Offer Rate): Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng
bán ra đồng tiền yết giá.
Tỷ giá mua vào bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán ra và khoản chênh lệch đó là lợi
nhuận kinh doanh ngoại hối của ngân hàng.
<.?#:@AB+HI 7#& F# &+!#
Tỷ giá giao ngay (tỷ giá cơ sở - Spot Rate): Là tỷ giá được thỏa thuận ngày hôm
nay, và việc thanh toán xảy ra sau hai ngày làm việc tiếp theo.
Tỷ giá kỳ hạn (Forward rate): Là tỷ giá được thỏa thuận ngày hôm nay, nhưng
việc thanh toán xảy ra sau đó từ ba ngày làm việc trở lên.
Lớp: CH21H Page 4
Bài tập nhóm 5 GVGD: TS. Đỗ Thị Kim Hoa
<<?#:@AB+%@:*JK# 0L#(>M#:!#:=#& F# &+!#
Tỷ giá danh nghĩa (Nominal exchange rate –NER): Là tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng
tiền biểu hiện theo giá hiện tại, không tính đến bất kỳ ảnh hưởng nào của lạm phát.
Tỷ giá thực (Real exchange rate – RER): Là tỷ giá có tính đến tác động của lạm
phát và sức mua của một cặp tiền tệ phản ánh tương quan giá cả nước ngoài với giá cả
trong nước. Qua đó, giá cả nước ngoài sẽ được chuyển đổi thành giá cả tính bằng tiền tệ
trong nước thông qua tỷ giá danh nghĩa. Tỷ giá này đại diện cho khả năng cạnh tranh
quốc tế của nước đó.
<N?#:@AB+: O# P!: &'("!
Tỷ giá chính thức (Official rate): là tỷ giá do NHTW công bố, phản ánh chính
thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ. Ở Việt Nam, tỷ giá chính thức là tỷ giá giao
dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, là cơ sở để các NHTM xác định
tỷ giá kinh doanh trong biên độ cho phép.
Tỷ giá chợ đen (Black market rate): là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống
sở tại thường được chuyển đổi ra đồng nội tệ theo tỷ giá chính thức. Bên cạnh đó tỷ giá
còn có tác động tới chi phí sản xuất và hiệu quả các hoạt động đầu tư nước ngoài. Do đó
sự thay đổi TGHĐ có ảnh hưởng nhất định tới hành vi của các nhà đầu tư nước ngoài
trong việc quyết định có đầu tư vào nước sở tại hay không.
Đầu tư gián tiếp: là loại hình đầu tư thông qua hoạt động tín dụng quốc tế cũng
như việc mua bán các loại chứng khoán có giá trên thị trường.
Trong một thế giới có sự luân chuyển vốn quốc tế tự do khi TGHĐ tăng tổng lợi
tức từ khoản vay bằng ngoại tệ lớn hơn lãi suất trong nước sẽ xảy ra hiện tượng luồng
vốn chảy ra nước ngoài và ngược lại TGHĐ giảm luồng vốn sẽ đổ vào trong nước.
Như vậy muốn tạo môi trường đầu tư ổn định nhằm phát triển kinh tế đòi hỏi các
quốc gia xây dựng và điều chỉnh một chính sách tỷ giá ổn định hợp lý giảm mức độ rủi
ro trong lĩnh vực đầu tư và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Lớp: CH21H Page 6
Bài tập nhóm 5 GVGD: TS. Đỗ Thị Kim Hoa
NWS"#T#0S:#(+B";
Các khoản vay nợ nước ngoài thường được tính theo đơn vị tiền tệ nước đó hoặc
những đồng tiền mạnh nên khi TGHĐ tăng lên cũng đồng nghĩa với sự tăng lên của gánh
nặng nợ nước ngoài. Ngày nay khi sự luân chuyển vốn quốc tế ngày càng tự do thì các
nước đặc biệt các nước đang phát triển càng cần phải thận trọng hơn trong chính sách tỷ
giá để đảm bảo tăng trưởng và khả năng trả nợ nước ngoài
.XY
. 4*J&'("!:)*Z#
Tỷ giá được quyết định bởi NHTW, NHTW công bố mức tỷ giá chính thức và
cam kết can thiệp để duy trì một mức tỷ giá cố định, gọi là tỷ giá trung tâm trong một
biên độ hẹp đã được định trước và để duy trì khả năng chuyển đổi đồng tiền trong nước
với đồng tiền nước ngoài theo giá công bố thì NHTW phải điều hòa lượng ngoại tệ trên
thị trường ngoại hối để đảm bảo cân bằng cung cầu ngoại tệ.
-Ưu điểm:
+ Hạn chế sự biến động của tỷ giá vì vậy không cần phải dự phòng cho rủi ro tỷ
giá
năng cho sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tế chứng minh rằng, càng thả nổi
tỷ giá thì sự phát triển kinh tế càng kém ổn định. Bởi lẽ, biến động của tỷ giá rất phức
tạp, chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, tâm lý, xã hội đặc biệt là nạn đầu
cơ. Trên thực tế thì lại không có thị trường thuần tuý nên không thể có một chế độ tỷ giá
thả nổi hoàn toàn. Sự can thiệp của Chính phủ vào thị trường ngoại hối làm cho tỷ giá
hối đoái có những diễn biến thuận lợi hơn nên chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý ngày càng
được nhiều quốc gia lựa chọn đặc biệt là các nước đang phát triển.
.< 4*J&'("!& K#[":\*"RE&"4&
Lớp: CH21H Page 8
Bài tập nhóm 5 GVGD: TS. Đỗ Thị Kim Hoa
Đây là chế độ tỷ giá hối đoái có sự can thiệp của hai chế độ cố định và thả nổi. ở
đó, tỷ giá được xác định và hoạt động theo quy luật thị trường, chính phủ chỉ can thiệp
khi có những biến động mạnh vượt quá mức độ cho phép.
Có 3 kiểu can thiệp của Chính phủ:
+ Kiểu can thiệp vùng mục tiêu: Chính phủ quy định tỷ giá tối đa, tối thiểu và sẽ
can thiệp nếu tỷ giá vượt quá các giới hạn đó.
+ Kiểu can thiệp tỷ giá chính thức kết hợp với biên độ dao động: Tỷ giá chính
thức có vai trò dẫn đường, chính phủ sẽ thay đổi biên độ dao động cho phù hợp với từng
thời kỳ.
+ Kiểu tỷ giá đeo bám: Chính phủ lấy tỷ giá đóng cửa ngày hôm trước làm tỷ giá
mở cửa ngày hôm sau và cho phép tỷ giá dao động với biên độ hẹp.
<6XYX
Sự hình thành nên TGHĐ là quá trình tác động bởi nhiều yếu tố chủ quan và
khách quan. Nhưng nhìn chung, có ba yếu tố chính tác động đến tỷ giá. Đó là mối quan
hệ cung cầu về ngoại tệ, lạm phát và mức chênh lệch lãi suất giữa các nước.
<)"VEF# $:E#(:UEAR#(+7" )"
Cung và cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến
động của TGHĐ.
Đường cầu ngoại tệ: Cầu ngoại tệ là lượng ngoại tệ mà thị trường muốn mua vào
bằng đồng nội tệ. Khi nhu cầu về USD của người Việt Nam tăng lên, điều này làm cho
không đổi) Khi lựa chọn nắm giữ đồng tiền nội tệ hay ngoại tệ, người ta sẽ xem xét mức
lãi suất thực tế của hai đồng tiền này. Khi lãi suất của VND tăng (từ R1đến R2) so với lãi
suất USD, điều này sẽ xuất hiện xu hướng chuyển sang nắm giữ VND. Do đó, làm cho
cầu về VND tăng lên, từ đó làm cho giá củaVND tăng lên so với USD, dẫn đến tỷ giá
Lớp: CH21H Page 10
Bài tập nhóm 5 GVGD: TS. Đỗ Thị Kim Hoa
giảm (từ E1 xuống E2). Như vậy, lãi suất đồng VND và tỷ giá VND/USD có quan hệ
ngược chiều. Khi lãi suất đồng VND tăng làm cho VND lên giá và USD mất giá.
<N _#(34E&)H !:
Ngoài ba yếu tố chính tác động đến TGHĐ đã được trình bày ở phần trên, TGHĐ
còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như:
Yếu tố tâm lý: Là một yếu tố chủ yếu dựa trên sự phán đoán từ các sự kiện, tình
hình chính trị, kinh tế của các nước và thế giới có liên quan.
Chính sách hối đoái: Là những hoạt động của chính phủ thông qua một chế độ tỷ
giá nhất định và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá hợp lý phù
hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ.
Đầu tư ra nước ngoài, việc quản lý của NHTW, các yếu tố về chính trị - kinh tế,
uy tín của đồng nội tệ… cũng là những yếu tố gây ảnh hưởng lên sự biến động của tỷ
giá.
N
N !"#"$%: O# P!: &'("!
Chính sách tỷ giá là những hoạt động của Chính phủ ( mà đại diện thường là
NHTW) thông qua một chế độ tỷ giá nhất định (hay cơ chế điều hành tỷ giá) và hệ thống
các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá có định hay tác động để tỷ giá biến
động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách kinh tế quốc gia.
N.`:&"ME:QF: O# P!: &'("!
Tùy theo mỗi một quốc qua mà chính sách tỷ giá sẽ có những mục tiêu khác nhau,
nhưng nhìn chung nó bao gồm:
Lớp: CH21H Page 11
Bài tập nhóm 5 GVGD: TS. Đỗ Thị Kim Hoa
-Với chính sách tỷ giá định thấp đồng nội tệ sẽ có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu và
hạn chế nhập khẩu, giúp cải thiện được cán cân vãng lai từ trạng thái thâm hụt trở về
trạng thái cân bằng hay thặng dư.
-Với chính sách tỷ giá định giá cao nội tệ sẽ có tác dụng kìm hãm xuất khẩu và
kích thích nhập khẩu, giúp điều chỉnh cản cân vãng lai từ trạng thái thặng dư về tráng
thái cân bằng hay thâm hụt.
-Với chính sách tỷ giá định giá cân bằng dẽ có tác dụng làm cân bằng xuất khẩu và
nhập khẩu giứ cắn cân vãng lai tự động cân bằng.
N<!:#J"aE#(:QF: O# P!: &'("!
4.3.1./ !("!&"R#&$
Trong chế độ tỷ giá cố định Phá giá tiền tệ là việc Chính phủ đành tụt giá đồng nội
tệ so với đồng ngoại tệ. Biểu hiện của phá giá tiền tệ là tỷ giá được điều chỉnh tăng so
với tỷ giá được Chính phủ cam kết duy trì trước đó. Tỷ giá tăng làm đồng nội tệ giảm
giá. Trong tình trạng nghiêm trọng của khủng hoảng ngoại hối, khi mà sức mua của tiền
tệ giảm sút mạnh và không thể đại biểu cho sức mua danh nghĩa của nó, khi mà trong
suốt thời gian dài TGHĐ biến động mạnh thì vấn đề xác định lại TGHĐ là điều không
thể tránh khỏi, song các nhà nước không thừa nhận điều đó, họ phá giá tiền tệ lúc nào,
mức độ ra sao là phụ thuộc vào mục đích kinh tế và chính trị của họ. Phá giá tiền tệ đã
trở thành một chính sách kinh tế, tài chính của nhà nước để tác động đến TGHĐ và cán
cân thanh toán quốc tế.
Phá giá tiền tệ là sự tụt sức mua của tiền tệ nước mình so với ngoại tệ thấp hơn
sức mua thực tế của nó.
Tác dụng của phá giá tiền tệ đối với nước tiến hành phá giá có thể là:
+ Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá, hạn chế nhập khẩu hàng hoá, do đó có tác
dụng khôi phục lại sự cân bằng của cán cân ngoại thương, nhờ vậy góp phần cán cân
thanh toán quốc tế.
+ Khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối và hạn chế xuất khẩu vốn ra bên ngoài
cũng như chuyển tiền ra ngoài nước, do đó có tác dụng làm tăng khả năng cung ngoại
hối, giảm nhu cầu về ngoại hối, nhờ đó TGHĐ sẽ giảm xuống.
Lớp: CH21H Page 13
Bài tập nhóm 5 GVGD: TS. Đỗ Thị Kim Hoa
NN!::b#(:`&89:&"42
5+7&*J#(%EFG!#:QFc&8M#& Z&80C#(#(+7" )"
Là hoạt động của NHTW các nước trong việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì
một tỷ giá cố định (trong chế độ tỷ giá cố định) hay ảnh hưởng làm cho tỷ giá thay đổi
đến một mức nhất định theo mục tiêu đã đề ra (trong chế độ tỷ giá thả nổi). Để tiến hành
can thiệp thì NHTW phải có một lượng dự trữ ngoại hối đủ mạnh. Các hoạt động thay
đổi cung tiền trong lưu thông có thể làm cho nền kinh tế bị áp lực lạm phát hoặc thiểu
phát chính vì vậy đi kèm với các hoạt động can thiệp trục tiếp thì NHTW phải sử dụng
thêm nghiệp vụ thị trường mở để hấp thụ lượng dư cung hoặc bổ sung sự thiếu hụt tiền tệ
trong lưu thông .
+ Nghiệp vụ thị trường mở nội tệ: Đây là nghiệp vụ dễ dàng thực hiện và có tác
động trực tiếp đến tỷ giá hối đoái.Nghiệp vụ này tác động đến cung tiền trong nước,
NHTW đóng vai trò là người mua bán tiền tệ trực tiếp cuối cùng trên thị trường liên ngân
hàng tại một mức tỷ giá nào đó.Để công cụ này có hiệu quả thì quốc gia phải có lượng
dự trữ ngoại tệ lớn.
+ Nghiệp vụ thị trường mở thuần tuý: Nghiệp vụ này được sử dụng để thay đổi
lượng cung tiền lưu thông từ đó làm thay đổi tỷ giá hoặc lãi suất thông qua việc mua bán
các giấy tờ có giá.
5d"$#2 !2H4& )"
Là việc chính phủ quy định với các thể nhân và pháp nhân có nguồn thu ngoại tệ
phải bán một tỷ lệ nhất định trong một thời hạn nhất định cho các tổ chức được phép
kinh doanh ngoại hối.
Biện pháp này được áp dụng trong thời kỳ khan hiếm ngoại tệ giao dịch trên thị
trường ngoại hối. Mục đích chính của biện pháp này là tăng cung ngoại tệ để đáp ứng
nhu cầu ngoại tệ cho thị trường, hạn chế hành vi đầu cơ và giảm áp lực phá giá đồng nội
tệ.
5E3*Z# 7#: 4*)"&0T#(*0T:%EF#(+7"&$
Lớp: CH21H Page 15
Bài tập nhóm 5 GVGD: TS. Đỗ Thị Kim Hoa
Thuế quan cao có tác dụng hạn chế nhập khẩu, cầu ngoại tệ giảm, nội tệ lên giá
(và ngược lại).Vì vậy cho nên không nên áp đặt một mức thuế quá cao sẽ dẫn tới khả
năng xuất khẩu bị giảm sút (do nội tệ lên giá), thuế quan cũng gây ra tệ nạn buôn lậu,
thuế càng cao buôn lậu càng tăng và những điều này làm giảm phúc lợi chung do đó làm
giảm hiệu quả khai thác nguồn lực của nền kinh tế.
Đối với những nước có nền sản suất non trẻ thì thuế quan cũng là một cách để bảo
hộ trước sự tấn công của hàng hoá các nước khác.
5"!:K
Thông qua hệ thống giá cả, chính phủ có thể trợ giá cho những mặt hàng xuất
khẩu chiến lược hay đang trong giai đoạn đầu sản xuất.Trợ giá xuất khẩu làm cho khối
lượng xuất tăng, làm tăng cung ngoại tệ, nội tệ lên giá. Chính phủ cũng có thể bù giá cho
một số mặt hàng nhập khẩu thiết yếu, bù giá làm tăng nhập khẩu, nội tệ giảm giá.
Trợ cấp chia làm 2 loại: trực tiếp bổ trợ tức là trực tiếp chi tiền cho nhà xuất khẩu
và gián tiếp bổ trợ tức là ưu đãi về tài chính về một số mặt hàng cho nhà xuất khẩu như
ưu đãi về thuế trong nước, thuế xuất khẩu…
Đây được xem như là một thủ đoạn để lũng đoạn thị trường thế giới.
5"RE: e# &'>$a9&8_Gf&GEJ:Gg#(#(+7"&$*)"AS":!:
Khi thị trường khan hiếm ngoại hối thì NHTW có thể tăng dự trữ ngoại hối đối
với các khoản ngoại tệ huy động được của các NHTM, chi phí huy động ngoại tệ tăng
cao, các NHTM phải hạ lãi suất huy động để tránh bị lỗ, khiến cho việc nắm giữ ngoại tệ
trở nên kém hấp dẫn so với việc nắm giữ nội tệ, tăng cung ngoại tệ trên thị trường.
5E3*Z# %@:>]"PE^&&8U#Hh% ^2ai#*)"AS"&"R#(j"Gg#(#(+7"&$
Lớp: CH21H Page 17
Bài tập nhóm 5 GVGD: TS. Đỗ Thị Kim Hoa
;klmnop
qqrXp.s.
nopqqrX.s.
d)":K# H"# &4t: O# &8Z
?#(&80L#(H"# &4
Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 1997 đã giảm xuống 4% vào năm 1998 do ảnh
22.97%. Năm 2009, suy thoái của kinh tế thế giới khiến sức cầu suy giảm, giá nhiều
Lớp: CH21H Page 19
Bài tập nhóm 5 GVGD: TS. Đỗ Thị Kim Hoa
hàng hóa cũng xuống mức khá thấp, lạm phát trong nước được khống chế. CPI năm 2009
tăng 6.52%, thấp hơn đáng kể so với những năm gần đây. Tuy vậy, mức tăng này nếu so
với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới lại cao hơn khá nhiều. Năm 2010, chính
phủ đặt mục tiêu kiểm soát CPI cuối kỳ khoảng 7%. Mục tiêu này có thể không được
hoàn thành khi 2 tháng đầu năm CPI đã tăng 3.35%. Ngoài ra, nền kinh tế hiện nay vẫn
còn tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể dẫn đến lạm phát cao trong những tháng sắp tới.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát cao trong giai đoạn này trong đó có sự
tác động của chi phí đẩy bao gồm cả việc điều chỉnh tỷ giá (theo tính toán của
UBGSTCQG, việc điều chỉnh tăng tỷ giá 9,3% vào tháng 2/2011 có thể khiến CPI năm
2011 tăng thêm 1,2%.).
u# .;):*J&?#(: eP)("!&"MEaw#(/:QF"$&F%("F"*+7#
qqrx.s,y-
Nguồn: vietstock.vn
Theo công bố của Tổng cục Thống kê tại cuộc họp báo chiều ngày 24/12, CPI
tháng 12/2012 tăng 0,27% so với tháng trước và cả năm 2012 tăng 6,81%. Như vậy, lạm
phát năm 2012 thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu đề ra là 8%. Kết quả này là rất tích cực so
với mức tăng 11,75% của năm 2010 và 18,13% của năm 2011.
Lớp: CH21H Page 20
Bài tập nhóm 5 GVGD: TS. Đỗ Thị Kim Hoa
<UE&0
Nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam được thể hiện dưới 04 hình thức chính: (1)
Đầu tư trực tiếp (FDI); (2) Đầu tư gián tiếp (FII); (3) Tín dụng quốc tế (chủ yếu thu hút
qua hình thức thu hút vốn ODA); (4) Nguồn kiều hối gửi về Việt Nam hàng năm.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI): Giai đoạn 1998-2004, do tác động tiêu cực
của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, nên trong số 3.968 dự án mới trong giai đoạn
này, phần lớn có quy mô nhỏ. Nếu năm 1998 có hơn 5 tỷ USD vốn đăng ký, thì sang
năm 1999 đã giảm còn một nửa với 2,565 tỷ USD và hồi phục dần đến năm 2004 là
Nguồn kiều hối gửi về Việt Nam hàng năm: Trong 02 năm 2010-2011, bình
quân lượng kiều hối gửi về Việt Nam theo đường chính thức thông qua hệ thống ngân
hàng mỗi năm khoảng 9 tỷ USD; riêng năm 2012, mặc dù kinh tế thế giới và Việt Nam
còn rất khó khăn, lượng kiều hối gửi về Việt Nam vẫn không giảm, dự kiến năm nay,
kiều hối trên 10 tỷ USD. Như vậy, nếu tính từ năm 2006 đến nay, thì tổng lượng kiều hối
gửi về Việt Nam khoảng 55 tỷ USD. Đây là một lượng tiền rất lớn nằm trong dân cần
khai thác, đưa vào phục vụ đầu tư sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế.
Nu# u# {E^&# |2H }E"$&F%&~#?%qqr*4#.s.
N•E^&H }EAB# |2H }E&~#?%qqr*4#.s
Lớp: CH21H Page 22
Bài tập nhóm 5 GVGD: TS. Đỗ Thị Kim Hoa
Thời kỳ 2007 đến 2011, hoạt động xuất nhập khẩu đạt được những bước tiến
mạnh,một phần nhờ vào việc Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào thị trường quốc
tế
1
. Trong giai đoạn 2007-2011, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trung bình đạt 56 tỷ
USD/năm; Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu tăng 33,3%, lên mức 96,26 tỷ USD.
Độ mở của nền kinh tế trong giai đoạn này có xu hướng tăng, tỷ lệ tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu/GDP năm 2010 ở mức 155,4% và đạt 169,8% vào năm 2011.
Thời kỳ 2007 đến 2011, kim ngạch nhập khẩu có tốc độ tăng cao, đặc biệt trong
hai năm 2010 -2011, sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO.Năm 2011, kim
ngạch nhập khẩu đạt 105,77 tỷ USD, tăng 25% so với năm 2010.
Nhập siêu giai đoạn 2007-2010 tăng mạnh, bình quân đạt 12,5 tỷ USD/năm, bằng 3,3
lần con số 3,8 tỷ USD của thời kỳ 5 năm trước. Tuy nhiên, tỷ lệ nhập siêu lại giảm mạnh
trong năm 2011.
u# N;"%#(7: {E^&H }Et# |2H }EAB# |2P"ME("F"*+7#.ss€5.s
Đơn vị: triệu USD
Nguồn: T>nh toán t? s@ liệu của TCTK.
N.•E^&H }EAB# |2H }E#?%.s.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
Bài tập nhóm 5 GVGD: TS. Đỗ Thị Kim Hoa
tốc độ tăng trưởng của thị trường chứng khoán gấp đôi so với năm 2004, huy động được
44,600 tỷ đồng, hiện giờ giá trị cổ phiếu so với GDP của cả nước đạt gần 1%.
Trong những năm 2006-2007, thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển khá
mạnh. Cả hai chỉ số VnIndex và HnxIndex đều đã đạt đỉnh vào đầu năm 2007 với các
mức lần lượt là 1.158,3 điểm và 459,4 điểm. Giai đoạn tiếp theo, do chịu ảnh hưởng từ
khủng hoảng kinh tế thế giới cũng như những bất ổn từ kinh tế vĩ mô trong nước, thị
trường đi xuống mạnh trong năm 2008 và nửa đầu năm 2009. Những dấu hiệu phục hồi
được xác lập vào nửa cuối của năm 2009 với mức tăng khá cả về chỉ số cũng như khối
lượng giao dịch, nhưng sau đó thị trường trở lại với sự giằng co với xu thế giảm trong
suốt năm 2010 và giảm mạnh trong 2011. Thị trường chứng khoán Việt Nam là một
trong những thị trường sụt giảm mạnh nhất trên thế giới trong năm 2011. Thị trường
chứng khoán Việt Nam chịu ảnh hưởng và phản ánh những khó khăn, bất ổn vĩ mô như
lạm phát cao, hệ thống ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản, phần lớn doanh nghiệp
không đạt được kế hoạch doanh thu và lợi nhuận đặt ra. Xu hướng suy giảm chiếm ưu
thế rõ rệt với HNX-Index giảm 48,6%, VN Index giảm 27,5%. 62% số cổ phiếu trên cả 2
sàn có thị giá dưới mệnh giá.
u# €;v"•#G"4##a‚{AB•#a‚{
Nguồn: nfsc.gov.vn
Lớp: CH21H Page 25