Logo
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN
HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐẾN HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM TỪ CUỐI NĂM 2007 ĐẾN NAY.
GVHD:TS. THÂN THỊ THU THỦY
LỚP: K19 CAO HỌC NGÂN HÀNG ĐÊM 3
NHÓM 2
1)
2)
3)
4)
5)
6)
7)
8)
9)
PHẠM THỊ NGA (NHÓM TRƯỞNG).
LÊ NGUYỄN UYÊN PHƯƠNG
PHAN THỊ THANH TÂM.
TÔN NỮ UYÊN THƯ.
TRẦN NHƯ HỒNG THÚY.
LÂM QUỐC TOÀN.
NGUYỄN THU TRANG
LÊ THỊ TRINH.
TRẦN THỊ KHÁNH VÂN.
2
– ĐỀ XUẤT
CHÍNH
SÁCH
TIỀN TỆ
CHO
NHỮNG
NĂM TIẾP
THEO
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT.
1.1 Lý luận về CSTT.
1.2 Mục tiêu
1.2.1 Mục tiêu cuối cùng.
1.2.2 Mục tiêu trung gian.
1.2.3 Mục tiêu hoạt động
1.3 Phân loại:
1.3.1 Chính sách tiền tệ mở rộng:
1.3.2 Chính sách tiền tệ thắt chặt:
1.4 Các công cụ của chính sách tiền tệ:
1.4.1 Các công cụ trực tiếp.
1.4.1.1 Ấn định lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay.
1.4.1.2 Ấn định hạn mức tín dụng.
1.4.2 Các công cụ gián tiếp.
1.4.2.1 Quy định tỷ lệ dự trữ pháp định.
1.4.2.2 Biện pháp thị trường mở.
1.4.2.3 Biện pháp chiết khấu, tái chiết khấu và cho vay.
1.4.2 4 Giới hạn khối lượng tín dụng trên số tiền gửi nhận được.
1.4.2.5 Dự đính công trái bắt buộc.
1.4.2.6 Tỷ giá hối đoái
này được sử dụng thường xuyên trong trường hợp nền kinh tế ở
trong tình trạng lạm phát hoặc giảm phát.
(iv) Chính sách ngoại thương nhằm điều chỉnh quan hệ xuất nhập
khẩu, bảo đảm mục tiêu tăng xuất khẩu ròng; đồng thời cũng điều
tiết tổng cung và tổng cầu nội địa của nền kinh tế.
6
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT.
1.1 Lý luận CSTT.
Nguồn vốn cho nền kinh tế chủ yếu vẫn được huy động và phân
bố qua hệ thống ngân hàng và các định chế tín dụng trung gian
phi ngân hàng, mà các định chế này đều vận hành theo sự điều
tiết của chính sách tiền tệ. Do đó, chính sách tiền tệ có ý nghĩa
quyết định đối với sự vận động của dòng vốn đầu tư và ngay cả
chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Trên thực tế, chính
sách tiền tệ đóng vai trò chủ yếu, không chỉ trong việc hỗ trợ
doanh nghiệp về nguồn vốn lưu động, mà đang tạo điều kiện
cho doanh nghiệp nào có chiến lược kinh doanh tốt có thể tận
dụng để thực hiện chiến lược phát triển dài hạn, thông qua đầu
tư phát triển sản phẩm mới. Chính sách tiền tệ vẫn là công cụ
chủ yếu để ổn định giá cả, thực thiện chính sách ngoại thương
thông qua sự điều hành chính sách tỷ giá và bảo đảm tính
thanh khoản trong thanh toán quốc tế.
7
PHẦN 2: TÁC ĐỘNG CỦA CSTT ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH
Các nền kinh tế lớn trên thế giới tuyên bố rơi vào tình trạng suy thoái (14/11: 15 nước
Châu Âu thừa nhận suy thoái, 17/11 Nhật thông báo suy thoái, 1/12 Mỹ thừa nhận đã
suy thoái từ cuối năm 2007).
9
2.1 GIAI ĐOẠN 1: TỪ NĂM CUỐI 2007 ĐẾN THÁNG 9/2008.
2.1.2 Thực trạng nền kinh tế Việt Nam:
- Tín hiệu xấu từ nền kinh tế vĩ mô trong nước trong 4 tháng đầu năm 2008, nhất là về thâm
hụt thương mại và tỷ lệ lạm phát gia tăng tiếp tục tạo sức ép cho nền kinh tế. Trước khó khăn
đó, Chính phủ đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của công tác điều hành trong thời gian tới tiếp
tục tập trung vào mục tiêu “phấn đấu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an
sinh xã hội và tăng trưởng hợp lý, bền vững, trong đó kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên
hàng đầu”.
-Nền kinh tế trong nước chịu nhiều thiên tai, dịch bệnh trên diện rộng và tai nạn lao động ở
mức độ nghiêm trọng tại các dự án lớn, cơ sở khác. Cơn sốt bất động sản xảy ra tại các thành
phố lớn. Thị trường chứng khoán trồi sụt bất thường và nhưng quy mô phát triển lên quy mô
gấp bội. Các luồng vốn ngoại tệ đổ vào Việt Nam tăng đột biến.
-Lạm phát giai đoạn 2007-09 (%)
10
2.1 GIAI ĐOẠN 1: TỪ NĂM CUỐI 2007 ĐẾN THÁNG 9/2008.
2.1.3 Các chính sách tiền tệ của NHNN trong giai đoạn này
•Tăng khối lượng bán tín phiếu trên nghiệp vụ thị trường mở và phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc đối với
các TCTD có quy mô vốn huy động bằng VND trên 1.000 tỷ đồng (trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương).
NHNN ban hành Quyết định số 03/2008/QĐ-NHNN, ngày 1/2/2008 về sửa đổi Chỉ
thị 03 về cho vay chứng khoán. Trái với mong đợi của các NHTM, Quyết định 03
còn thắt chặt cho vay chứng khoán hơn so với Chỉ thị 03 trước đây ảnh hưởng đến
hoạt động cho vay của các NHTM.
12
2.1 GIAI ĐOẠN 1: TỪ NĂM CUỐI 2007 ĐẾN THÁNG 9/2008.
2.1.5 Đánh giá.
Linh hoạt trong việc sử dụng các công cụ của CSTT là lãi suất, DTBB và thị trường
mở để có thể tùy theo tình hình kinh tế của quốc gia mà thắt chặt chính sách tiền tệ
khi lạm phát và nới lỏng trở lại khi bắt đầu có dấu hiệu suy thoái.
Trong hoạt động can thiệp, NHNN đã kết hợp đa dạng, linh hoạt các hình thức can
thiệp. Bên cạnh can thiệp trực tiếp, lần đầu tiên NHNN áp dụng hình thức can thiệp
gián tiếp để ổn định tâm lý thị trường. Với sự phối hợp tốt giữa NHNN với các ngân
hàng thương mại (NHTM), hình thức can thiệp này đã nhanh chóng phát huy hiệu
quả, đưa thị trường bình ổn trở lại
NHNN đã phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng làm tốt công tác tuyên
truyền, củng cố lòng tin trong nhân dân và doanh nghiệp.
Việc điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá đã được phối hợp đồng bộ.
Lãi suất VND tăng trong khi lãi suất USD giảm đã tạo sự hấp dẫn cho tiền đồng,
góp phần ổn định tỷ giá.
Khả năng thanh khoản của các tổ chức tín dụng được đảm bảo
Tin dụng tăng trưởng ở mức phù hợp, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho tăng
trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, các giải pháp rút tiền từ lưu thông nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát mà
NHNN áp dụng được nhận định là đúng đắn nhưng liều lượng và thời gian thực
hiện chưa thích hợp. Kết quả là thanh khoản của một số ngân hàng thương mại
nhỏ bị giảm sút nghiêm trọng dẫn đến cuộc đua lãi suất giữa các ngân hàng nổ ra
hiệu suy giảm từ cuối năm 2008 và mạnh nhất là quý
I/2009. Nền kinh tế Việt Nam có mức độ mở cửa lớn với
kinh tế thế giới và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, vì
vậy, mặc dù các tổ chức tài chính và doanh nghiệp Việt
Nam không đầu tư, nắm giữ các loại tài sản độc hại
nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn chịu tác động qua
kênh đầu tư, thương mại (vốn FII ra, FDI vào chậm
lại, khách quốc tế giảm, xuất khẩu sụt giảm).
15
2.2 GIAI ĐOẠN 2: TỪ CUỐI THÁNG 10/2008 ĐẾN THÁNG 11/2009
2.2.3 Các công cụ chính sách tiền tệ của NHNN trong giai đoạn này.
2.2.3.1 Gói hỗ trợ lãi suất vay:
Thứ nhất, gắn lợi ích và trách nhiệm của các ngân hàng với gói
kích thích, ở chỗ: nguồn vốn là của ngân hàng thương mại được
giải ngân theo cơ chế thông thường nhưng được Chính phủ hỗ trợ
4% lãi suất.
Nhờ đó, ngân hàng thương mại khơi thông được tín dụng với lãi
suất cho vay gần tương tự điều kiện nền kinh tế hoạt động bình
thường, điều mà không một hệ thống ngân hàng của quốc gia nào
làm được tại thời điểm đó.
Thứ hai, ngân hàng thương mại là tổ chức có đủ điều kiện vật chất
để đảm bảo cho hàng triệu khoản vay được thực hiện an toàn,
trong khi phương pháp khác không thể đạt được yêu cầu này. Kèm
theo đó là cơ chế "hậu kiểm" nên nhìn chung làm yên tâm trước
một số nghi ngại.
2.2 GIAI ĐOẠN 2: TỪ CUỐI THÁNG 10/2008 ĐẾN THÁNG 11/2009
2.2.3 Các công cụ chính sách tiền tệ của NHNN trong giai đoạn này.
Sơ đồ : Lãi suất chủ đạo của NHNN Việt Nam năm 2008 và 2009
Nguồn: số liệu công bố của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
18
2.2 GIAI ĐOẠN 2: TỪ CUỐI THÁNG 10/2008 ĐẾN THÁNG 11/2009
2.2.4 Tác động của CSTT đến hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM.
Diễn biến lãi suất năm 2009 cho thấy: Lãi suất VND diễn biến khá phức tạp và có xu hướng tăng trong nửa cuối của
năm 2009. Từ tháng 7 đến tháng 11, các ngân hàng thương mại liên tục tăng lãi suất huy động VND, tập trung từ các kỳ
hạn dài và dồn ép các kỳ hạn ngắn. Mức lãi suất cao nhất lần lượt tạo các “đỉnh” 9%, 10% và đỉnh điểm lên đến
10,5%/năm. Khái niệm “đường cong lãi suất” bị xóa nhòa khi nhiều thành viên áp thống nhất một mức cao cho hầu hết
các kỳ hạn.
Hình 3: Diễn biến mặt bằng lãi suất từ quý IV/2008 đến hết quý II/09
19
2.2 GIAI ĐOẠN 2: TỪ CUỐI THÁNG 10/2008 ĐẾN THÁNG 11/2009
2.2.4 Tác động của CSTT đến hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM.
Diễn biến lãi suất căng thẳng trong nửa cuối năm 2009 một phần phản ánh khó khăn thanh khoản của hệ thống. Điều
này dẫn đến một hệ quả ít thấy là tỷ lệ lãi biên của các ngân hàng giảm rất mạnh; nếu trong năm 2008 chênh lệch lãi suất
động và cho vay đạt khoảng 3,7%, thì năm 2009 chỉ xoay quanh 1% (đối với cho vay sản xuất kinh doanh).
2.2 GIAI ĐOẠN 2: TỪ CUỐI THÁNG 10/2008 ĐẾN THÁNG 11/2009
2.2.5 Đánh giá.
Một trong những thành công trong việc áp dụng chính sách tiền tệ của ngành
Ngân hàng trong năm 2009 là:
Hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam đảm bảo
an toàn, ổn định và có bước tăng trưởng khá, năng lực tài chính và quy mô
hoạt động tăng lên.
Tính thanh khoản của hệ thống được đảm bảo, đáp ứng đủ nhu cầu
thanh toán của nền kinh tế.
22
2.2 GIAI ĐOẠN 2: TỪ CUỐI THÁNG 10/2008 ĐẾN THÁNG 11/2009
2.2.5 Đánh giá.
Nhưng tác động phụ trong trung hạn và dài hạn có thể là:
Xét về phương diện vĩ mô:
Thông qua chính sách tài khóa Chính phủ thực hiện tăng chi cho xây dựng cơ sở hạ tầng (các
công trình hạ tâng quan trọng, cơ ở hạ tâng nông nghiệp nông thôn, y tế giáo dục, an sinh xã
hội) và giảm thu qua việc giảm thuế, giãn thuế, và kết quả là thâm hụt ngân sách tăng (7% so
có chiến lược kinh doanh tốt, có phương án dự phòng cho việc gia
tăng chi phí sản xuất khi lãi suất ngân hàng không còn ưu đãi nữa
thì các doanh nghiệp sẽ không gặp khó khăn sau khủng hoảng.
Do tác động của các giải pháp kích thích kinh tế, nhu cầu vay vốn
của các doanh nghiệp, hộ sản xuất tăng cao, kéo theo tăng trưởng
tín dụng của hệ thống ngân hàng ở mức cao, trong khi huy động
vốn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng cân đối vốn của
các TCTD. Lãi suất huy động tăng cao trong khi trần lãi suất cho
vay bị khống chế bởi lãi suất cơ bản làm chênh lệch giữa lãi suất
huy động và cho vay bị thu hẹp, gây khó khăn cho việc trích lập dự
phòng rủi ro và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các TCTD.
24
2.3 GIAI ĐOẠN 3: TỪ CUỐI THÁNG 11/2009 ĐẾN NAY.
2.3.1 Bối cảnh kinh tế thế giới
Sau suy thoái toàn cầu sâu sắc, kinh tế, thương mại toàn cầu năm 2010 tăng trưởng trở
lại nhờ các biện pháp kích thích kinh tế sâu rộng của Chính phủ các nước và giảm bớt
rủi ro mang tính hệ thống của hệ thống tài chính. Tuy nhiên, phục hồi kinh tế toàn cầu
dự kiến diễn ra chậm chạp và kinh tế vĩ mô toàn cầu còn nhiều rủi ro do:
Hệ thống tài chính vẫn còn nhiều khó khăn, biến động phức tạp (dòng tín dụng chưa
trở lại bình thường, tài sản chất lượng thấp, thua lỗ);
Các chính sách kích thích kinh tế của Chính phủ sẽ giảm dần. Lãi suất trên thị
trường quốc tế có xu hướng tăng cùng với sự phục hồi kinh tế thế giới và lạm phát gia
tăng khiến NHTƯ tăng lãi suất.
Hộ gia đình tăng mức tiết kiệm do đã bị mất do giảm giá tài sản trong khi vẫn phải
đối mặt với nạn thất nghiệp cao;
Lạm phát và giá cả hàng hóa cao hơn. Giá dầu bình quân trong năm 2010 tăng
24,3% so với năm 2009. Giá hàng hóa phi dầu bình quân năm 2010 tăng 2,4% so với
năm 2009.