MỤC LỤC
TT
Nội dung
Trang
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1
Lý do chọn đề tài
2
1.2
Mục đích của đề tài
3
1.3
Đối tượng nghiên cứu:
4
1.4
Phương pháp nghiên cứu:
4
18
3.2
Đề xuất, Kiến nghị
19
Tài liệu tham khảo
20
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
GV
HS
SGK
THPT
Nội dung
Giáo viên
Học sinh
Sách giáo khoa
Trung học phổ thông
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
cũng như giúp học sinh hiểu rõ hơn những kiến thức đã học ở phần lý thuyết.
Có thể nói Tin học 11 khó nhất đối với học sinh trong khối lượng kiến thức
THPT. Để hiểu được học sinh phải tư duy, và cũng chính điều đó học tin học 11
giúp học sinh phát triển tư duy tốt hơn. Do đó, vận dụng phương pháp dạy học
tích cực vào bài học càng trở nên cần thiết và hữu ích hơn để học sinh hiểu rõ
hơn những kiến thức đã học ở phần lý thuyết, từ đó có kỹ năng vận dụng lý
thuyết vào các bài tập thực hành cụ thể.
Là giáo viên trực tiếp đứng lớp tôi không ngừng phấn đấu trau dồi kiến
thức chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức các môn liên quan, thường xuyên học
hỏi kinh nghiệm để hoàn thiện hơn trong quá trình giảng dạy. Trong quá trình
2
giảng dạy bản thân đã rút ra kinh nghiệm nhỏ trong việc tổ chức hoạt động dạy
học là: tôi đã đưa ra “Một số bài tập thực hành và chuẩn bị cho tiết học theo
phương pháp dạy học tích cực vào tiết 37 – Tin học 11”, nhằm phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh [4], giúp HS hiểu và
nắm vững hơn đầu vào và đầu ra của một chương trình kiểu tệp, có kỹ năng sử
dụng được các thủ tục liên quan kiểu tệp để giải quyết bài toán đặt ra. [7]
Tuy giờ dạy dựa vào trọng tâm kiến thức của chương trình và đối tượng
học sinh, nhưng vẫn là mang tính chất dựa trên những kinh nghiệm cá nhân,
mong được sự góp ý của đồng nghiệp.
1.2. Mục đích của đề tài:
Hiện nay các thành tựu của tin học được áp dụng ở hầu hết các lĩnh vực
hoạt động của xã hội và đem lại nhiều thành quả to lớn. Mối quan hệ tương tác
giữa các nhu cầu của xã hội ngày càng đa dạng và những tiến bộ của khoa học kĩ
thuật đã dẫn đến sự phát triển như vũ bão của tin học. Nhiều quốc gia (trong đó
có Việt Nam) ý thức được rất rõ tầm quan trọng của tin học và có những đầu tư
lớn cho lĩnh vực này, đặc biệt trong giáo dục nâng cao dân trí về tin học và đào
tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao.
tích cực vào tiết 37 – Tin học 11”.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Các phương pháp đổi mới việc dạy và học.
Chất lượng giáo dục môn tin học qua các năm.
Học sinh lớp 11 Trường THPT Đông Sơn 1
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra quan sát.
- Phương pháp thu thập thông tin.
Các bài kiểm tra đánh giá khả năng tiếp thu, lĩnh hội kiến thức của học
sinh. Phân loại học sinh theo khả năng.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
- Phương pháp ghi chép, thống kê, xử lý số liệu, đánh giá kết quả.
4
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận:
Ngày nay, trên thế giới đang diễn ra quá trình tin học hóa trên nhiều lĩnh
vực hoạt động của xã hội loài người. Cũng giống như cuộc cách mạng công
nghiệp, cuộc cách mạng thông tin đang dẫn đến những thay đổi quan trọng trong
cách sống và ngay cả cách suy nghĩ của chúng ta. Ngoài sự tò mò, ham hiểu biết
càng sớm càng tốt mỗi người phải ý thức được rằng nếu không có hiểu biết về
tin học thì khó có thể hòa nhập vào cuộc sống hiện đại.
Chính vì vậy việc học môn tin học lại càng quan trọng, nó là hành trang
cho các em để tiến xa hơn vào cuộc cách mạng công nghệ thông tin hiện nay.
Cấu trúc được xây dựng hợp lý cùng với những bài giảng sinh động, cộng thêm
vào đó là sự hứng thú tìm hiểu, trao đổi của học sinh sẽ làm cho chất lượng môn
tin học được nâng lên.
Giáo viên tin học là người giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức một giờ
duy sáng tạo của cho người học được xem là yêu cầu bắt buộc đối với bất cứ ai
làm công tác giảng dạy, đối với bất cứ bộ môn khoa học nào.
Khi học sinh học xong bài học : Bài 14 – 15: Kiểu dữ liệu tệp - Thao tác
với tệp và 2 ví dụ Bài 16. Nếu yêu cầu học sinh chuyển một chương trình đã
hiểu và thực hành ở những tiết trước đấy sang chương trình sử dụng kiểu tệp,
thì hầu hết học sinh đều cảm thấy lung túng, khó khăn và dễ nhầm lẫn trong
việc xác định các thao tác xử lý tệp. Tiết 37- Bài tập thực hành này trong sách
giáo khoa và sách giáo viên chưa có những hướng dẫn cụ thể để được một
chuẩn chung giống như những tiết lý thuyết. Trong những trường hợp như vậy,
giáo viên sẽ linh động dựa vào đối tượng học sinh của mình, để cung cấp cho
học sinh những bài tập trong thực hành, nhằm củng cố cũng như giúp học sinh
hiểu rõ hơn những kiến thức đã học ở phần lý thuyết. Vì vậy, tôi đã mạnh dạn
đề xuất, đưa ra “Một số bài tập thực hành và chuẩn bị cho tiết học theo
phương pháp dạy học tích cực vào tiết 37 – Tin học 11 ” để giúp HS hiểu và
nắm vững hơn cách làm việc với tệp và thao tác với tệp.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sang kiến kinh nghiệm:
Vấn đề là làm thế nào để học sinh biết vận dụng các kiến thức đã học về
tệp và thao tác với tệp vào lập trình cho từng bài toán đưa ra một cách linh hoạt
khi giảng dạy tin học?
Đây là một vấn đề khó, không có một cách thức, con đường chung cho mọi
người. Sự hoạt động tích cực, chủ động của học sinh với sự tổ chức và hướng
dẫn đúng mực của giáo viên nhằm phát triển tư duy độc lập, sáng tạo góp phần
hình thành phương pháp và nhu cầu tự học, bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo
niềm tin và niềm vui trong học tập, phụ thuộc nhiều yếu tố như phương pháp
giảng dạy, phong cách, ngôn ngữ, cách thức tổ chức quá trình học tập của giáo
viên; chương trình, còn phụ thuộc rất nhiều vào học sinh.
Vậy, thực tế vấn đề này như thế nào? Để tìm hiểu kết quả của học sinh
xung quanh vấn đề vận dụng kiến thức lý thuyết đã học về tệp và thao tác với
tệp vào lập trình trong một bài kiểm tra sau tiết 37 với 2 lớp 11A5 và lớp 11A6:
+ Lớp 11A5: Giáo viên cho học sinh tìm hiểu một dạng bài tập mới và
23,91
52,14
21,74
2,17
0
TB(%)
Yếu(%)
Kém (%)
Kết quả điều
tra cũng cho thấy, để kỹ năng của học sinh trong làm việc với tệp và thao tác với
tệp đươc tốt hơn ta cần phải có phương pháp tốt hơn, nhằm phát huy tính tích
cực của người học, dạy học hướng về người học. Cụ thể hơn, cơ bản vẫn là ở
cách thức tổ chức giờ dạy của giáo viên, ở sự cuốn hút, hay nói cách khác là
nghệ thuật của giáo viên khi lên lớp. Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn
kích thích hổ trợ học sinh lĩnh hội kiến thức bằng kinh nghiệm giáo dục của
mình.
2.3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
a. Chuẩn bị:
Giáo viên:
- Lập kế hoạch bài dạy:
+ Đọc kỹ bài dạy nắm mục tiêu cần đạt
- Giáo viên hướng dẫn học sinh cách thảo luận.
Bước 2: Chia nhóm
Những học sinh ngồi tại mỗi máy là một nhóm.
Cung cấp những câu hỏi định hướng quá trình làm việc của nhóm.
Bước 3: Thảo luận nhóm
- Các nhóm tiến hành làm việc theo nhóm
- Giáo viên tham gia quản lý và định hướng làm việc cùng các nhóm, hỗ trợ
cho các nhóm khi cần thiết.
- Giáo viên tổ chức hướng dẫn các hoạt động, gợi mở -vấn đáp[4], khuyến
khích học sinh tích cực hoạt động.
- Giáo viên quản lí, giám sát học sinh thảo luận nhóm
+ Trong quá trình học sinh thảo luận giáo viên theo dõi, quan sát và bổ
sung khi cần.
+ Phát hiện các nhóm hoạt động không có hiệu quả uốn nắn điều chỉnh
+ Nắm chắc đặc điểm tâm lý của từng học sinh để kịp thời động viên
khuyến khích nhằm tạo không khí phấn khởi tự tin trong học tập.
+ Luôn có ý thức trách nhiệm trợ giúp tránh can thiệp sâu làm hạn chế
khả năng độc lập, sáng tạo của học sinh.
+ Xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trò, giữa trò với trò
Bước 4: Tiếp nhận thông tin phản hồi từ phía học sinh
+ Học sinh đại diện nhóm trình bày kết quả, thành viên trong nhóm có thể
bổ sung.
+ Nhóm khác nghe để phát hiện – giải quyết vấn đề [4] nếu nhóm phát
biểu trước đó chưa đúng lắm hoặc gần đúng…, bổ sung kiến thức còn thiếu. từ
đó làm nảy sinh ý thức vươn lên trước bạn bè của mỗi thành viên trong nhóm
nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh.
+ Giáo viên tổng kết ngắn gọn theo từng nội dung thảo luận.
Bước 5: Tổng kết rút kinh nghiệm thảo luận nhóm:
Khen thưởng các nhóm, các thành viên hoạt động tích cực, sáng tạo, nhắc
nhở tinh thần, thái độ cộng tác trong việc thảo luận nhóm. Trình chiếu kết quả
IV. NỘI DUNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Ổn định lớp (1’).
2. Kiểm tra bài cũ (7’): GV trình chiếu Slides2 với nội dung:
Câu hỏi: Hãy nêu cách khai báo và các thao tác đối với tệp văn bản trong
Pascal? Cho ví dụ?
(GV cho học sinh ghi câu trả lời vào 1 góc bảng)
Đáp án:
Khai báo biến tệp văn bản có dạng :
VAR <Tên biến tệp> : TEXT;
Gắn tên tệp:
ASSIGN(< Tên biến tệp>,<Tên tệp>);
Ví dụ: ASSIGN(F2,'bai1.out');
- Câu lệnh mở tệp để ghi kết quả có dạng :
ASSIGN(F2,'bai1.out');
REWRITE(<Tên biến tệp>);
Ví dụ
REWRITE(F2);
Để chuẩn bị đọc dữ liệu từ tệp đã có ta mở tệp bằng câu lệnh :
RESET(<Tên biến tệp>);
Ví dụ: Để đọc dữ liệu từ tệp DL.INP ta có thể mở tệp bằng :
ASSIGN(F1,’bai1.inp’);
RESET(F1);
- Đọc/ghi tệp định kiểu WRITE(<Tên biến tệp>,<Tên Biến >); {ghi xong
không xuống dòng}
Hoặc WRITELN(<Tên biến tệp>,<Tên Biến >); {ghi xong xuống dòng}
Trong đó Tên biến là biến cùng kiểu với kiểu phần tử tệp.
Ví dụ: WRITE(F2,S);
Nếu tệp được mở bằng thủ tục RESET thì có thể đọc thông tin. Câu lệnh đọc có
dạng:
READ(<Tên biến tệp>,<Tên biến >); { đọc xong không xuống dòng}
cũng đã viết lên góc
bảng) điền vào những
chỗ giáo viên gợi ý,
hướng cho học sinh
cách
làm
trên
(Slides4).
- Trong lúc các nhóm
vừa thực hành trên máy
vừa suy nghĩ cách làm,
giáo viên sử dụng
phương pháp gợi mở vấn đáp [4] có thể gọi
một số HS ở các nhóm
khác nhau đứng tại chỗ
trả lời để các nhóm còn
lại có thể phát hiện và
(Slides3):
- Học sinh mở
sách giáo khoa,
bài tập thực hành
3 trang 64 ra xem
lại chương trình
đã học và thực
hành. Ghi nội
dung Bài tập 1
vào vở.
- Mỗi nhóm suy
sung cho câu hỏi phân
tích và trả lời phân tích,
trình chiếu bài giải
tham khảo trên bảng
(Slides5).
Sau đó hướng dẫn HS
nhấn phím F3 tạo tệp
bai1.inp, nhập dữ liệu
theo đề bài, lưu lại.
Quay lại chương trình,
chạy chương trình, rồi
mở tệp bai1.out cho
học sinh thấy kết quả
(quá trình này có thể
quan sát trên (Slides6).
- Đại diện một số
nhóm trả lời và
giải thích.
- HS quan sát, so
sánh bài giải tham
khảo trên bảng,
cách
tạo
tệp
bai1.inp, nhập dữ
liệu theo đề bài,
lưu lại. Quay lại (Slides6)
chương trình, chạy
chương trình, rồi
viên gợi ý, hướng cho
học sinh cách làm
trên (Slides8).
- Trong lúc các nhóm
vừa thực hành trên
máy vừa suy nghĩ
cách làm, giáo viên
sử dụng phương
pháp gợi mở - vấn
đáp [4] có thể gọi
một số HS ở các
nhóm khác nhau
đứng tại chỗ trả lời
để các nhóm còn lại
có thể phát hiện và
giải quyết vấn đề [4]
tốt hơn.
(Slides7)
Học sinh mở sách
giáo khoa, bài tập
thực hành 4 trang 65;
66 ra xem lại chương
trình đã học và thực
hàn. Ghi nội dung
Bài tập 2 vào vở.
- Mỗi nhóm suy nghĩ,
vận dụng kiến thức đã
học về tệp (được GV
sung cho câu hỏi lại. Quay lại chương
phân tích và trả lời trình, chạy chương
phân tích, trình chiếu trình, rồi mở tệp
bài giải tham khảo bai2.out thấy kết quả
trên
bảng hoàn thiện chương
(Slides9).Sau
đó trình trên máy của
hướng dẫn HS nhấn mình.
phím F3 tạo tệp
bai1.inp, nhập dữ
liệu theo đề bài, lưu
lại. Quay lại chương
trình, chạy chương
trình, rồi mở tệp
(Slides 10):
bai1.out cho học sinh
thấy kết quả (quá
trình này có thể quan
sát trên (Slides10).
- Yêu cầu học sinh
hoàn thiện chương
trình trên máy. Giáo
viên tiếp cận từng
học sinh để sửa lỗi
cần thiết.
14
pháp gợi mở - vấn
đáp có thể gọi một
số HS ở các nhóm
khác nhau đứng tại
chỗ trả lời để các
nhóm còn lại có thể
phát hiện và giải
(Slides11):
- Học sinh mở sách
giáo khoa, bài tập
thực hành 5 trang 73
ra xem lại chương
trình đã học và thực
hành ở đầu học kỳ 2.
Ghi nội dung Bài tập
3 vào vở.
- Mỗi nhóm suy nghĩ,
vận dụng kiến thức đã
học về tệp( được GV
ôn lại thông qua kiểm
tra bài cũ và nội dung
chính cũng đã viết lên
góc bảng) điền vào
những chỗ giáo viên (Slides12):
gợi ý cách làm trên
bảng của Bài tập 3.
- HS ở các nhóm khác
lại. Quay lại chương
trình, chạy chương
trình, rồi mở tệp
bai3.out cho học sinh
thấy kết quả.
- Yêu cầu học sinh
hoàn thiện chương
trình trên máy. Giáo
viên tiếp cận từng
học sinh để sửa lỗi
cần thiết.
Hoạt động 4: Tổng kết rút kinh nghiệm thảo luận nhóm: (2 phút)
Nhận xét, đánh giá quá trình làm việc của các nhóm và kết quả thảo luận
của các nhóm.
Khen thưởng các nhóm, các thành viên hoạt động tích cực, sáng tạo, nhắc
nhở tinh thần, thái độ cộng tác trong việc thảo luận nhóm ở mỗi máy.
16
c. Củng cố và giao bài tập về nhà(3’):
- Củng cố: (2’):
GV củng cố lại các kiến thức chính trong tiết học cùng nhấn mạnh các lỗi
mà học sinh gặp phải khi thao tác với tệp.
- Dặn dò học sinh chuẩn bị cho tiết học sau: (1’)
Xem lại chương trình vừa học và vận dụng chuyển các chương trình đã
học sang dạng tệp. GV trình chiếu Slides bài tập về nhà:
ơ
2.4. Kết quả đạt được
27,91
9,3
0
0
11A
3
48,89
33,33
17,78
0
0
11A
34,09
47,73
18,18
0
thao tác với tệp, từ đó học sinh sẽ nhận biết rất nhanh về xử lý bài toán liên
quan đến tệp.
Giáo viên phải có tính sáng tạo, phải linh hoạt kết hợp hài hòa các phương
pháp dạy học sao cho phù hợp.
Giáo viên phải luôn luôn tìm tòi và học hỏi để nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ, xứng đáng là một người giáo viên mẫu mực để học sinh noi
theo.
Tăng cường bồi dưỡng các dạng bài tập cho học sinh, luôn luôn đổi mới
phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung tâm. Giáo viên là người đưa ra vấn
đề và học sinh phải tìm ra phương pháp giải quyết vấn đề đó.
Mặc dù bản thân đã có gắng rất nhiều nhưng không thể tránh khỏi những
thiếu sót, tôi rất mong được sự đóng góp của các đồng nghiệp để đề tài được
hoàn thiện và đạt hiệu quả cao hơn.
3.2. Đề xuất, kiến nghị
Bên cạnh sự nỗ lực của giáo viên thì sự quan tâm của toàn ngành và của
xã hội là điều không thể thiếu. Do đó, để nâng cao chất lượng dạy học, cần có sự
quan tâm của các cấp, của ngành và đặc biệt là của Ban giám hiệu và hội đồng
sự phạm nhà trường. Sự chỉ đạo, tập huấn của ngành về đổi mới phương pháp
dạy học nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 05 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Việt