1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
Theo các nhà lí luận văn học, người đọc và quá trình tiếp nhận là một
khâu quan trọng trong toàn bộ đời sống của một tác phẩm văn chương. Ở khâu
này, tác phẩm sẽ thoát li hẳn khỏi người sinh thành - tác giả để tự mình có một
cuộc sống riêng. Cuộc sống đó lâu dài hay ngắn ngủi, được tiếp nhận hay bị lãng
quên, tất cả đều phụ thuộc vào cảm nhận và đánh giá của người đọc. Đến lượt
mình, trình độ tiếp nhận tác phẩm văn chương của độc giả được đo đếm thông
qua khả năng “giải mã” những thông điệp thẩm mĩ mà nhà văn đã dụng công gửi
gắm. Mà khả năng giải mã những thông điệp thẩm mĩ ấy lại có liên quan chặt
chẽ đến điểm nhìn, góc độ phân tích, tiếp cận tác phẩm. Vì thế, đề tài của tôi có
ý nghĩa như một đề xuất về cách tiếp cận văn bản nghệ thuật ngôn từ từ nhiều
góc độ phục vụ cho công tác giảng dạy trong nhà trường.
Bên cạnh đó, hiện nay đổi mới phương pháp dạy - học đang trở thành nhu
cầu tất yếu của ngành giáo dục Việt Nam nhằm hướng tới mục tiêu nâng cao
chất lượng dạy và học. Tự đổi mới cũng là con đường đưa giáo dục Việt Nam
hòa nhập với nền giáo dục hiện đại toàn cầu, tiến kịp nền giáo dục tiên tiến của
các quốc gia trên thế giới. Một trong những phương pháp đổi mới đem lại hiệu
quả khá cao trong nhà trường hiện nay đó là phương pháp dạy học tích hợp.
Phương pháp tích hợp cho phép giáo viên có thể kết hợp nhiều kỹ năng trong
một tiết dạy, vừa dạy kiến thức, vừa dạy kỹ năng sống, vừa dạy cách làm người.
Không những thế, tích hợp còn là sự phối hợp nhiều môn khoa học hay các phân
môn trong cùng một bộ môn để làm cho tiết học trở nên phong phú đa dạng và
thu hút hơn đối với người tiếp nhận.
Từ góc độ thực tiễn, tôi chọn tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? bởi
đây là một tác phẩm mới, khá tiêu biểu cho thể loại kí hiện đại. Đó là những
trang văn tài hoa mê đắm được Hoàng Phủ Ngọc Tường dệt nên bằng câu chữ
tuyệt diệu với sự kết hợp hài hòa của chất nhạc, chất thơ sâu đằm. Thể loại kí đã
có từ lâu nhưng để tiếp nhận một cách sâu sắc về thể loại này thì không hề đơn
giản. Ta đã biết đến Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân – một tác phẩm kí
nổi tiếng về sông Đà nhưng có lẽ đến với kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? – bài
- Phương pháp phân tích- tổng hợp, thống kê toán học, so sánh....
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
1.5. Đóng góp mới của đề tài.
Với đề tài Một số biện pháp dạy học tích hợp nhằm nâng cao hiệu quả
giờ dạy - học tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, tôi đã tiếp cận, soi rọi
tác phẩm từ nhiều góc độ như góc độ lí luận văn học, lý thuyết thi pháp thể loại,
góc độ văn hoá, góc độ âm nhạc, hội họa, địa lý, lịch sử…. để đổi mới cách dạy
tác phẩm. Mặt khác, qua đề tài với sự tích hợp cùng nhiều phân môn khác nhau
từ lý luận văn học đến văn học sử, thơ ca….., tôi giúp học sinh có một cái nhìn
sâu sắc, toàn diện hơn về tác giả và tác phẩm nhằm tạo tiền đề vững chắc cho
việc tiếp nhận văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông?. Từ đó, tôi mong muốn
mang đến cho các em một không khí lớp học sôi nổi để các em hứng thú, tích
cực, chủ động hơn trong cách tiếp nhận một tác phẩm kí nói chung, tác phẩm Ai
đã đặt tên cho dòng sông? nói riêng. Tôi muốn chứng minh tác phẩm là một
“tuyệt phẩm” mang giá trị vô cùng phong phú và sâu sắc.
2. NỘI DUNG
2
2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề.
2.1.1. Đặc điểm của tiếp nhận văn học.
Theo lý thuyết tiếp nhận văn học thì tiếp nhận một tác phẩm văn học của
học sinh là một quá trình nhận thức có tính đặc thù, luôn tồn tại những “khoảng
cách tiếp nhận”. Để rút ngắn khoảng cách tiếp nhận, học sinh cần được trang bị
một lượng tri thức văn học nhất định phù hợp để tham gia vào khám phá thế giới
nghệ thuật trong tác phẩm. Đặc biệt với thể loại kí thì việc giúp các em tự trang
bị những tri thức ấy là một việc làm vô cùng có ý nghĩa tạo nên chiếc cầu nối để
các em dễ dàng hơn khi đến với tác phẩm.
2.1.2. Dạy học tích hợp - nhu cầu tất yếu trong đổi mới phương pháp
trong nhà trường còn hạn chế cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng học
sinh chưa mấy mặn mà với môn ngữ văn. Không chỉ có vậy, nhiều giáo viên
chưa thấy được vai trò quan trọng của thể loại kí nên đôi khi còn dạy mang tính
3
chiếu lệ, chưa thực sự đầu tư tâm huyết và thời gian. Mặt khác, có những thầy cô
chỉ chú trọng phần khai thác nội dung mà xem nhẹ tính chất thể loại, chưa có
cách dạy thu hút được học sinh. Thiết nghĩ mỗi thầy cô cần thay đổi cách nghĩ,
cách dạy để biến mỗi giờ dạy văn học thành một giờ học hứng thú và ý nghĩa.
2.2.2. Thực trạng của học sinh.
Ai đã đặt tên cho dòng sông? là một bài kí mang đậm dấu ấn bút kí hiện
đại được mạnh dạn đưa vào nội dung giảng dạy Ngữ văn 12, THPT chương trình
mới. Và nó nhanh chóng trở thành một trong những bài học trọng tâm để học
sinh thi tốt nghiệp THPT, thi Đại học. Chưa có được chiều dài thời gian tiếp xúc
và chiều sâu thẩm thấu cảm nhận như những tác phẩm khác trong chương trình
Ngữ văn 12 nên bài kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn là một thách thức đối
với cả người dạy và người học. Học sinh còn lạ lẫm với những sáng tác nghệ
thuật theo thể kí. Giáo viên thì phải tự tìm tư liệu để lĩnh hội thấu đáo tác phẩm,
lại phải tìm cách diễn đạt sao cho thật dễ hiểu đối với học sinh. Chính vì vậy,
việc tích hợp kiến thức liên môn, phân môn đặc biệt là kiến thức về thể loại là
hết sức cần thiết.
Từ những thực trạng trên, tôi vô cùng trăn trở và mạnh dạn đề ra một số
giải pháp dạy học tích hợp nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy-học tác phẩm Ai đã
đặt tên cho dòng sông? để biến tiết học trở thành một giờ khám phá thú vị cũng
như giúp học sinh hiểu hơn về tài năng độc đáo của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
2.3. Các biện pháp thực hiện.
2.3.1. Vài nét về Hoàng Phủ Ngọc Tường và vị trí của văn phẩm “Ai đã
đặt tên cho dòng sông?”.
2.3.1.1. Hoàng Phủ Ngọc Tường – nhà văn của những trang văn tài
tuổi ông đã thực sự ghi dấu ấn đậm nét qua bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông?.
2.3.1.2. “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” – một trong những đỉnh cao
của bút kí hiện đại Việt Nam.
Bài kí Ai đã đặt tên cho dòng sông in trong tập bút kí cùng tên. Tập sách
gồm tám bài kí, viết ngay sau chiến thắng mùa xuân 1975, đang bừng bừng cảm
hứng ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhưng ở Hoàng Phủ Ngọc Tường,
lòng yêu nước, tinh thần dân tộc thuờng gắn với tình yêu thiên nhiên và truyền
thống văn hóa sâu sắc. Bài bút kí thể hiện lòng yêu nước, tinh thần dân tộc gắn
liền với tình yêu thiên nhiên sâu sắc, với truyền thống văn hóa, lịch sử lâu đời,
đồng thời truyền đạt bằng một ngòi bút tài hoa, với lời văn đẹp và sang. Linh
hồn của bài viết chính là vẻ đẹp huyền thọai của dòng sông Hương qua ngòi bút
tài hoa, lãng mạn của nhà văn.
Đọc những trang viết về Huế của Hoàng Phủ Ngọc Tường (trong đó có
bài Ai đã đặt tên cho dòng sông?), nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, đã
nhận xét: Nói rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường yêu Huế và hiểu Huế, thì đó là một
lẽ đương nhiên. Tôi muốn đi xa hơn, tìm một căn nguyên thầm kín để cắt nghĩa
cho sự thành công mỹ mãn của những trang viết ấy: phải chăng ở đây đã có một
sự hòa hợp, tương giao, linh ứng giữa cảnh sắc Huế, lịch sử Huế, văn hóa Huế
với một tâm hồn nhà văn dễ rung động, nhạy cảm, tinh tế. Phải là sự tương
giao, đến mức hòa quyện chặt chẽ mới sinh ra được những áng văn tài hoa
không dễ một lần thứ hai viết được như thế…”. Cũng như tình yêu của sông
Hương với Huế, tình yêu của Hoàng Phủ Ngọc Tường với sông Hương cũng là
quá trình dâng tặng, khám phá và hoàn thiện chính mình...Tác phẩm nhanh
chóng trở thành một trong những văn phẩm xuất sắc nhất của Hoàng Phủ Ngọc
Tường trên con đường khám phá bút kí hiện đại, đưa tác giả trở thành một trong
những người viết kí hay nhất của văn học Việt Nam.
2.3.2. Một số biện pháp dạy học tích hợp nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy học tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”.
2.3.2.1. Giải pháp 1: Tích hợp trong quá trình hướng dẫn học sinh chuẩn bị
bài học.
Để có một bài giảng hoàn chỉnh và hấp dẫn lôi cuốn, học sinh tiếp nhận
+ Vì sao sông Hương lại trở thành dòng sông của thi ca, âm nhạc và là nguồn
cảm hứng bất tận cho người nghệ sĩ?
+ Tác giả lí giải về tên của dòng sông như thế nào? Cách lí giải ấy cho em hiểu
thêm điều gì về tính cách và tâm hồn người Huế?
+ Một bài kí đặc sắc như vậy chỉ có thể là kết quả, là tổng hoà của những tình
cảm và phẩm chất nào ở Hoàng Phủ Ngọc Tường?
2.3.2.1.2. Biện pháp thứ hai: Tích hợp với công nghệ thông tin hướng
dẫn các em tìm tài liệu tham khảo trên mạng internet để bổ trợ kiến thức.
Thời đại công nghệ thông tin là thời đại cho phép học sinh không chỉ
chuẩn bị bài bằng sách vở mà còn có thể mở rộng vốn hiểu biết của mình bằng
cách tìm hiểu thông tin trên mạng. Tuy nhiên, nhiều thầy cô ít chú trọng đến vấn
đề này. Riêng với tôi, khi tiến hành hướng dẫn học sinh chuẩn bị cho bài học tôi
thường hướng dẫn học sinh tham khảo trước các cuốn sách, các bài viết về tác
giả, tác phẩm trên mạng internet. Học sinh chỉ cần gõ Google rồi gõ Hoàng Phủ
Ngọc Tường hoặc Ai đã đặt tên cho dòng sông hoặc bút kí hiện đại và tìm
đọc các bài viết về tác phẩm.
2.3.2.2. Giải pháp 2: Tích hợp trong quá trình hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn
bản.
6
Để giúp học sinh có một hành trình khám phá văn bản đầy thú vị, tôi đã ứng
dụng một số biện pháp cụ thể như sau:
2.3.2.2.1. Biện pháp thứ nhất: Tích hợp với kiến thức phân môn.
*Tích hợp với Lý luận văn học để cung cấp cho học sinh những kiến thức
lý luận cơ bản về thể loại kí.
Hành trình tiếp nhận “đứa con tinh thần” của mỗi nhà văn là một hành trình
khám phá thú vị nhưng cũng đòi hỏi người đọc có những định hướng tiếp nhận phù
hợp dựa vào đặc trưng thể loại của tác phẩm. Để giúp học sinh dễ hiểu hơn và hứng
thú hơn trong quá trình khám phá tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông?, tôi sẽ
- Phân loại: Trong thể kí lại bao gồm nhiều tiểu loại:
Tiêu chí
Ký tự sự
Ký trữ tình
Ký chính luận
7
Tiểu
loại
Đặc
điểm
- Kí sự, phóng sự,
truyện kí, hồi kí, du
kí, tản văn:
- Nhật kí, bút kí , tùy
bút.
- Tiểu phẩm văn học,
tạp văn, tạp kỹ…
Kí tự sự chủ yếu
Đối với loại kí trữ
hình xã hội tiêu biểu,
của bài văn.
những con người và
sự việc giàu ý nghĩa
xã hội và khái quát.
- Giáo viên cũng cần chỉ ra cho học sinh thấy sự khác biệt giữa truyện
và kí để các em không bị nhầm lẫn về thể loại.
Tiêu chí
Truyện
Kí
Đề tài
Thường phản ánh vấn đề sự hình Kí thường hướng đến các vấn đề
thành tính cách của cá nhân trong trạng thái dân sự như kinh tế, xã
tương quan với hoàn cảnh.
hội, chính trị, và trạng thái tinh
thần
như phong
hóa, đạo
đức của chính môi trường xã hội
hoặc vẻ đẹp thiên nhiên.
Cốt
Truyện có cốt truyện rõ ràng.
Kí thường không có cốt truyện.
truyện
Thể loại Truyện dài, truyện vừa, truyện - Kí tự sự
ngắn, tiểu thuyết…
- Kí trữ tình
- Kí chính luận
Nghệ
Tác phẩm truyện có một xung đột Tác phẩm kí không có một xung
khuôn khổ nhất định sự việc một cách
hay một hệ thống phong phú, sinh động
chặt chẽ mà tuỳ theo nhưng qua đó biểu
dòng cảm xúc, dòng hiện trực tiếp khuynh
suy nghĩ nhất thời, hướng cảm thụ của
để ngọn bút đưa đi tác giả và mang màu
từ liên tưởng này sắc trữ tình.
sang liên tưởng
khác.
Nghệ
Ngôn ngữ giàu tính Kết hợp linh hoạt các Hình ảnh chân thực,
chất trữ tình, nặng phương thức nghị khách quan. Ngôn từ
thuật
về những ý nghĩ luận, tự sự, trữ tình.
riêng tư sâu sắc, Thể loại văn học này mang tính kể, tả
thâm trầm và lôi là thể loại trung gian nhiều hơn là bộc lộ
cuốn người đọc. Lời giữa tùy bút và kí sự. cảm xúc.
văn cũng phóng
khoáng, thoải mái.
*Tích hợp với văn học sử để đối sánh tác phẩm kí của Hoàng Phủ
Ngọc Tường với các nhà văn khác nhằm thấy điểm sáng tạo, tạng chất riêng
ở văn nhân.
Để hiểu rõ hơn tạng văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, chúng ta cần thấy được
sự khác biệt giữa văn phong Hoàng Phủ Ngọc Tường và các nhà văn khác trong
đó tiêu biểu phải kể đến Nguyễn Tuân với Người lái Đò sông Đà. Vì vậy, giáo
9
viên cần khơi mở kiến thức để học sinh nhận thấy được nét riêng trong cá tính
Hoàng Phủ văn nhân qua việc so sánh đặc điểm kí của hai tác giả.
sông Đà: Nghiêng về phát hiện và đã đặt tên cho dòng sông?: Thiên
diễn tả những hiện tượng đập về chất thơ trữ tình dịu ngọt.
mạnh vào giác quan người đọc
*Tích hợp với thể loại thơ trữ tình để thấy vẻ đẹp đậm chất thơ của
dòng Hương giang.
Với trí tưởng tượng của nhà văn, sông Hương hiện lên qua những vẻ đẹp
đậm chất thơ. Có khi là “cô gái Digan phóng khoáng và man dại”, có lúc “tự
hiến đời mình làm một chiến công”, có lúc lại trở về trong “cuộc sống bình
thường, là một người con gái dịu dàng của đất nước”. Người con gái ấy chắc
chắn phải là cô gái Huế tài hoa và sâu sắc, tình tứ và dịu ngọt, lẳng lơ kín đáo
mà rất mực chung tình, biết làm đẹp một cách ý nhị duyên dáng với chút sương
khói như “tấm voan huyền ảo của tự nhiên”.
10
Dựa trên căn cứ vào thứ ngôn ngữ có nhịp điệu vốn là đặc trưng thứ
nhất của ngôn ngữ thơ ca mà ta có thể ví bài bút kí như một bài thơ. Thứ nữa
là ngôn từ của tác phẩm rất giàu giá trị tạo hình được biểu hiện qua một thế giới
tính từ được dùng hết sức phóng túng. Có những những tính từ vừa lấp lánh sắc
màu vừa ấm áp cảm xúc: "Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một
bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua
những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có
lúc nó trở lại dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa
đỗ quyên rừng". Vì tuân theo quy luật cảm xúc mà câu văn thường dài, nhiều
mệnh đề như những lớp sóng ngôn từ xao động để diễn đạt những lớp sóng hưng
phấn cảm xúc của văn nhân.
Nhà văn cho rằng có một dòng thi ca về sông Hương, một dòng thơ
không bao giờ lặp lại mình, mỗi thi nhân đều tìm cho mình một cảm hứng mới
mẻ, độc đáo về dòng sông. Có khi là “nỗi quan hoài vạn cổ” trong thơ Bà Huyện
Thanh Quan, khi mang vẻ đẹp hùng tráng như “kiếm dựng trời xanh” trong thơ
nguồn từ rừng già, cường tráng và mãnh liệt vượt qua những cánh rừng Trường
Sơn, uốn lượn quanh co qua miền Châu Hoá, “từ ngã ba Tuần, sông Hương
theo hướng Nam Bắc qua điện Hòn Chén, vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng
sang Tây Bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ
một hình cung thật tròn về phía Đông Bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần
về Huế”. Nhìn trên bản đồ sông Hương, học sinh cũng sẽ dễ dàng nhận ra Cồn
Giã Viên và Cồn Hến cùng những chi lưu là những nhánh sông đào đã khiến cho
dòng nước sông Hương chảy rất chậm, cơ hồ như không chảy khi đến Huế. Chi
tiết “sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang Cồn Hến” và đường cong ấy
làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu
sẽ khó hình dung khi các em không nhìn thấy đường cong duyên dáng ấy trên
bản đồ sông Hương. Hơn nữa, trước khi sông Hương đổ ra biển, dòng chảy của
nó còn quay lại một lần nữa ở thị trấn Bao Vinh xưa cổ như vương vấn không
muốn xa rời người tình chung thủy- thành phố Huế. Sự xuất hiện một loạt các
địa danh văn hoá vốn gắn liền với xứ Huế thực không vô tình, như muốn nói với
bạn đọc: sông Hương chính là hiện thân, là bộ mặt, là linh hồn của xứ Huế.
Việc vận dụng kiến thức Địa lí còn giúp học sinh hiểu địa hình Việt
Nam, các dòng sông chảy từ Tây sang Đông, hầu hết ở thượng nguồn đều là
vùng núi cao, nhiều vực thẳm, rừng già khiến cho nước chảy xiết dữ dội. Điều
đó giúp các em hiểu vẻ đẹp của sông Hương vùng thượng nguồn “là một bản
trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những
ghềnh thác, cuộn xoáy như những cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn”. Tiếp đó,
khi chảy về đồng bằng, địa hình thấp, dòng chảy sông Hương chậm hơn, êm
đềm hơn.
Từ kiến thức địa lý đặc điểm sông ngòi miền nhiệt đới ẩm gió mùa giúp
học sinh hiểu thêm về giá trị của sông Hương. Ở nước ta mạng lưới sông ngòi
dày đặc, nước lên theo mùa, các con sông thường nhiều nước, nhiều phù sa bồi
đắp cho bờ bãi ven sông. Sông Hương vì thế khi ra khỏi rừng đã trở thành
“người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở” bồi đắp nên đồng bằng châu thổ xứ
Huế cũng là hình thành nên văn hóa xứ Huế.
thấm đẫm chất văn hóa, chất Huế đậm nét. Bởi vậy, khi giảng dạy tác phẩm,
giáo viên phải giúp học sinh hiểu sâu hơn về văn hóa xứ Huế nhằm giúp các em
thấy được sông Hương mang đậm linh hồn văn hóa xứ sở. Đó có thể là một sắc
tím Huế biểu tượng riêng cho xứ này – một sắc màu đã có từ xưa, vốn là màu áo
điều lục với loại vải vân thưa màu xanh chàm lồng lên một màu đỏ ở bên trong
tạo thành một màu tím ẩn hiện. Đó còn là sắc áo cưới của xứ Huế ngày xưa,
trong những ngày nắng được đem ra phơi và luôn in bóng trên mặt sông Hương
trữ tình. Có lẽ vì thế khi miêu tả sắc màu phản quang của sông Hương, Hoàng
Phủ Ngọc Tường không quên nhắc đến sắc chiều tím sông Hương- vẻ đẹp dịu
nhẹ, trữ tình đặc trưng. Đó có thể là đêm hội hoa đăng rằm tháng bảy với hàng
trăm ngọn đèn hoa bồng bềnh hay âm thanh của người tài nữ đánh đàn lúc đêm
khuya…Đó là giọng hò dân gian cũng là tâm hồn người Huế lan xa và âm vang
khắp mặt sông. Bởi vậy nhạc sỹ Trịnh Công Sơn từng viết:
Nếu một mai tỉnh dậy sông Hương biến mất
Liệu Huế có còn thơ mộng nữa chăng?
*Tích hợp với hội họa để thấy được chất họa đậm nét qua ngôn từ
của tác phẩm.
Đối với Hoàng Phủ Ngọc Tường những trang kí của ông không chỉ thấm
đẫm chất nhạc, chất thơ mà còn giàu chất hội họa. Qua ngòi bút tinh tế, sông
Hương hiện hữu với những đường nét, màu sắc hài hòa đa dạng tạo nên một
hình ảnh trọn vẹn về dòng sông từ thượng nguồn cho đến khi ra biển. Để giúp
học sinh hiểu thêm giá trị ấy, giáo viên cần cung cấp các kiến thức hội họa cho
học sinh. Đường nét và màu sắc là hai yếu tố chủ đạo trong hội họa. Nắm được
điều đó, dưới con mắt tinh tế, sông Hương hiện ra đẹp thơ mộng bởi những
đường nét uốn lượn mềm mại và duyên dáng, những màu sắc hài hòa và bình dị
tạo nên một bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp.
Trước tiên sông Hương hiện lên qua những đường nét khá phong phú.
Vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một đường
cung thật tròn…"; "vòng nhiều khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những
13
hoặc của “tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia”, âm thanh
nồng ấm thân yêu của “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”, âm thanh
không lời của một tình yêu e ấp, âm thanh của chính dòng sông được ví như
“người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”, “tiếng nước rơi bán âm”, tiếng “những
mái chèo khua đập nước”…; và chất nhạc đặc biệt được hiện ra trong những liên
tưởng tới “nền âm nhạc cổ điển Huế”.
Ca Huế là một đặc điểm của nền âm nhạc cổ truyền xứ Huế; nơi mà hai
thành phần âm nhạc: chuyên nghiệp bác học (nhã nhạc Cung đình), thành phần
dân gian (dân ca: hò, lý…) thường xuyên tác động qua lại, gắn bó, thâm nhập,
thúc đẩy lẫn. Nhã nhạc cung đình Huế - một thể loại âm nhạc đã được UNESCO
công nhận là di sản phi vật thể của thế giới. Loại hình âm nhạc này đã được hình
thành, biểu diễn và lưu giữ trên chính dòng Hương giang. Bởi thế, dòng sông
còn là cái nôi sản sinh âm nhạc truyền thống dân tộc. Bên cạnh đó là những điệu
hò sông nước xứ Huế đã được hình thành trên sông Hương suốt hàng ngàn năm
qua. Một đêm ca Huế có thể được tổ chức trong một thính phòng nho nhỏ nhưng
thi vị và hấp dẫn hơn cả là được nghe ca Huế trong một đêm trăng trên dòng
Hương Giang thơ mộng. Lúc đó tâm hồn của người nghe và cả ca sĩ cùng dàn
nhạc dường như được siêu thoát trong một bầu không khí như được thăng hoa
cùng trời, mây, sông, nước. Một trong những khúc nhạc nổi tiếng mà tác giả
nhắc đến ở đây là khúc Tứ đại cảnh mà nhiều ý kiến cho là tác phẩm do chính
Vua Tự Đức (1848 – 1883) sáng tác. Với phần kiến thức mở về âm nhạc mà giáo
viên cung cấp học sinh sẽ hiểu hơn về chất nhạc trên sông Hương, về hình ảnh
người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya…. Theo cảm nhận chủ quan với rất nhiều
thiên vị của tình yêu, Hoàng Phủ Ngọc Tường cho rằng có lẽ vẻ đẹp buồn lãng
mạn của sông Hương là nguyên nhân của nhiều liên tưởng về mối quan hệ kỳ
diệu giữa dòng sông đêm, bản nhạc và câu thơ Nguyễn Du: “Trong như tiếng
hạc bay qua/ Đục như tiếng suối mới sa nửa vời” .Sông Hương thực sự trở thành
nguồn cảm hứng vô tận của âm nhạc và thi ca và chính dòng sông cũng là bản
nhạc êm đềm, những khúc tình ca xao xuyến lòng người.
*Tích hợp với môn giáo dục công dân để giáo dục cho học sinh những
2.3.2.3. Giải pháp thứ 3: Tích hợp trong quá trình củng cố bài học.
Để củng cố bài học, tôi có thể sử dụng một trong các cách như đưa ra hệ
thống câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra mức độ tiếp nhận ở học sinh, sử dụng ý nghĩa
thông điệp của tác phẩm như một đề nghị luận mở hoặc tổ chức trò chơi “ô chữ văn
học”…để giúp học sinh nắm vững ý nghĩa tác phẩm.
2.3.2.3.1. Biện pháp thứ nhất: Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm
Câu 1: Văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông? được viết theo thể loại nào?
A. Bút kí.
B. Tùy bút.
C. Kí sự.
Đáp án: A
Câu 2: Hình ảnh sông Hương ở thượng nguồn được miêu tả tựa như:
A. Người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya.
B. Cô gái Digan phóng khoáng, man dại.
C. Người con gái Huế.
Đáp án: B
16
Câu 3: Nhịp điệu chậm rãi, lặng lờ của dòng sông Hương khi chảy qua
thành phố Huế được tác giả so sánh với:
A. Điệu Slow chậm.
B. Vũ điệu man dại phóng khoáng của cô gái Di gan.
C. Vũ điệu cồng chiêng.
Đáp án: A
Câu 4: Trong văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông?, khi miêu tả đoạn sông
Hương vòng về “gặp lại” thành phố Huế ở thị trấn Bao Vinh, tác giả liên
tưởng đến điều gì?
A. “Sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ…người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở.”
B. “Một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu.”
Kết quả bài làm thu được ở hai lớp 12A9 và 12A10 như sau
+ Trước khi ứng dụng SKKN:
Kết quả
Giỏi
Khá
Trung bình
Lớp
Sĩ số
SL
TL%
SL
TL%
SL
TL%
SL
12A9
40
5
12,5
15
37,5
18
45,0
2
12A10
50
4
8,0
16
32,0
30,0
23
57,5
05
12,5
0
0
12A10 50
10
20,0
22
44,0
18
36,0
0
0
Kết quả bài làm cho thấy, tỉ lệ học sinh trả lời câu hỏi đầy đủ, lô gic, sáng
tạo đạt giỏi, khá là 87,5% ở 12A9 và chiếm tới 64,0% ở 12A10. Tỉ lệ học sinh
có kết quả trung bình gần như rất thấp chỉ chiếm 12,5% ở 12A9 và 36,0% ở
18
12A10. Như vậy, có thể thấy việc ứng dụng sáng kiến đã thực sự có được hiệu
quả nhất định. Các em đã thực sự cảm thấy đam mê, hứng thú hơn rất nhiều với
cách dạy - học tích hợp này.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Đổi mới phương pháp dạy học là một “hành trình” không ít những khó
khăn và thử thách song cũng là một hành trình đầy thú vị bởi qua đó người giáo
tập huấn cho tổ trưởng mà các giáo viên khác cũng được bồi dưỡng.
Đây là sáng kiến kinh nghiệm tôi đã ứng dụng trong dạy học Ngữ văn song
chắc hẳn còn có những hạn chế. Kính mong Hội đồng khoa học và các đồng
nghiệp góp ý thêm để sáng kiến ngày càng hoàn thiện.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Tôi xin cam đoan sáng kiến kinh nghiệm là do tôi viết, không copy của ai.
Thanh Hóa, ngày 30 tháng 05 năm 2017
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
Người thực hiện
Nguyễn Thị Hà
20
21