Một số biện pháp hướng dẫn học sinh trung bình yếu lớp 12 ôn thi tốt nghiệp THPT quốc gia môn ngữ văn năm 2017 - Pdf 43

I- MỞ ĐẦU
1.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đang sống trong thế kỉ XXI, thế kỉ của tri thức, khoa học, công
nghệ thông tin. Sự thay đổi của thế giới kéo theo những biến động không nhỏ ở
một nước đang phát triển như Việt Nam. Từ 2009 đến nay, việc thay đổi sách
giáo khoa về cơ bản đã hoàn tất đến chương trình lớp 12. Vấn đề thi cử, dạy học
cũng phải đổi mới để phù hợp với tình hình thực tiễn. Giáo dục là một trong bốn
trụ cột của nước nhà. Dạy Văn, học Văn là một trong những chiến lược quan
trọng để phát triển con người nên giáo viên trực tiếp giảng dạy chương trình này
cũng liên tục phải đổi mới để theo kịp với đà phát triển của xã hội.
Thế nhưng có một mâu thuẫn đáng bàn, từ 2010 đến nay, học sinh hầu
như không còn “mặn mà” với môn Văn. Học sinh trường THPT Thạch Thành 3
là một thực tế. Trường THPT Thạch Thành 3 là một trường miền núi nhưng số
lượng các em theo học khối C, D chỉ còn một lớp, còn lại là các lớp thuộc ban
KHTN và các lớp đại trà. Số HS học được Văn và có tố chất thật sự chỉ đếm trên
đầu ngón tay. HS học lệch theo khối đã là chuyện thường thấy ở một trường
THPT thuộc vùng 135 này.
Hơn nữa, mục tiêu giáo dục xã hội đang đặt ra cấp thiết: Trong tất cả các
môn KHXH, môn Ngữ Văn từ 2006 đến nay đã có những thay đổi đáng kể: Ra
đề thi theo lối trắc nghiệm, chấm theo dạng Pi sa của nước ngoài; rèn kĩ năng
đọc hiểu văn bản thay cho việc kiểm tra tái hiện kiến thức; viết bài văn nghị luận
xã hội ; rồi đoạn văn nghị luận xã hội được tích hợp với phần Đọc hiểu văn bản;
làm văn cảm thụ văn chương... Ngày 01/4/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo
(GDĐT) đã gửi Công văn số 1656/BGDĐT- KTKĐCLGD về việc hướng dẫn tổ
chức thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2014, trong đó có nội dung "Đề thi
môn Ngữ văn có 2 phần: đọc hiểu và làm văn" [1]Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội
nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XI đã khẳng định: “Tiếp tục đổi
mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối
truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc... Đổi mới căn bản hình thức và
phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung

thi 6 môn, có ba môn tích hợp liên môn(KHTN hặc KHXH) trong hai ngày rưỡi
khiến HS thi theo môn khối nào cũng cần phải ôn số lượng môn gấp rưỡi so với
mọi năm. Bởi vậy, mỗi tuần HS đều phải học ôn kín cả 6 buổi chiều. Thời gian ôn
luyện cho các em mỗi môn cũng bị cắt giảm. Ngữ Văn là một trong hai môn then
chốt để xét tốt nghiệp cho các em cũng chỉ còn 1 buổi chiều / 1 tuần.
HS trường THPT Thạch Thành 3 đa số chủ yếu thuộc vùng 135, gồm 7 xã,
có 5 xã là con em dân tộc. HS các lớp đại trà, nhất là lớp cuối của khối, để có ý
thức học tập, ôn thi tốt không phải dễ; các em có tâm lí e ngại, chây lười; ngại khó;
ngại khổ; không chịu học và làm bài; các em cũng không sợ bị điểm liệt...; GV lại
phải làm sao cho HS ôn luyện đạt kết quả tốt nhất trong khoảng thời gian ít nhất.
Từ đó, thiết nghĩ rằng, nếu giáo viên giảng dạy các môn thi này không có
những biện pháp hướng dẫn ôn tập thích hợp và hiệu quả ngay từ đầu năm học
thì các em học sinh sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc hệ thống kiến thức để
ôn thi và cũng có thể, điểm số của môn thi Ngữ Văn sẽ không đạt được kết quả
như mong đợi. Vì những lí do nêu trên, tôi mạnh dạn đề xuất sáng kiến kinh
nghiệm với đề tài: “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh trung bình yếu lớp 12
ôn thi tốt nghiệp THPT Quốc gia môn Ngữ Văn năm 2017 ".
1.2. Mục đích nghiên cứu:
- Môn Ngữ Văn trong nhà trường có vị trí rất quan trọng. Trước hết, môn Ngữ
Văn thuộc nhóm khoa học xã hội. Nó có nhiệm vụ giáo dục quan điểm, tư
tưởng, tình cảm cho học sinh. Với nhiệm vụ xét Tốt nghiệp, Ngữ Văn là một
trong hai môn học chính quyết định đến kết quả học tập 12 năm của người học.
2


- Với học sinh trung bình yếu, giáo viên là người hướng đạo quan trọng, là kim
chỉ nam dẫn dắt các em đi đúng hướng.
- Tìm được những biện pháp ôn tập thích hợp, giáo viên sẽ giúp các em ôn luyện
một cách chủ động, tích cực, tự tin để chuẩn bị bước vào kì thi lớn nhất trong
cuộc đời.

1
Nguyễn Văn Cường 12A4 Bài viết
Kĩ năng
4,0
2
Lê Bá Duẩn
12A4 Bài viết
Kĩ năng
4,5
3
Đoàn Hồng Sơn
12A4 Bài viết
Kĩ năng
4,0
4
Bùi Văn Trung
12A4 Bài viết
Tư tưởng 4,0
5
Trương Văn Dược
12A9 Bài viết
Kĩ năng
3,0
6
Bùi Văn Thường
12A9 Bài viết
Kĩ năng
4,0
7
Bùi Văn Tuyến

yếu kém

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

Nguyên
nhân yếu
kém
Kĩ năng
Tư tưởng
Kĩ năng
Kĩ năng
Kĩ năng
Kĩ năng
Tư tưởng
Tư tưởng
Kĩ năng
Kĩ năng
Tư tưởng
Tư tưởng

6.2
Trương Thị Hoa
12A7 Bài viết
4.5
6.6
6.7
Quách Văn Khải
12A7 Bài viết
4.5
5.8
6.3
Phạm Thị Linh
12A7 Bài viết
3.0
5.3
6.0
Bùi Văn Ngân
12A7 Bài viết
4.5
5.8
6.4
Đinh Văn Quang
12A7 Bài viết
3,0
6.5
6.7
Hoàng Đình Tâm
12A7 Bài viết
4.0
6.3

GD-ĐT đã công bố, “dễ thấy đề thi lần này yêu cầu cao hơn về độ khó, đi sâu
vào từng câu. Vì vậy, cần định hướng đúng cách học và ôn thi để đạt hiệu quả
cao” [4].
- Điểm mới của đề tài lần này là chỉ ra những khó khăn của HS TB yếu khi ôn
thi Tốt nghiệp THPT Quốc gia môn Ngữ Văn năm 2017; chỉ ra những giải pháp
và biện pháp cụ thể sau mỗi tuần luyện ôn, thực hành chấm chuyên cần; hiệu
quả thiết thực đối với các phần Đọc hiểu; viết đoạn văn nghị luận xã hội và làm
bài văn nghị luận vê một ý kiến cảm thụ văn học.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

4


Theo tôi được biết, “vấn đề ôn tập và những công trình nghiên cứu ôn tập có
tác dụng rất lớn trong việc hoàn thiện kiến thức cho học sinh” [9].
Ôn tập là dịp để củng cố những kiến thức đã học, hệ thống hóa lại kiến
thức, nâng cao nhận thức, trình độ hiểu biết của học sinh. Kỹ năng ôn tập là một
trong những kỹ năng mang tính chất tích hợp đã được đề cập đến trong hầu hết
các công trình nghiên cứu về kỹ năng học tập. Các nhà nghiên cứu đã cho rằng
việc ôn tập là một trong những kỹ năng học tập cơ bản, nếu thiếu nó người học
khó đạt tới thành công trong học tập [9]. Khi nghiên cứu vấn đề này, trong tác
phẩm “Những thủ thuật dạy học”, J.Mekeachia cho rằng: “Chiến lược ôn tập
được thực hiện bằng các hình thức lặp đi lặp lại nhiều lần, tóm tắt tài liệu, vẽ sơ
đồ minh họa nội dung học tập...”[6]. Theo Geoffrey Fetty [7] trong cuốn “Dạy
học ngày nay”, ông cho rằng: “…một trong các PPDH tích cực là dạy cho học
sinh cách nhớ, qua đó rèn luyện cho HS kỹ năng ôn tập”. Theo tác giả, “giáo
viên nên sử dụng một số hình thức ôn tập như: tóm tắt bài học, đưa ra hệ thống
câu hỏi ôn tập, kiểm tra ôn tập, làm việc theo nhóm, chơi trò chơi…”. “ Vẽ sơ đồ
nhận thức” là một trong những chiến lược học tập cần dạy cho học sinh do

- Có HS chưa nắm vững cốt truyện của các văn bản văn xuôi trong chương trình
ngữ văn 12, còn vẽ rắn thêm chân.
2.3. CÁC GIẢI PHÁP VÀ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
* CÁC GIẢI PHÁP:
2.3.1. Cung cấp cho học sinh về khung cấu trúc và đề thi tốt nghiệp môn
Ngữ văn của các năm học trước.
2.3.1.1. Khung cấu trúc đề thi tốt nghiệp năm 2013-2014( Xem phụ lục 1)
Chỉ có hai phần, vì là năm thí điểm theo lối thi mới nên đề tương đối đơn giản;
phần I – Đọc hiểu văn bản, ngữ liệu là một đoạn trích trong bài báo của Nguyễn
Thế Hanh viết về tình hình biển Đông và ba câu hỏi(3,0 điểm). Phần II, không
có câu Nghị luận xã hội riêng mà nhập chung vào với Nghị luận văn học trích
dẫn sẵn một đoạn đối thoại giữa Hồn Trương Ba và Đế Thích( trong đoạn trích
“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ), từ đó yêu cầu thí sinh phân
tích quan điểm sống của hai nhân vật cùng chính kiến của chính bản thân người
viết: Phải làm sao để được sống là chính mình.
Với cách ra đề đó, HS không thể “học tủ”, “học vẹt” mà đã bước đầu bày tỏ
chính kiến bản thân; thực sự xứng đáng là “văn mình”; còn người chấm cũng
phải linh hoạt, hiểu biết, chấm theo hướng mở.
2.3.1.2. Khung cấu trúc đề thi tốt nghiệp năm 2014-2015 và 2015 – 2016
Từ năm học 2014 - 2015 đến năm học 2015 – 2016, đề thi tương đối giữ
nguyên cấu trúc; dung lượng kiến thức cũng như thời lượng làm bài. Phần Đọc
hiểu gồm hai đoạn trích: Thơ và văn xuôi cùng 8 câu hỏi (3,0 điểm); Phần Làm
văn, nghị luận xã hội, HS phải viết thành một bài văn khoảng 600 chữ(3,0
điểm). Câu 2, nghị luận văn học(4,0 điểm) là các kiểu bài được học ở chương
trình lớp 12.
2.3.1.3. So sánh với cấu trúc Đề thi minh họa tốt nghiệp trung học phổ
thông Quốc gia môn Ngữ Văn - năm 2017
Bộ GD&ĐT đã công bố đề thi minh họa các môn cho kỳ thi THPT quốc gia
2017, trong đó môn Văn như sau: Thời gian: 120 phút. Câu hỏi: Phần 1: Đọc
hiểu gồm 4 câu (3 điểm), Phần 2: Làm văn: câu 1: 2 điểm (tích hợp từ phần đọc

Thanh Hóa), đề thi theo đúng yêu cầu của Bộ GD&ĐT, nội dung thi nằm trong
chương trình THPT, chủ yếu là chương trình lớp 12[4]. Đề thi cũng đặt ra yêu
cầu ở 2 mức độ cơ bản và nâng cao, tương tự đề thi tốt nghiệp THPT và tuyển
sinh đại học, cao đẳng các năm 2014 – 2015 và 2015- 2016.
2.3.2. Nhận diện đáp án và thang điểm mới:
Thầy Lê Văn Khải( Chuyên viên Ngữ Văn tỉnh Thanh Hóa) nhận định:
“Phần Làm văn, viết đoạn văn nghị luận xã hội, vấn đề được tích hợp từ phần
Đọc hiểu: chú ý chấm theo những vấn đề cụ thể: Cấu trúc (0,25 điểm); Vấn đề
cần nghị luận (0,75 điểm)”[4].Khi làm bài, HS cần chia vấn đề cần nghị luận
thành các luận điểm phù hợp, song phải đảm bào ba ý: Giải thích khái niệm
được nêu trong đề bài; Phân tích, chứng minh, bình luận; Đánh giá khái quát vấn
đề; các luận cứ được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử
dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai (trong đó phải có thao tác giải thích,
chứng minh, bình luận); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng; dẫn chứng
phải lấy từ thực tiễn đời sống, cụ thể và sinh động. “Sáng tạo (0,5 điểm); chính
tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm)”[4].
2.3.3. Định hướng ôn tập và cách học ôn cho học sinh trung bình yếu lớp 12
* Chú ý về Kiến thức và kĩ năng làm bài thi Ngữ văn 120 phút
Một là, để làm tốt phần Đọc hiểu: Chủ yếu sẽ là văn bản khoảng 150 – 300
chữ. Đề tài, kiểu loại văn bản đa dạng, ngoài SGK nên không thể “tủ” sẵn mà
phải rèn luyện cách làm. Sau đây là hỗ trợ kiến thức, kĩ năng để làm tốt phần
đọc hiểu(Theo thầy Lê Văn Khải( Chuyên viên Ngữ Văn tỉnh Thanh Hóa))Trích: Tài liệu tập huấn 2016[4].
Như vậy, giáo viên cần điều chỉnh cho HS cách học ôn phù hợp với cấu
trúc đổi mới. Với Phần I: Đọc hiểu văn bản, GV nên chú trọng rèn cách làm
các dạng bài Đọc hiểu cho HS. Chú ý câu hỏi nhận biết thuộc 9 dạng:
2.3.3.1. Dạng bài yêu cầu nhận diện các phương thức biểu đạt:
7


* Phương thức biểu đạt: Yêu cầu:

Hai là, với Phần II: Làm văn
Câu 1: Nghị luận xã hội: Đòi hỏi học sinh cần tổng hợp, tư duy và bày tỏ quan
điểm cá nhân rõ nét.
Cần chú ý dạng bài Nghị luận về một vấn đề xã hội được rút ra từ tác phẩm văn
học.
Để làm tốt Phần làm văn, HS lưu ý:
- NLXH: Lấy một ý từ phần đọc hiểu có tính chất danh ngôn để HS suy
nghĩ vận dụng. Cần tránh lặp ý ở câu 4 – Phần đọc hiểu.
Nắm chắc kĩ năng viết đoạn văn 200 từ.
Câu 2: Nghị luận văn học (Xem phần sau)
Dù phần Nghị luận văn học trong đề minh họa chỉ yêu cầu phân tích,
nhưng bên cạnh kiểu bài phân tích, cảm nhận văn học, các em vẫn nên ôn tập
8


kiểu bài so sánh văn học và bình luận văn học (với các vấn đề nhỏ, nhưng sâu
sắc). Nên cố gắng viết có suy nghĩ và cảm xúc riêng[4]. (Theo ý kiến của thầy
Lê Văn Khải – Chuyên viên Ngữ Văn tỉnh Thanh Hóa).
Cách làm bài thi 120 phút:
- Các chuyên gia khuyên:
Khi làm bài thi Văn THPTQG theo mẫu đề minh họa 2017, nên phân bổ thời
gian và dung lượng làm bài như sau;
Đọc hiểu 1 trang khoảng 30 phút; Nghị luận xã hội 1 trang khoảng 30 phút; và
Nghị luận văn học từ 2,5-3 trang, chiếm khoảng 60 phút. Tuy nhiên, đó là với
HS bình thường.
Còn với HS giỏi, khá thì vẫn cần thiết phải viết dài hơn, nhưng hay và không
được dài dòng. Vẫn phải đạt ba tờ thi, khoảng 8 đến 12 trang.Vì sao? Vì giám
khảo vẫn quen chấm văn theo truyền thống, vẫn nể trọng những bài viết dài, có
chất lượng.
Khó khăn chồng chất, viết ngắn là rất khó nhưng viết dài thì không đủ thời gian.

Trong đoạn văn trên, Nguyễn Trung Thành sử dụng các biện pháp tu từ
như so sánh, nhân hoá, đối lập. Xác định biểu hiện các phép tu từ đó và
nêu tác dụng của hình thức nghệ thuật này là gì?
4. Xác định từ loại của các từ được gạch chân: mọc, lao, phóng, ham, tiếp,
vượt, ưỡn trong văn bản? Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng các từ đó
là gì?
II. Làm văn:
Câu 1: Từ văn bản trên, viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bày tỏ
suy nghĩ bản thân về những cánh rừng bị tàn phá hiện nay.(---)
Giáo viên cần lưu ý học sinh:
- Ngữ liệu trong câu hỏi đọc - hiểu: có thể được lấy ngoài nhưng gần gũi (chủ
yếu là văn bản chính luận và báo chí).
Ngoài cách trả lời các vấn đề như nêu nội dung văn bản, muốn đạt điểm cao cần
phải nắm các công cụ để soi chiếu văn bản, đó là: Các biện pháp tu từ, các thao
tác lập luận, các phương thức biểu đạt, các phong cách ngôn ngữ,…Chú ý: Nội
dung chính cần soi vào văn bản; câu hỏi vì sao thường gắn với ý câu nói; thông
điệp văn bản chỉ trả lời ngắn gọn.
2.3.5. Hai là, khi làm bài, thí sinh có thể chọn câu nào dễ làm trước nhưng
phải theo đúng kí hiệu các phần, mục.
Biện pháp xây dựng hệ thống câu hỏi và sử dụng linh hoạt hệ thống câu hỏi ấy
trong quá trình ôn tập là một biện pháp cần thiết và đem lại hiệu quả cao. Các
câu hỏi được xây dựng phải đảm bảo vừa mang tính hệ thống liên tục, vừa sát
hợp với vấn đề ôn tập của học sinh. Giáo sư Phan Trọng Luận đưa ra yêu cầu
chung khi tiến hành xây dựng hệ thống câu hỏi: “Câu hỏi phải mang tính liên
tục, phải định hướng vào mối quan hệ hữu cơ giữa những yếu tố cụ thể với
những vấn đề tổng hợp của bài học. Câu hỏi vừa sức với học sinh, phù hợp với
thời lượng của bài học”[9]. Vận dụng những kiến thức lí luận nêu trên, người
giáo viên có thể hướng dẫn học sinh xây dựng một hệ thống câu hỏi ôn tập liên
quan đến nội dung cần ôn tập.
2.3.6. Ba là, ở mỗi dạng bài đọc hiểu, giáo viên hướng dẫn HS lập bảng biểu

Báo chí

- Hội thoại, thư từ, nhật kí, tin nhắn;
-Tính cụ thể, cá thể và cảm xúc.
- Thơ, truyện, kí, kịch,…
- Tính hình tượng; truyền cảm và cá thể hóa.
- Bản tin, phóng sự, tiểu phẩm,…
- Tính thông tin thời sự cập nhật; tính ngắn gọn; tính sinh động,
hấp dẫn.
4PCNN - Hịch, chiếu, cáo; tuyên ngôn, xã luận, bình luận thời sự,…
Chính luận
- Tính công khai về quan điểm, lập trường chính trị; tính chặt
chẽ trong diễn đạt và suy luận; tính truyền cảm, thuyết phục.
5PCNN - Văn bản khoa học Chuyên sâu; giáo khoa và thường thức.
Khoa học
- Tính trừu tượng - khái quát; tính lí trí – logic; tính khách quan
phi cá thể.
6PCNN - Đơn từ, văn bằng, chứng chỉ; hợp đồng,…
Hành chính
- Tính khuôn mẫu; tính công vụ và tính minh xác.
2.3.6.3. Dạng bài yêu cầu nhận diện những hình thức ngôn ngữ.
- Ngôn ngữ trực tiếp:
+ Ngôn ngữ của nhân vật: Độc thoại; đối thoại.
+ Ngôn ngữ người kể chuyện: Trần thuật.
- Ngôn ngữ nửa trực tiếp: (Đan xen giữa lời nhân vật và lời người kể chuyện):
Trần thuật nửa trực tiếp.
Ví dụ: “Hắn vừa đi vừa chửi… không ai biết”(Chí Phèo- Nam Cao)
2.3.6.4. Dạng bài yêu cầu nhận diện các phương thức trần thuật.
Có ba phương thức trần thuật chính:
- Trần thuật bằng ngôi thứ nhất: Lời trực tiếp.

đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh”.
(Tiếng nói của văn
nghệ - Nguyễn Đình Thi)
- Gợi ý:
+Phép lặp: hai lần(( câu 1,3 – Từ “Tác phẩm”) ;
+Phép thế: “những vật liệu mượn ở thực tại” thay thế bằng “những cái đã có
rồi”; “nghệ sĩ” thay thế bằng “anh”.
+ Phép nối: “Nhưng”.
2.3.6.6. Dạng bài yêu cầu nhận diện những kiểu câu: Có hai kiểu
2.3.6.6.1. Những kiểu câu chia theo mục đích nói.
Kiểu câu
Ví dụ
Câu tường thuật
Mẹ về.
Câu cảm thán
A! Mẹ về!
Câu nghi vấn
Mẹ về chưa?
Câu cầu khiến
Mẹ về đi!
2.3.6.6.2. Những kiểu câu chia theo cấu trúc, chức năng ngữ pháp.
Kiểu câu
Nhận diện
Câu chủ động/ bị động
Chủ thể tác động đến đối tượng/ chủ thể bị,
được đối tượng hoặc hoàn cảnh tác động
lên.
Câu khẳng định/ phủ định
Từ ngữ khẳng định/ từ ngữ phủ định không,
chưa, chẳng

4- Nhân hóa/ Vật hóa
- Dùng từ ngữ chỉ đặc điểm của người gọi tên cho
vật ( ví dụ: “Mây đi vắng, trời xanh buồn rộng rãi”Anh Thơ) / ngược lại(“... tướng giặc bị cầm tù vẫy
đuôi xin cứu mạng”- Nguyễn Trãi).
5- Điệp từ, ngữ, điệp cấu - Lặp lại từ, cụm từ, cấu trúc giữa các câu một cách
trúc cú pháp
có chủ đích.
6- Câu hỏi tu từ
- Câu có hình thức hỏi nhưng là để khẳng định tâm
trạng nhân vật.
7- Cường điệu (ngoa dụ, - Dùng từ ngữ mạnh để phóng đại, tăng sức biểu
thậm xưng, nói quá)
cảm, diễn tả những sự việc lớn lao, hình ảnh kì vĩ,
hoành tráng,...Ví dụ: Đánh một trận sạch không kình
ngạc... – Nguyễn Trãi.
8- Nói giảm, nói tránh
- Dùng từ ngữ giảm nhẹ nghĩa để giảm bớt đau buồn,
tránh sự tổn thương,...
9- Liệt kê
- Ví dụ: Chúng lập ra nhà tù...Chúng thẳng tay
chém giết... Chúng không cho... – Hồ Chí Minh.
10- Chơi chữ
- Con cá đối nằm trên cối đá;
11- Đối
- Hai vế mang sắc thái ý nghĩa trái ngược nhau.
2.3.6.8. Dạng bài yêu cầu nhận diện các lỗi.
Lỗi dùng từ ngữ
Lỗi ngữ pháp – viết câu
- Từ không chính xác;
- Dùng câu thiếu thành phần.

. Phần văn xuôi: Theo cấu trúc đề thi minh họa tốt nghiệp THPT Quốc gia của
Bộ, học sinh lớp 12 cần phải ôn tập một văn bản nghị luận và bảy đoạn trích văn
xuôi: Tuyên ngôn Độc lập-Hồ Chí Minh, Người lái đò sông Đà-Nguyễn Tuân,
Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường, Vợ chồng Aphủ-Tô
Hoài, Vợ nhặt-Kim Lân, Rừng xà nu Nguyễn Trung Thành, Chiếc thuyền ngoài
xa-Nguyễn Minh Châu, Hồn Trương Ba, da hàng thịt-Lưu Quang Vũ. Trừ văn
bản nghị luận và hai bút kí, tùy bút, còn lại năm đoạn trích đều thuộc chương
trình Ngữ văn 12 của học kì II. Cách làm này sẽ giúp học sinh hệ thống được số
lượng tác phẩm, đoạn trích thơ hoặc văn xuôi mà mình cần phải ôn tập theo mỗi
thể loại và theo mỗi học kì [9].
2.3.8.2. Ở mỗi dạng nghị luận văn học, giáo viên hướng dẫn cụ thể về cách
thức và phương pháp làm bài
2.3.8.2.1. Phương pháp làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
- Đối tượng của bài nghị luận về thơ rất đa dạng: một bài thơ, một đoạn thơ, một
hình tượng thơ, …
- Bài nghị luận về thơ thường có kết cấu:
+ Mở bài: Giới thiệu khái quát về bài thơ, đoạn thơ, bao gồm tác giả, xuất xứ,
hoàn cảnh sáng tác, bố cục, nội dung khái quát,…
+ Thân bài: Bàn về những giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ,
bằng cách chỉ ra những tín hiệu thẩm mĩ độc đáo, riêng biệt như: từ ngữ, nhịp
điệu, âm thanh, hình ảnh, cấu tứ, các biện pháp tu từ và giá trị của chúng, giá trị
tư tưởng thẩm mĩ,…
+ Kết bài: Đánh giá chung về giá trị của bài thơ, đoạn thơ và nêu suy nghĩ của
riêng mình.
Ví dụCâu 2 (5đ) Nhận xét về bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng có ý kiến cho rằng :
“Là một thi phẩm xuất sắc,gần như đạt đến độ toàn bích ,bài thơ Tây Tiến đoạn
nào cũng có những câu đặc săc ,hình ảnh độc đáo “.Anh chị hãy chọn và phân
tích một đoạn thơ tiểu biểu để làm sáng tỏ ý kiến trên?
2.3.8.2.2. Phương pháp làm bài nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm văn
xuôi

kiến trên.
2.3.8.3. Phương pháp làm bài nghị luận so sánh văn học
Đối tượng của bài nghị luận so sánh cũng đa dạng: Ví dụ: So sánh về vẻ đẹp
bức tranh thiên nhiên trong hai đoạn thơ trích từ Tây Tiến của Quang Dũng và
Việt Bắc của Tố Hữu; so sánh hình tượng Tổ quốc trong hai đoạn đầu bài Đất
Nước của Nguyễn Đình Thi và Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm;
so sánh vẻ đẹp của sông Đà và sông Hương trong hai tác phẩm của Nguyễn
Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường; so sánh nhân vật Thị và Mị, Tràng và A Phủ
trong Vợ nhặt của Kim Lân và Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài; so sánh vẻ đẹp
khuất lấp của nhân vật Thị trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân và người đàn bà
hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa; so sánh hình tượng nhân vật
Tnú trong Rừng xà nu và của Nguyễn Trung Thành và nhân vật Việt trong
Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi; so sánh nhân vật Mai và chị
Chiến... trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành và Những đứa con trong
gia đình của Nguyễn Thi;…
- Bài nghị luận so sánh văn học có kết cấu như sau:

15


+ Mở bài: Dẫn dắt vấn đề - nêu ý có liên quan đến vấn đề cần nghị luận(Nếu mở
trực tiếp thì bỏ qua bước này).
Giới thiệu khái quát hai đối tượng nghị luận(tác giả, tác phẩm, nhân vật...)
+ Thân bài:
Ý 1: Làm rõ đối tượng thứ nhất(vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận, chủ
yếu là thao tác phân tích).
Ý 2: Làm rõ đối tượng thứ hai( cũng vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận,
song chủ yếu là thao tác phân tích).
Ý 3: So sánh – chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau(vận dụng kết hợp
nhiều thao tác lập luận).

ngữ hay cách trình bày. Đoạn trích thấy có sự việc diễn biến (tự sự), có nhiều từ
láy, từ gợi tả sự vật, sự việc (miêu tả), nhiều từ biểu lộ xúc động (biểu cảm),

16


nhiều từ thuyết trình, giới thiệu về đối tượng (thuyết minh) và nhiều từ khen chê,
bộc lộ thái độ riêng của cá nhân (nghị luận).
Thứ ba: HS đã nhận biết được các phép tu từ từ vựng (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ,
lặp từ, nói quá, nói giảm, chơi chữ…); tu từ cú pháp (lặp cấu trúc câu, giống
kiểu câu trước; đảo ngữ; câu hỏi tu từ; liệt kê.). Các biện pháp tu từ có tác dụng
làm rõ đối tượng nói đến, tăng thêm gợi cảm, gợi hình ảnh, âm thanh, màu sắc,
làm đối tượng hấp dẫn, sâu sắc.
Thứ tư: HS biết đã đọc kỹ đoạn trích trong đề bài, đặt tên nhan đề ngắn gọn, tinh
chất; là chìa khóa của văn bản, nêu đại ý, hay cảm xúc trong đoạn văn ngắn 5-7
dòng. Thí sinh cần trả lời các câu hỏi: Đoạn trích viết về ai? Vấn đề gì? Biểu
hiện như thế nào? Đặt trong tình huống bản thân để nêu hành động cần thiết.
Thứ năm: HS biết nhận diện các kiểu câu khác nhau (Câu đơn hai thành phần;
câu đơn đặc biệt; câu phức và câu ghép).
Với câu viết đoạn văn
Thứ nhất: HS đã viết đúng trọng tâm yêu cầu của đề - viết theo đoạn diễn dịch.
Câu chủ đề - viết đúng vào yêu cầu của đề bài- có từ khóa của đề trong câu mở
đoạn. Các câu sau đó tuyệt đối đúng, trúng vào nội dung.
Thứ hai: Kết lại đoạn văn bằng 2-3 câu bày tỏ cái tôi của mình hoặc rút ra bài
học.
Thứ ba: Bài yêu cầu viết một đoạn văn; không định lượng số dòng; HS đã biết
ước lượng 1 trang giấy thi để viết đoạn văn khoảng 200 chữ.
Bài văn nghị luận văn học (5,0 điểm): Đề thiên về cảm thụ văn học(nhận
định toát lên trọng tâm cả văn bản)
HS đã xác định rõ ba luận điểm cần làm sáng tỏ trong bài:

Khá(6.5-7.0):
04
= Khá(6.5-7.0):08
Khá(6.5-7.0):10=26.31%
11.76%
=23.52%
TB(4.5-6.0):17 = 50%
TB(4.5-6.0):16=47.1% TB(4.5-6.0): 18=47.4%
Yếu(2.5-4.25): 10 = Yếu(2.5-4.25):
Yếu(2.5-4.25): 07=18.42%
29.41%
08=23.52%
Kém(0-2.25): 01 = 2.94% Kém(0-2.25):01=2.94% Kém(0-2.25): 02=5.26%
Bể học thì dài rộng; kinh nghiệm sống cần được tích lũy thường xuyên,
đều đặn; kĩ năng rèn luyện cần liên tục đổi mới để phù hợp với yêu cầu từng
năm. Bản thân tôi luôn trăn trở, băn khoăn, lo lắng cho kết quả học tập, thi cử
của các em, nhất là đối tượng học sinh trung bình yếu.
Tuy nhiên, đây mới chỉ là những đóng góp nhỏ bé, bước đầu. Rất mong nhận
được sự chỉ bảo, đóng góp của quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp. Tôi xin chân
thành cảm ơn!
3.2. Kiến nghị:
- Nhà trường nên đầu tư thêm tài liệu tham khảo ôn thi TN THPTQG cho bộ
môn Ngữ Văn ở thư viện.
- Hiện tại, phương tiện dạy học môn Ngữ Văn khối 11, 12 còn ít, nhà trường nên
khuyến khích GV lập sơ đồ, bảng biểu; bản đồ tư duy, trang bị hình ảnh khi
giảng dạy và ôn thi.
- Phụ huynh cần đôn đốc con em mình học bài, làm bài ở nhà trước khi đến lớp,
- Máy chiếu nên lắp cho mỗi phòng học 1 cái. Với chương trình ôn thi TN
THPTQG mới như bây giờ, phần Đọc hiểu văn bản, ngữ liệu tương đối dài, nên
chiếu cho cả lớp xem thay vì việc GV giảng dạy cứ phải đi in ấn, phô tô từng

XI[2].
8.Quy chế thi THPTQG và xét công nhận Tốt nghiệp THPT
(Ban hành kèm theo Thông tư số 04/2017/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 01 năm
2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)[5].
9. SKKN: Một số biện pháp hướng dẫn HS lớp 12 hệ thống kiến thức môn Ngữ
Văn để ôn thi Tốt nghiệp THPT Xuân Thọ. Slideshare.vn/…/skkn-mot-so-bienphap-huong-dan-hoc-sinh-lop-12-he-thong-kien-thuc… [9].
10. Tài liệu tập huấn thi THPT Quốc gia năm 2017 và Luyện thi HSG – Thanh
Hóa, tháng 9 năm 2016.[4].
* Và một số tài liệu, tạp chí, trang Web khác
1. Ngữ Văn 12, Tập 1- 2, Bộ giáo dục và Đào tạo, NXB Giáo dục, Hà Nội 2016.
2. Ngữ Văn 12, Sách giáo viên, Tập 1- 2, Bộ giáo dục và Đào tạo, NXB Giáo
dục, Hà Nội 2014.
3. Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Văn (cập nhật tháng 4/2017):
70 đề thi thử ôn thi thpt quốc gia 2017 môn Ngữ Văn của các trường chuyên
trong cả nước có lời giải chi tiết (phần 2): />70 đề thi thử ôn thi thpt quốc gia 2017 môn Ngữ Văn của các trường chuyên
trong cả nước có lời giải chi tiết (phần 1):
/>40 Bản đồ tư duy ôn thi THPT Quốc gia môn Văn
/>Tuyển chọn các bài văn nghị luận lớp 12 ôn thi THPT quốc gia nhiều tác giả,
202trang
/>19


PHỤ LỤC 1: Đề thi tốt nghiệp thpt năm 2013 - 2014
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Những ngày đầu tháng 5/2014, Trung Quốc ngang nhiên xâm nhập và hạ đặt
giàn khoan HD 981 trái phép ở vùng đặc quyền kinh tế và quyền tài phán của
Việt Nam, có những hành động hung hăng cản phá lực lượng thực thi pháp luật
Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam theo Công ước Liên
Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982. Trước tình hình đó, trái tim của
hơn 90 triệu người dân Việt Nam ở trong nước, hơn 4 triệu kiều bào Việt Nam ở

Hồn Trương Ba: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi
muốn được là tôi toàn vẹn.
Đế Thích: Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư? Ngay
cả tôi đây. Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên
trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình
cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng. Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông.

20


Ông đã bị gạch tên khỏi sổ Nam Tào. Thân thể thật của ông đã tan rữa trong
bùn đất, còn chút hình thù gì của ông đâu!
Hồn Trương Ba: Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác, đã là chuyện không
nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ
đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!
( Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013, tr. 149)
Phân tích khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích trên. Từ đó,
trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề: con người cần được sống là chính
mình.
PHỤ LỤC 2: Các dạng đề Đọc hiểu và viết đoạn văn nghị luận xã hội năm
2017.
Ví dụĐỀ 1:
I. Đọc-hiểu (30 điểm): Đọc đoạn văn sau và thực hiện yêu cầu từ câu 1
đến câu 4:
"Đám than đã vạc hẳn lửa. Mỵ không thổi cũng không đứng lên. Mỵ
nhớ lại đời mình. Mỵ tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng
trốn được rồi, lúc đó bố con thống lý sẽ đổ là Mỵ đã cởi trói cho nó, Mỵ liền
phải trói thay vào đấy. Mỵ chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, nhưng làm sao Mỵ
cũng không thấy sợ...Trong nhà tối bưng, Mỵ rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm
mắt. Nhưng Mỵ tưởng như A Phủ biết có người bước lại... Mỵ rút con dao nhỏ

1. Đoạn văn trên được viết theo phương thức nào là chính?
2. Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì?
3. Xác định thành ngữ dân gian được sử dụng trong đoạn văn và nêu hiệu quả
nghệ thuật của các thành ngữ đó?
4. Dấu ba chấm (...) trong câu văn "Còn mình thì..." có ý nghĩa gì?
II. Làm văn:
Câu 1: Từ văn bản, viết đoạn văn khoảng 200 chữ bày tỏ suy nghĩ về tình mẫu
tử.
Ví dụ- Phần 1.Đọc hiểu (3đ)
SỨC MẠNH CỦA MỘT BỨC THƯ CẢM ƠN
Giáo sư Wiliam ngồi xuống và viết một bức thư cảm ơn cho một giáo viên vì
sự động viên lớn mà bà đã dành cho ông khi còn là một học sinh của bà 30 năn
về trước .Một tuần sau ,giáo sư được thư hồi âm với nét chữ run rẩy :
Wiliam yêu quý củ ta /Ta biết rằng lời nhẳn nhủ của em vô cùng có ý nghĩa với
ta .Một cụ già 80 tuổi như ta ,sông đơn độc trong một căn phòng nhỏ ,lủi thủi
nấu ăn một mình dường như chỉ lay lắt .như chiếc lá cuối cùng trên cây .Có lẽ
em sẽ bất ngờ ,Wiliam ạ /khi biết rằng ta đã dạy học 50 năm và trong khoảng
thời gian dài đằng đẵng đó ,bức thư của em là bức thư đầu tiên ta nhận được
Ta nhận được trong một buổi sáng lạnh lẽo và hiu hắt buồn .Chính bức thư ấy
đã sưởi ấm trái tim già nua cô đơn của ta bằng niềm vui mà trước nay ta chưa
từng một lần được cảm nhận .(Qùa tặng cuộc sống )
Câu 1(0.5đ):Hãy nêu rõ mối quan hệ giữa các nhân vật ?
Câu 2(0.5đ) : Bà giáo nhận được bức thư cảm ơn đầu tiên vào hoàn cảnh nào ?
Câu 3 (1đ) : Phân tích hiệu quả của phép tu từ trong câu văn “chính bức thư ấy
đã sưởi ấm trái tim già nua cô đơn của ta bẳng niền vui mà trước nay ta chưa
từng có “
Câu 4 (1đ) : Thông điệp của văn bản trên là gì?
Phần 2 Làm văn
Câu (2đ) NLXH
Từ văn bản trên anh chị hãy viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 từ bàn về

…Không những là người cán bộ đã dành trọn cả một đời vì Đảng, vì dân, đồng
chí Nguyễn Bá Thanh còn là một người con hết mực hiếu thảo, một người
chồng thủy chung, một ng ười anh, một người cha, một người ông mẫu mực, hết
lòng thương yêu vợ, thương yêu các con, các cháu... mãi mãi là tấm gương
sáng cho con cháu noi theo. Với những công lao cống hiến to lớn của mình,
đồng chí Nguyễn Bá Thanh đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân đánh giá
cao, đồng chí được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huy hiệu 30
năm tuổi Đảng và nhiều danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước; nh ưng cao
quý nhất và đáng tự hào nhất, chính là tấm huân chương của lòng dân, mà
nhân dân và cán bộ, đảng viên của Đảng bộ Đà Nẵng cũng như trong cả nước
đã dành trọn cho đồng chí…
( Trích Điếu văn tại lễ truy điệu đồng chí Nguyễn Bá Thanh, Ủy viên Ban Chấp
hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương

23


về phòng, chống tham nhũng, Trưởng ban Nội chính Trung ương - Báo điện tử
INFONET giới thiệu ngày 16/02/2015).
Đọc văn bản trên và trả lời các câu hỏi sau:
1. Xác định phong cách ngôn ngữ trong văn bản trên.
2. Nêu nội dung chính của văn bản.
3. Xác định và nêu hiệu quả nghệ thuật biện pháp tu từ về từ trong câu văn “cao
quý nhất và đáng tự hào nhất, chính là tấm huân chương của lòng dân, mà nhân
dân và cán bộ, đảng viên của Đảng bộ Đà Nẵng cũng như trong cả nước đã
dành trọn cho đồng chí”…
4. Khi nói tới tư tưởng thân dân có nhà thơ viết : Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Hãy cho biết câu trên nằm trong tác phẩm
nào? của ai ?
Phần II: Làm văn:

mong tiến lên từ văn hóa, học thuật của giai đoạn này, thì nhất định phải lấy
thành quả của nhân loại đã đạt được trong quá khứ làm điểm xuất phát. Nếu xóa
bỏ tất cả các thành tựu của nhân loại đã đạt được trong quá khứ, thì chưa biết
chừng chúng ta đã lùi điểm xuất phát về đến mấy trăm năm, thậm chí là mấy
nghìn năm trước.Lúc đó dù có tiến lên cũng chỉ là đi giật lùi, làm kẻ lạc hậu”
( Chu Quang Tiềm, trong “Danh nhân Trung Quốc bàn về niềm vui, nỗi buồn
của đọc sách”, Bắc Kinh, 1995, Trần Đình Sử dịch)
Câu 1: Hãy ghi lại các câu văn nêu khái quát chủ đề đoạn trích? ( 0,5 điểm)
Câu 2: Trong đoạn văn, tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào?( 0,25
điểm)
Câu 3: Để lí giải vấn đề tầm quan trọng và ý nghĩa của việc đọc sách, tác giả đặt
nó trong mối quan hệ nào? ( 0,5 điểm)
Câu 4: Anh (chị) hãy viết ít nhất hai câu nêu tác dụng( và ngược lại) của việc
đọc sách?
( 0,25 điểm)
B- Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:
“ Chỉ có thuyền mới biết
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu về đâu
Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau rạn vỡ”
(Trích “ Thuyền và biển”- Xuân Quỳnh)
Câu 5: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên? ( 0,25 điểm)
Câu 6: Xác định hai biện pháp tu từ chính được sử dụng trong đoạn thơ? ( 0,5
điểm)
Câu 7: Đoạn thơ trên được viết bằng thể thơ gì? Ghi lại nội dung chính của đoạn
thơ. ( 0,5 điểm)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status