Một số biện pháp hướng dẫn học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 4 - Pdf 40

A: ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngay từ khi lọt lòng mẹ, các em đã được bao bọc bởi tiếng hát ru của mẹ,
của Bà, lớn lên chút nữa, những câu chuyện kể có tác dụng to lớn là dòng sữa ngọt
ngào nuôi dưỡng tâm hồn trẻ, rèn luyện các em thành con người có nhân cách, có
bản sắc dân tộc, góp phần hình thành con người mới, đáp ứng yêu cầu của xã hội
đối với những thành viên của mình. Cả thế giới đang mở ra trước mắt các em kho
tàn văn minh nhân loại được chuyên giao từ những điều sơ đẳng nhất. Quả trình
giáo dục được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi tất cả các môn học. các môn học ở tiểu
học có tác dụng hỗ trợ cho nhau nhằm giáo dục toàn diện học sinh phải kể đến phân
môn luyện từ và câu- một phân môn chiếm thời lượng khá lớn trong môn Tiếng
Việt ở Tiểu học. Nó tách thành một phân môn độc lập có vị trí quan trọng cùng với
các phân môn Tiếng Việt giúp học sinh có đầy đủ các yếu tố và kỹ năng để học
phân môn tập làm văn và trang bị cho học sinh, hội tụ đầy đủ kiến thức của môn
Tiếng Việt.
Trong quá trình giảng dạy ở môi trường có chất lượng học sinh học tập khá
tốt, và đây là trường học 2 buổi/ ngày nên bản thân tôi thiết nghĩ, để tránh thời gian
lãng phí và phát huy hết khả năng học tập của học sinh đối với phân môn luyện từ
và câu lớp 4.
Tầm quan trọng đó đã được rèn giũa, luyện tập nhuần nhuyễn trong quá trình
giải quyết các bài tập trong môn Luyện từ và câu lớp 4.
Vì vậy tôi quyết định tìm hiểu, nghiên cứu và viết về: " Một số biện pháp
hướng dẫn học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 4".


B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Nhận thức được tầm quan trọng của Tiếng Việt trong sự nghiệp giáo dục con
người. Từ xa xưa ông cha ta đã sử dụng nó một cách tự giác nhằm để giáo dục trẻ
nhỏ.
Khi chưa có nhà trường, trẻ được giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội. Từ
thuở nằm nôi, các em được bao bọc trong tiếng hát ru của mẹ, của bà, lớn lên chút

năng sử dụng Tiếng Việt của học sinh. Giáo viên là một trong 3 nhân tố cần được
xem xét của quá trình dạy học “Luyện từ và câu”, là nhân tố quyết định sự thành
công của quá trình dạy học này. Khi nghiên cứu quá trình dạy hướng dẫn học sinh
làm các dạng bài tập “Luyện từ và câu” cho học sinh lớp 4, tôi thấy thực trạng của
giáo viên như sau:
a, Thuận lợi:
- Là trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2. nên cơ sở vật chất được trang bị
khá đầy đủ cho việc giảng dạy.
- Được sự quan tâm, lãnh chỉ đạo của BGH- Tổ chuyên môn đến công tác
giảng dạy của giáo viên trong nhà trường.
- Tập thể cán bộ giáo viên đoàn kết, có trình độ chuyện môn vững vàng, luôn
giúp đỡ nhau trong công tác.
b, Khó khăn.
- Phân môn “Luyện từ và câu” là phần kiến thức khó trong khi hướng dẫn
học sinh nắm được yêu cầu và vận dụng vào việc làm các bài tập nên dẫn đến tâm
lý giáo viên e dè bởi việc vận dụng của giáo viên còn lúng túng gặp khó khăn.
- Giáo viên một số ít không chịu đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu để
khai thác kiến thức và tìm ra phương pháp phù hợp với học sinh, lệ thuộc vào đáp
án, gợi ý , vốn từ của giáo viên chưa nhiều dẫn đến học sinh ngại học phân môn
này.
- Cách dạy của một số giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc máy móc vào sách
giáo khoa, hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh.
- Nhiều giáo viên chưa quan tâm đến việc mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ
cho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về Tiếng Việt.

3


- Thực tế trong trường tôi công tác, chúng tôi thường rất tích cực đổi mới
phương pháp dạy sao cho có hiệu quả nhất ở môn học này. Đồng thời là tiền đề


Điểm 7-8
SL
%
6
20

Điêm 5-6
SL
%
13
43,4

4

Điểm dưới 5
SL
%
7
23,3


Điều đáng nói ở đây là có tới 15 em chưa biết xác định từ ghép, từ láy, trong
quá trình làm học sinh chưa biết trình bày khoa học rõ ràng, câu trả lời chưa đầy
đủ.
Qua giảng dạy tôi nhận thấy kết quả chưa cao là do nguyên nhân cả hai phía;
Người dạy và người học. Do vậy tôi rất cần phải trau dồi kiến thức tìm ra phương
pháp đổi mới trong hướng dẫn giảng dạy để khắc phục thực trạng trên để kết quả
dạy học được nâng lên, thu hút sự chú ý của học sinh vào hoạt động học.
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIÊN:

- Trái nghĩa với nhân hậu hoặc yêu thương.
- Thể hiện tinh thần đùm bọc, giúp đỡ đồng loại.
- Trái nghĩa với với đùm bọc hoặc giúp đỡ.
Ngoài việc sử dụng hướng mẫu trong sách giáo khoa. Giáo viên yêu cầu học
sinh làm việc theo nhóm (4 nhóm). Mỗi nhóm một yêu cầu, sau khi đại diện nhóm
trả lời cho học sinh làm việc ở lớp.
Nhóm 1: Lòng thương người, đùm bọc, giúp đỡ...
Nêu ý nghĩa của các từ em tìm được. Các nhóm cùng bổ sung, giáo viên chốt
lại ý kiến đúng.
Liên hệ giữa tình huống học sinh đã làm được trong cuộc sống, quá trình học tập.
Ví dụ 2: " Tuần 22 - Mở rộng vốn từ: Cái đẹp"
- Tìm các từ ngữ:
a. Thể hiện vẻ đèp bên ngoài của con người.
b. Thể hiện nét đẹp trong tâm hồn, tính cách con người.
- Giáo viên phát phiếu học tập cho các nhóm (Nhóm 4) cho các em trao đổi,
thảo luận, trình bày, đại diện nhóm tập hợp (Trong quá trình học sinh thảo luận
nhóm, giáo viên phải làm việc trực tiếp với từng nhóm để phát hiện ra từng cá nhân
học sinh, đặc biệt quan tâm tới những học sinh còn yếu, yêu cầu các em trình bầy
quan điểm của mình để bạn giúp đỡ bổ sung). Cuối cùng giáo viên cho các tổ gián
phiếu, chốt kết quả đúng.
Tóm lại: Với các loại bài tập " Mở rộng vốn từ" Khi tổ chức dạy học , giáo
viên vận dụng phương pháp học hợp tác nhóm, theo tôi là có hiệu quả, nó kích
thích sự tìm tòi suy nghĩ, tinhs độc lập và hợp tác nhóm đòi hỏi học sinh khả năng
giao tiếp, điều này hết sức cần thiết vì nó giúp các em vận dụng được trong giao
tiếp hàng ngày. Tuy nhiên để vận dụng phương pháp này có hiệu quả, giáo viên cần

6


lập kế hoạch cho hoạt động này thật chu đáo: Trong thời gian bao lâu, nhóm mấy,

nghĩa lại với nhau, đó là từ ghép. Dựa vào cấu tạo trên mà học sinh có thể xác định
từ ghép và từ láy.
Giáo viên có thể lấy thêm ví dụ:
+ Từ ghép: Đám mây, ruộng vườn, xanh ngắt...
+ Từ láy: xanh xao, tươi tắn, nhỏ nhắn...
3. Luyện tập các bài có dạng về tính từ, động từ, danh từ.
Trong đó chương trình sách giáo khoa cũng lựa chọn những tình huống giao
tiếp gắn bó với cuộc sống gần gũi của học sinh. Vì vậy , khi dạy học loại bài này

7


GV nên sử dụng PP thực hành giao tiếp hoặc tổ chức cho học sinh trò chơi học tập
là tốt nhất.
Ví dụ1: Viết họ và tên 4 bạn nam, 4 bạn nữ trong lớp em. Họ và tên các bạn
ấy là danh từ chung hay danh từ riêng? vì sao?
Với bài này tôi đã gợi ý cho học sinh: Xác định tên của bạn mình, viết, ghi rõ
họ, tên. Lưu ý đó là danh từ chung hay danh từ riêng.
Cho học sinh làm việc cá nhân, nêu miệng. Phần học này học sinh thường
hay mắc lỗi ở vạch danh từ chung.
Tôi yêu cầu các em nêu lại danh từ chung là gì? Dùng phép “suy” để học
sinh áp dụng vào bài của mình.
Ví dụ 2: Gạch dưới các động từ trong đoạn văn sau:
Yiết Kiêu đến kinh đô yết kiến vua Trần Nhân Tông
Nhà vua: Trẫm cho nhà ngươi nhận một loại binh khí
Yết Kiêu: Thần chỉ xin một chiếc dùi sắt
Nhà vua: Để làm gì ?
Yết Kiêu: Để dùi những chiếc thuyền của giặc vì thần có thể lặn hàng giờ
dưới nước.
Tôi đã cho học sinh làm việc theo nhóm. Học sinh trong nhóm thảo luận nêu

4.1. Câu kể.
Ví dụ 1: Đặt một vài câu kể để:
a) Kể việc làm hàng ngày sau khi đi học về.
b) Tả chiếc bút em đang dùng.
c) Trình bày ý kiến của em về tình bạn.
d) Nói lên niềm vui của em khi nhận được điểm tốt.
Tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân. Kể về việc em làm...
Lưu ý học sinh khi viết hết câu phải có dấu chấm. Học sinh viết và đọc cho
học sinh trong lớp nhận xét bổ sung.
Nội dung của các yêu cầu trên khác nhau: Tả, bày tỏ ý kiến, nói lên niềm vui...
Giáo viên hướng dẫn mẫu:
+ Tả kết hợp với dùng từ ngữ gợi tả, biện pháp nghệ thuật
+ Bày tỏ ý kiến – yêu mến, gắn bó như thế nào?
+ Nói lên niềm vui – vui sướng như thế nào khi được điểm tốt.

9


Ví dụ 2: Khi muốn mượn bạn cái bút, em có thể chọn những cách nói nào?
a) Cho mượn cái bút!
b) An ơi, cho tớ mượn cái bút!
c) An ơi, cậu có thể cho tớ mượn cái bút được không?
Cho học sinh trả lời cá nhân, học sinh chọn trường hợp c, vì nó thể hiện sự
lịch sự trong giao tiếp.
Giáo viên yêu cầu học sinh hoạt động tiếp nối. Trao đổi theo cặp, thực hành
lời yêu cầu lịch sự.
4.2. Câu hỏi:
Đối với việc giữ lịch sự khi đặt câu hỏi, dạng bài tập cho phần này cũng rất
cụ thể:
Ví dụ: So sánh các câu hỏi trong đoạn văn sau: Em thấy câu các bạn nhỏ hỏi

em phải đặt nó trong văn cảnh cụ thể.
Hoạt động liên hệ: Cho học sinh đặt câu hỏi phù hợp khi gặp tình huống như
trong bài tập trên ở ngoài thực tế.
4.3. Câu khiến
- Dạng bài tập cho mảng kiến thức này gồm:
- Chuyển các câu kể thành câu khiến.
- Đặt câu khiến phù hợp với các tình huống.
- Đặt câu khiến theo yêu cầu có

“hãy” trước động từ
“đi” hoặc “nào” sau động từ
“xin” hoặc “mong” trước chủ ngữ

- Nêu tình huống có thể dùng câu khiến nói trên.
Ví dụ 1: Chuyển các câu kể thành câu khiến
- An đi học
- Ha đi lao động
- Lan chăm chỉ
- Nam phấn đấu học giỏi.
Với bài tập này trước hết tôi cho học sinh phân tích mẫu: - An đi học!
-An phải đi học!
- An hãy đi học!

11


Cho học sinh nhận xét mẫu so với câu ban đầu: Thêm cac từ “đi”, “phải”,
“hãy” ứng với lời yêu cầu ở mức nặng –nhẹ tuỳ thuộc vào mỗi lời yêu cầu.
- An đi học đi !


cảm để bày tỏ sự thán phục.

12


b. Vào ngày sinh nhật của em, có một bạn cũ đã chuyển trường từ lâu bỗng
nhiên tới chúc mừng em. Hãy đặt câu cảm để bày tỏ sự ngạc nhiên và vui mừng.
Tôi đã tổ chức cho học sinh làm việc cặp đôi và đóng vai trò trong tình
huống, một bạn nêu, một bạn trả lời, cả lớp nhận xét bổ sung.
a. Ôi, bạn giỏi quá!
b. Ôi, bất ngờ quá, tớ cảm ơn bạn!
Tôi cho học sinh suy nghĩ tìm thêm các tình huống khác đặt câu cảm, nêu cá
nhận để các bạn nhận xét.
Ví dụ 2: Những câu cảm sau đây bộ lộ cảm xúc gì?
a. Ôi, bạn Minh đến kìa!
b. Ồ, bạn Lan thông minh quá!
c. Trời, thật là kinh khủng!
Theo tôi phần này tôi cho học sinh làm việc cá nhân:
- B1: Nhận xét ý nghĩa của câu cảm.
- B2: Tìm cảm xúc của mỗi câu.
- B3: Rút ra kết luận chung về câu cảm.
5. Mở rộng khắc sâu cách dùng trạng ngữ trong câu.
Dạng bài tập:
- Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho câu.
- Thêm trạng ngữ chỉ thời gian cho câu.
- Thêm trạng ngữ chỉ nguyên nhân cho câu.
- Thêm trạng ngữ chỉ mục đích cho câu.
- Thêm trạng ngữ chỉ phương tiện cho câu.
Ví dụ 1: Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho câu:
a................, em giúp bố mẹ làm những công việc gia đình

và nêu miệng trước lớp, theo tôi học sinh sẽ không khó khăn gì?.
Như vậy mức độ khó của bài tập khong phụ thuộc vào các loại, các dạng bài
tập mà phụ thuộc vào chính ngữ liệu đưa ra cho học sinh. Với các bài tập Luyện từ
và câu của học sinh lớp 4. Nhiều yêu cầu trong sách giáo khoa tôi cũng cần phân
tích cho nhiều đối tượng học sinh. Đối với học sinh khá, giỏi tôi thường gài thêm
hoạt động tiếp nối. Với học sinh trung bình, học sinh yếu chọn những ngữ liệu cụ
thể rõ ràng để học sinh dễ xác nhận.
Ví dụ: Với dạng bài mở rộng vốn từ ý chí – nghị lực.

14


Viết một đoạn văn ngắn nói về một người có ý chí, nghị lực nên đax vượt
qua nhiều thử thách, đạt được thành công.
Với học sinh khá, giỏi tôi cho học sinh phân tích yêu cầu đề bài sau đó viết
ngay vào nháp.
Với học sinh trung bình và yếu tôi hướng dẫn học sinh sử dụng các từ ngữ
thuộc chủ đề ý chí – nghị lực đã học để viết. Hỏi học sinh về người em định viết
(học sinh yếu tôi còn hỏi về người em định viết có những phẩm chất gì).
Quan tâm đến đối tượng học sinh trong giảng dạy chính là chú ý đến việc
nâng cao chất lượng học sinh giỏi để bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đại trà. Đó
là việc làm quan trọng và không thể thiếu trong quá trình giảng dạy.
Một điều tôi cũng rất quan tâm đó là việc trình bày của học sinh. Các em làm
bài có thể tốt nhưng cách trình bày bố cục bài làm của học sinh còn là cả một vấn
đề cần chấn chỉnh.
Trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và tích cực tìm tòi phương pháp tổ
chức cho học sinh làm các dạng bài tập Luyện từ và câu. Trải qua một học kỳ ôn
tập cùng thời gian áp dụng phương pháp nghiên cứu tôi đã tiến hành khảo sát để
xem sự chuyển biến của học sinh sau khi đã được hoạt động sôi nổi trong giờ luyện
từ và câu giải quyết các bài tập với lớp 4B do tôi chủ nhiệm.


Điểm dưới 5

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

15

50

8

26,7

7

23,3

câu.
+ Hoặc học sinh 1 nêu trạng ngữ.
Học sinh 2 nêu câu nối tiếp.
Nói tóm lại: Tuỳ theo nội dung từng bài học và từng loại bài tập, trong mỗi
tiết dạy luyện từ và câu, để làm giảm bớt sự căng thẳng, để lôi cuốn học sinh tích
cực tham gia hoạt động học. Chúng ta nên thiết kế những trò chơi học tập phù hợp ,
bổ ích và lý thú.
IV. KIỂM NGHIỆM:
Thực hiện đề tài này, khi học sinh đã được củng cố, khắc sâu, mở rộng và
rèn kĩ năng luyện tập thực hành về các dạng bài tập “Luyện từ và câu” lớp 4 tôi
thấy kết quả của việc làm đó như sau:
Điểm 9-10

Điểm 7-8

Điểm 5-6

Điểm dưới 5

SL

%

SL

%

SL

%


17


- Học sinh có ý thức rèn cách trình bày sạch sẽ, khoa học, biết dùng từ đặt
câu hợp lý. Ngoài ra học sinh còn có thêm thói quen kiểm tra, soát lại bài của mình.
- Qua việc giảng dạy theo dõi kết quả của học sinh qua các giờ kiểm tra, bài
kiểm tra định kỳ của học sinh tôi thấy: Học sinh sẵn sàng đón nhận môn “Luyện từ
và câu” bất kỳ lúc nào. Đó cũng nói lên học sinh đã bắt đầu yêu thích môn học,
mạnh dạn nêu ý kiến của mình.
- Tuy kết quả tôi nêu trên hết sức sơ lược và ở phạm vi nhỏ, song nó cũng
góp phần động viên tôi trong công tác giảng dạy học sinh nói chung, phát hiện bồi
dưỡng những học sinh khá, giỏi, phụ đạo học sinh yếu nói riêng. Bé nhỏ như vậy
nhưng vô cùng quan trọng đối với một giáo viên còn non nớt kinh nghiệm như tôi
trong việc tháo gỡ khó khăn, trong việc tìm ra phương pháp tổ chức dạy các dạng
bài tập “Luện từ và câu” cho học sinh của mình.
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.
I. KẾT LUẬN.
Từ việc nghiên cứu, tìm hiểu tổ chức thực hiện tôi rút ra bài học kinh nghiệm
như sau
- Để phát huy được điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu , hạn chế
củaviệc dạy và học Luyện từ và câu hiện nay , GV cần tìm hiểu nguyên nhân nào
dẫn đến việc học yếu phân môn này , từ đó có kế hoạch xây dựng PPDH phù hợp
với đối tượng học sinh đó đồng tời có PPDH thích hợp nhằm phát huy nhóm học
sinh tích cực
- Tham gia sinh hoạt chuyên môn đầy đủ trong tổ và đề xuất tổ thảo luận nội
dung " Hướng dẫn học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu."
Sinh hoạt chuyên môn là việc làm GV có thể trao đổi và học tập kinh nghiêm
tốt nhất , là cách tháo gỡ những thắc mắc trong vấn đề giảng dạy, là cách tạo ra
niềm tin vững vàng trong việc áp dụng PPDH , hình thức tổ chức dạy học phù hợp

hiệu quả hơn.
- Với những sáng kiến kinh nghiệm có tính thực tiễn, đề nghị các cấp quản lý
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH
nên tổ chức triển khai để giáo viên học tập, áp dụng trong giảng dạy.

HỌC TỐT PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn!./.

Thanh hóa, ngày 10 tháng 04 năm 2015

XÁC NHẬN

CAM KẾT KHÔNG COPY

CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Người thực hiện: Trương Thị Lâm
Chức vụ: Giáo viên
Trương Thị Lâm
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học -Thị Trấn- Nga Sơn
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Tiếng Việt

THANH HOÁ NĂM 2015
19


20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status